Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
Sinh viên :Vũ Tam Đăng
Lớp :TM47A
Khoa : Thương mại và kinh tế quốc tế
Giảng viên hướng dẫn : Ths. Đinh Lê Hải Hà
Tên đề tài : Hoàn Thiện hoạt động marketing của công ty viễn thông Viettel
(Viettel telecom)- Tổng công ty viễn thông quân đội
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay và trong tương lai, điện thoại sẽ trở thành một trong những sản
phẩm không thể thiếu của mỗi người. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhu
cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông ngày càng tăng cả về số lượng và chất
lượng. Trên thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông đang diễn ra hoạt động cạnh
tranh khốc liệt giữa các mạng viễn thông. Tính chất quyết định của cạnh tranh
ngày càng tăng lên khi khả năng cung cấp của các doanh nghiệp kinh doanh
mạng viễn thông đã vượt rất xa nhu cầu về mạng điện thoại của người tiêu dùng.
Vậy vấn đề sống còn quyết định hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này là
khả năng cạnh tranh. Doanh nghiệp nào thắng lợi trong cạnh tranh thì doanh
nghiệp đó sẽ thành công trên thị trường. Về phần mình khả năng cạnh tranh lại
phụ thuộc vào chất lượng hoạt động marketing của doanh nghiệp, vì lẽ đó tất cả
các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường này đều tìm đủ mọi cách khai thác
tối đa các nguồn lực để tăng cường chất lượng hoạt động marketing. Mục tiêu
sống còn của doanh nghiệp trong hoạt động marketing là tăng số lượng bán,
chiếm lĩnh tỷ phