ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
KHOA ĐIỀU DƯỠNG
aêb
LỚP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG ĐA KHOA
HỆ VLVH . KHÓA: 2006 - 2010.
Đề tài:
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
NGÀY ĐẦU SAU SINH CỦA CÁC BÀ MẸ ĐẾN SINH
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG XUÂN- PHÚ YÊN
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS. BSCKII.Võ Thị Diệu Hiền Tô Thị Thùy Linh
HUẾ, 05/2010
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi con bằng sữa mẹ cung cấp sự khởi đầu tốt nhất cho cuộc đời của mỗi trẻ.
Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ đảm bảo cho trẻ phat triển tốt cả thể chất lẫn tinh thần.
Nuôi con bằng sữa mẹ là một chức năng thiên nhiên của người mẹ, vì lợi ích của
việc nuôi con bằng sữa mẹ người mẹ cần được sự ủng hộ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ
gia đình, xã hội và nơi làm việc của người mẹ đó.
Người điều dưỡng cần hiểu thấu đáo vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ mới hoàn
thành nhiệm vụ của mình với việc chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh. Sữa mẹ được khẳng
định là sữa tốt nhất vì cung cấp đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là sữa non trong những
ngày đầu sau đẻ. Sữa non mang nhiều kháng thể giúp trẻ chống lại bệnh nhiễm khuẩn,
giúp cho ruột trưởng thành tốt theo thời gian. Trong những ngày đầu mới sinh, sữa mẹ
là an toàn nhất cho hệ tiêu hóa của trẻ. Theo Kawer (Bang Lavesh) tại Hội nghị Nhi
khoa lần thứ 17 ở Manila ( Phi Luật Tân), trẻ bú sữa mẹ bị nhiễm trùng hô hấp, nhiễm
trùng tai ít hơn trẻ bú sữa bò 2 lần, tiêu chảy ít hơn 3 lần, viêm phổi hoặc suy dinh
dưỡng ít hơn 4 lần [2], [3], [6].
Cho con bú thời gian sớm nhất trong ngày đầu sau sinh bảo vệ sức khỏe cho bà
mẹ là hạn chế chảy máu sau sinh, giúp tử cung co hồi tốt, giảm tỷ lệ ung thư vú, ung
là một phương thức tự duy trì của nhân loại bằng nguồn dinh dưỡng hoàn hảo nhất,
phù hợp nhất, là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô tận mà tạo hóa đã ban tặng.
Theo thời gian cùng với sự phát triển của nền y học trên Thế giới từ năm 1930
đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của sữa mẹ, lợi ích
của việc nuôi con bằng sữa mẹ, tác dụng ưu việt nhất của việc tận dụng nguồn sữa non
ngày đầu của mẹ [14].
Từ lâu các bà mẹ Việt Nam đã nuôi con bằng sữa của chính mình nhưng cho đến
năm 1983 chương trình sữa mẹ mới chính thức ra đời tại Việt Nam. Cho đến nay đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu về sữa mẹ và tác dụng của sữa mẹ đối với đời sống của
trẻ sau này như [7], [8], [9].
1.2. THÀNH PHẦN VÀ TÍNH ƯU VIỆT CỦA SỮA MẸ ĐỐI VỚI TRẺ:
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ ngay trong ngày đầu sau sinh, sữa mẹ luôn là
thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ, ngay cả khi mẹ bị bệnh, gầy ốm thì
trong sữa mẹ vẫn có đủ những chất cần thiết như đạm, đường, mỡ, vitamin và muối
khoáng với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thu và phát triển của cơ thể trẻ. Trẻ bú mẹ sẽ lớn
nhanh và phòng được suy dinh dưỡng [8], [10], [11].
Chất đạm và chất béo trong sữa mẹ dễ hấp thu và tiêu hóa, có men Lipase giúp
tiêu hóa chất mỡ. Đường lactose trong sữa mẹ có nhiều hơn các loại sữa khác. Chất
sắt trong sữa mẹ dễ hấp thu nên bú sữa mẹ không thiếu máu do thiếu sắt. Sữa mẹ có
đầy đủ lượng nước cần thiết cho trẻ ngay cả khi trời nắng, nếu trẻ được bú mẹ hoàn
toàn thì không cần bổ sung thêm bất cứ loại thức uống nào khác. Sữa mẹ có đủ lượng
canxi và phosphat nên giúp trẻ phát triển tốt [8], [10], [11].
Thành phần sữa của các bà mẹ không như nhau: nó thay đổi theo thời gian từ đầu
bữa bú đến cuối bữa bú, nó cũng thay đổi giữa các bữa bú và có thể khác nhau vào các
4
giờ khác nhau trong ngày. Vì vậy cho trẻ bú sau sinh bao lâu, bú hoàn toàn hay không
hoàn toàn có tác dụng trực tiếp đến đời sống trẻ thời gian sau sinh [8], [10], [11].
Các loại sữa mẹ như sau:
+ Sữa non: có từ tháng thứ 4 của bào thai và tiếp tục trong 6 ngày đầu sau sinh.
+ Sữa chuyển tiếp: từ ngày thứ 7 - 14
SINH
Nuôi con bằng sữa mẹ sớm nhất trong ngày đầu sau sinh là cần thiết cho sức
khỏe và sự phát triển của trẻ, góp phần quan trọng giúp cho trẻ có cơ sở phát triển tốt
trong thời gian sau này.
Sữa mẹ có đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ.
Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất mà không có bất kỳ loại nước nào có thể có
được. Các chất dinh dưỡng của sữa mẹ đều dễ tiêu hóa nên trẻ ít bị rối loạn tiêu hóa,
tăng bài tiết phân su.
Bú mẹ chống lại nhiễm trùng, dị ứng như chống lại bệnh thấp tim, chống lại vi
khuẩn gây viêm màng não, chống thiếu máu. Bú mẹ còn tránh sụt cân cho trẻ, giảm
béo phì, giảm đau, chống loãng xương, giảm thoát vị bẹn.
Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ tiết kiệm được kinh phí và thời gian hơn khi dùng các
loại thức uống khác ngoài sữa mẹ. Nuôi con bằng sữa mẹ bảo vệ sức khỏe bà mẹ giảm
nguy cơ ung thư buồng trứng, ung thư vú…, giúp tử cung mẹ co hồi nhanh, giảm nguy
cơ chảy máu sau sinh. Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4-6 tháng đầu sau sinh
cũng là biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn thì trí
thông minh của trẻ đó được phát triển tốt. Đối với những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp
khi được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ tốt ngay từ ngày đầu sau sinh thì những trắc nghiệm
về trí thông minh của trẻ đó sau này sẽ tốt hơn nhiều so với trẻ nuôi bằng sữa nhân tạo
hay uống các loại nước pha chế khác ngoài sữa mẹ.
Trẻ được bú mẹ sớm hơn trong ngày đầu sau sinh sẽ tận dụng được nguồn sữa
non sẵn có trong cơ thể mẹ, sẽ giúp cho trẻ có có sức đề kháng tốt, phòng chống bệnh
tật và miễn dịch tốt sau này đối với các bệnh nhiễm khuẩn thông thường và giúp trẻ
phát triển tốt hơn về thể chất lẫn tinh thần.
1.4. NHỮNG NGUY HIỂM TRONG VIỆC CHO TRẺ UỐNG THÊM NƯỚC
KHÁC NGOÀI SỮA MẸ Ở NGÀY ĐẦU SAU SINH
Những nguy hiểm thường được đề cập đến; dễ tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp,
tiêu chảy kéo dài, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin, dễ dị ứng và không dung nạp sữa,
tăng nguy cơ mắc một số bệnh mạn tính, tăng cân quá mức, điểm trắc nghiệm chỉ số
thông minh thấp, tăng nguy cơ thiếu máu, ung thư vú và buồng trứng, có thể có thai
cho trẻ ăn bằng thìa. Động viên, kiên trì cho con bú [4].
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng và địa điểm
40 bà mẹ đến sinh tại khoa Sản Bệnh viện Đa khoa Đồng Xuân - Phú Yên.
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn
+ 40 bà mẹ sinh thường, đủ tháng trong đó tuổi thai được tính theo: ngày đầu tiên
kỳ kinh cuối cùng đến ngày sinh đạt từ 259 - 293 ngày ( 38 - 42 tuần).
+ Tất cả các bà mẹ sau sinh ngày đầu tiên. Hậu sản bình thường.
+ Trạng thái tinh thần tỉnh táo, hiểu và trả lời được bộ câu hỏi phỏng vấn.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 04 tháng 5 đến ngày 15 tháng 5 năm 2010.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
+ Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
+ Điều tra bằng cách hỏi qua bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp.
2.2.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu
Cỡ mẫu : chọn 40 bà mẹ đến sinh (đẻ thường + mổ đẻ)
2.2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu
Bước 1: In bộ câu hỏi (được cô giáo hướng dẫn. ThS. BSCKII. Võ Thị Diệu Hiền
thống nhất ) gồm: Các thông tin chung và kiến thức nuôi con của các bà mẹ.
Bước 2:
+ Sinh viên làm đề tài trình qua Ban Giám đốc và Trưởng khoa Sản Bệnh viện
Đa khoa Đồng Xuân - Phú Yên.
+ Tiếp xúc với các bà mẹ sau sinh ngày đầu, nói chuyện, phỏng vấn bà mẹ theo
bộ câu hỏi và trực tiếp ghi vào phiếu điều tra.
* Những kỹ năng quan trọng nhất là: Thiết lập mối quan hệ, lắng nghe, thăm hỏi
và giải thích.
3.2. TỶ LỆ CHO BÚ MẸ HOÀN TOÀN NGÀY ĐẦU SAU SINH THEO TUỔI,
NGHỀ NGHIỆP, TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA MẸ
3.2.1 Theo tuổi mẹ
Bảng 3.1 Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh theo tuổi mẹ
Bú mẹ
hoàn toàn
<18t 18-25t 26-35t 36-40t >40t Tổng cộng
n % n % n % n % n % n %
Có 1 50 8
44,4
10 62,5 2 100 1 50 22 55
Không 1 50 10 55,6 6 37,5 0 0 1 50 18 45
Tổng cộng 2 100 18 100 16 100 2 100 2 100 40 100
Nhận xét: - 55% Bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh.
- 45% không bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh.
3.2.2 Theo nghề nhiệp mẹ
Bảng 3.2 Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh theo nghề nghiệp mẹ
Bú mẹ Nông CBCC Nội trợ Khác (BB, TTC) Tổng cộng
n % n % n % n % n %
Có 5 31,25 8 80 4 66,7 5 62,5 22 55
Không 11 68,75 2 20 2 33,3 3 37,5 18 45
TC 16 100 10 100 06 100 08 100 40 100
Nhận xét: - 80% trẻ bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh đối với bà mẹ là CBCC.
- 31,25% trẻ được bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh đối với các bà
mẹ làm nghề nông.
3.2.3 Theo trình độ văn hóa mẹ
Bảng 3.3 Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh theo trình độ văn hóa mẹ
Bú mẹ
hoàn toàn
Mù chữ Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 CĐ + ĐH Tổng cộng
n % n % n % n % N %
Mật ong 1 50 1 33,3 2 11,1
Cam thảo chưng 3 27,3 1 50 2 66,7 6 33,3
Nước đun sôi
để nguội
8 72,7 1 50 1 50 10 55,6
Tổng cộng 11 100 2 100 2 100 3 100 18 100
Nhận xét: - 72,7% bà mẹ nghề nông cho con uống nước đun sôi để nguội.
- 66,7% bà mẹ làm nghề buôn bán, tiểu thủ công cho con uống nước
cam thảo chưng.
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
4.1.1. Nhóm tuổi mẹ
Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy sự phân bố mẫu nghiên cứu theo nhóm tuổi của mẹ,
trong đó:
11
- Tuổi mẹ trong nhóm tuổi 18 -25 chiếm tỷ lệ 45%
- Tuổi mẹ trong nhóm tuổi 26 -35 chiếm tỷ lệ 40%
- 3 nhóm tuổi còn lại bằng nhau chiếm tỷ lệ 5%/ nhóm
Có sự khác biệt tỷ lệ giữa các nhóm tuổi
Có 85% bà mẹ nằm trong độ tuổi sinh đẻ, điều này phù hợp với đặc điểm sức
khỏe sinh sản của Việt Nam. Nhóm tuổi > 35 ít chiếm 10% thấp hơn với Nguyễn Ngọc
Kỳ (2000), [6].
Như vậy để tuyên truyên giáo dục về những lợi ích của vấn đề nuôi con bằng sữa
mẹ cần tập trung vào độ tuổi phụ nữ từ 18 – 35 tuổi.
4.1.2. Nhóm nghề nghiệp mẹ
Kết quả biểu 3.2 sự phân bố mẫu nghiên cứu theo nghề nghiệp mẹ trong đó:
- Nghề nghiệp của bà mẹ nghề nông chiếm tỷ lệ cao nhất 40%
- CBCNV đứng hàng thứ 2 chiếm 25%
- Tỷ lệ cho bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh của CBCNV cao nhất chiếm
80%, có 31,25% bà mẹ làm nghề nông cho trẻ bú hoàn toàn ngày đầu sau sinh. Điều
này có thể giải thích là các bà mẹ làm cán bộ công chức có hiểu biết về giá trị của sữa
mẹ đặc biệt là sữa non hơn các bà mẹ lao động chân tay, buôn bán, nội trợ
Đối với những bà mẹ lao động chân tay khả năng nhận thức chậm, điều kiện tiếp
thu kiến thức mới hạn chế, ảnh hưởng của tập quán cũ còn nặng như “sữa non là sữa
sống” muốn cho con bú sau sinh phải bóp cho chín sữa bằng cách lấy men rượu hòa
với nước thoa lên 2 bầu vú khoảng 4-5 giờ rửa sạch vú mới cho con bú
Như vậy, đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thông, chăm sóc sức khỏe và nuôi
con bằng sữa mẹ là vấn đề Đảng và nhà nước cùng ngành y tế chúng ta phải quan tâm,
nhằm mục đích đem lại kiến thức nuôi con tốt nhất cho các bà mẹ không làm cán bộ
nhà nước.
Tất cả mọi trẻ em khi ra đời được thừa hưởng giá trị nguồn sữa mẹ như nhau,
đem lại năng lượng cần thiết phát triển về thể chất lẫn tinh thần sau này. Muốn cải
thiện nhận thức và hiểu biệt của bà mẹ cần tập tring tuyên truyền, giáo dục lợi ích của
sữa mẹ đặc biệt sữa non của nhóm phụ nữ mang thai làm lao động tay chân, buôn bán
hoặc các nghề khác, để các bà mẹ lao động tay chân có ít trình độ, ít hiểu biết, nhận
thức được nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong những ngày đầu là tốt nhất.
4.2.3. Theo trình độ văn hóa mẹ
- Tỷ lệ cho bú mẹ hoàn toàn trong ngày đầu của các bà mẹ có trình độ văn hóa từ
cấp III trở lên chiểm ưu thế, cao nhất CĐ- ĐH tỷ lệ 100%.
13
- Tỷ lệ cho bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh của các bà mẹ có trình độ văn hóa
cấp I là 37,5%.
Như vậy, có thể nói, mẹ có trình độ học vấn càng cao càng có ý thức cho con bú
mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh vì họ hiểu được giá trị của sữa non đối với sức khỏe
của con mình. Để cải thiện tỷ lệ cho con bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh cần tập
trung tuyên truyền giáo dục các nhóm bà mẹ có trình độ học vấn cấp I, cấp II. Làm
được như vậy chúng ta sẽ cải thiện được hành vi cho con bú thêm sữa pha ngày đầu
sau sinh.
sinh.
66,7% bà mẹ làm nghề buôn bán, tiểu thủ công cho con uống nước cam thảo
chưng ngày đầu sau sinh.
Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh 74,2% bà mẹ cho trẻ uống nước cam thảo
vị ngọt sau sịnh,. Tỷ lệ này cao hơn ở Yên Dũng, tỉnh Hà Bắc ( 1991) có 80 -88 % trẻ
sơ sinh được cho uống nước đường trong vòng 24 giờ đầu sau sinh [13]. Đây có thể là
tập quán trong cộng đồng thường cho trẻ uống các loại nước bổ sung hoặc thay thế
như: nước mật ong, nước đun sôi để nguội, nước cam thảo chưng do các bà mẹ quan
niệm rằng các loại nước đó làm cho đàm giải, chất tiết của trẻ nhanh chóng bị đẩy ra
ngoài hoặc giúp trẻ khỏi khô miệng, tăng thêm dinh dưỡng cho trẻ. Đây là hiểu biết sai
lệch về kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ. Một phần do giáo dục sức khỏe đến các bà
mẹ chưa được tốt của ngành y tế. Một phần do các bà mẹ có thói quen, tập quán ăn sâu
trong suy nghĩ. Họ cho rằng sau khi đổ một thìa nước đun sôi để nguội khi trẻ bú xong
làm sạch sữa trong miệng trẻ làm cho bà mẹ cảm thấy an tâm hơn. Hơn nữa việc phải
bú mẹ hoàn toàn không cho bất kỳ loại thức ăn, nước uống nào khác ngoài sữa mẹ thật
khó khi mà bà mẹ chưa hiểu biết đày đủ về lợi ích của sữa mẹ [4].
CHƯƠNG 5
KẾT LUẬN
15
Qua điều tra 40 bà mẹ đến sinh tại khoa Sản Bệnh viện Đa khoa Đồng Xuân -Phú
Yên để tìm hiểu tình hình nuôi dưỡng trẻ ngày đầu sau sinh, tôi rút ra được những kết
luận sau:
1. Tỷ lệ cho bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh theo tuổi.nghề nghiệp, trình độ
văn hóa mẹ:
* Theo tuổi mẹ:
- 55% bà mẹ < 18 tuổi cho trẻ bú mệ hoàn toàn sau sinh
- 62,5% bà mẹ 26-30 tuổi cho trẻ bú mệ hoàn toàn sau sinh
- 100% bà mẹ > 40 tuổi cho trẻ bú mệ hoàn toàn sau sinh
* Theo nghề nghiệp mẹ:
- Tỷ lệ cho bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh cao nhất ở nhóm CBCNV (80%).
- Hướng dẫn cho các bà mẹ cho bú sớm ngay sau sinh (sau sinh 30 phút, sau mổ
3 giờ).
2. Đối với bệnh viện:
- Tăng cường công tác tư vấn, giáo dục và hướng dẫn kiến thức về việc nuôi con
bằng sữa mẹ cho các thai phụ đến khám thai và các sản phụ đến sinh.
- Điều dưỡng hướng dẫn cho mẹ và người nhà cho trẻ bú lần đầu tiên trong vòng
nửa giờ sau sinh và không cho trẻ uống thức uống nào khác ngoài sữa mẹ…
3. Đối với Sở y tế:
- Triển khai lồng ghép chương trình bú mẹ vào chương trình y tế Quốc gia khác.
- Tổ chức tập huấn cho các đối tượng trực tiếp tại xã phường.
- Tổ chức hội thi tuyên truyền viên giỏi cấp xã phường .
TÀI LIỆU THAM KHẢO
17
1. Ngô Thanh Cảnh- Nguyễn Thị Diễm Thu (1997), “Ảnh hưởng của sữa mẹ đến
sự phát triển của trẻ, kỷ yếu công trình Nhi khoa, tr 287-291.
2. Bùi An Bình (1997), “ Tìm hiểu phong tục tập quán vệ sinh mẹ con, nuôi
dưỡng trẻ trong thời kỳ phong long (3 tháng sau sinh), và ảnh hưởng của quán này
đến bệnh lý trẻ”, Tạp chí khoa học thực hành tr. 169.
3. Nguyễn Hoàng Châu- Nguyễn Thị lợi (1997), “ Điều tra thực trạng hiểu biết
nuôi con bằng sữa mẹ tại cộng đồng ở Quảng Nam – Đà nẵng”, Tạp chí Y học thực
hành, tr. 181-186.
4. Nguyễn Anh Dũng (2003),” Các hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ” tham vấn cho bà
mẹ, quyển 5, NXB Giao thông vận tải, tr. 3-7.
5 Giá trị của sữa mẹ trong việc phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp đường tở trẻ
em, Tài liệu chương trình ARI.
6. Nguyễn Ngọc Kỳ, Trương Văn Kiểm(2000), Tìm hiểu kiế thức về việc nuôi
con Bằng sữa mẹ của các bà mẹ đến sinh tại nhà hộ sinh khu vực III tại TP Huế , Luận
văn tốt nghiệp Bác sĩ y khoa.
7. Nguyễn Phạm Minh Nguyệt(1997).” Tìm hiểu tập quán nuôi con của các bà
mẹ ở Quảng Ngãi “, Kỉ yếu công trình Nhi khoa, tr.217-219.
II - KIẾN THỨC NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
1. Theo chị thời gian bắt đầu cho trẻ bú sau sinh:
< 1 giờ □ 1-2 giờ □ 2-12 giờ □ 12-24 giờ □
2. Cho bú hoàn toàn sữa mẹ, không cho thêm bất cứ thức uống nào khác:
Có □ Không □
3. Loại nước uống gì chị cho trẻ uống sau sinh
Có □ Không □
Nếu có loại nước gì: Mật ong □ Cam thảo chưng □ Nước sôi để nguội □
4. Thời điểm cho uống các loại nước này:
Trước lần cho bú đầu tiên □ Sau lần cho bú đầu tiên □
5. Lý do chị cho trẻ uống nước này:………………………………………………
6. Chị có pha sữa hộp cho trẻ uống: Có □ Không □
Nếu cho uống sữ pha , cho uống vào giờ nào:
< 1 giờ □ 1-2 giờ □ 2-12 giờ □ 12-24 giờ □
7. Lý do chi cho uống thêm sữa pha; ……………………………………… …
8. Những kiến thức nôi con bằng sữa mẹ có được ở các bà mẹ;
- Từ kinh nghiệm gia đinh □ Qua phương tiện thông tin đại chúng □
- Cán bộ Y tế □ Khác( sách, báo , tranh ) □
Đồng Xuân, ngày tháng năm 2010
Người điều tra
19
Trong quá trình học tập và thực hiện tiểu luận này, em luôn nhận được
sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ dẫn tận tình của các thầy cô giáo. Lời đầu tiên em
xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Ban Giám hiệu - Phòng Đào Tạo trường Đại học Y - Dược Huế
- Quý Thầy Cô thuộc khoa Điều dưỡng trường Đại học Y - Dược Huế
- Thư viện trường Đại học Y - Dược Huế
- Thạc só. BSCKII. Võ Thò Diệu Hiền, người đã trực tiếp hướng dẫn
giúp đỡ em với tất cả lòng nhiệt tình.
- Ban Giám đốc - Tập thể cán bộ khoa Sản Bệnh viện ĐK Đồng Xuân -
sau sinh theo tuổi, nghề nghiệp me 10
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 11
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 11
4.2 Tỷ lệ cho bú mẹ hoàn toàn ngày đầu sau sinh theo tuổi, nghề nghiệp, trình độ
văn hóa me 12
4.3 Tỷ lệ các bà mẹ cho con uống các lọai nước uống khác ngoài sữa mẹ ngày đầu
sau sinh theo tuổi, nghề nghiệp mẹ 13
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 15
KIẾN NGHỊ 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
21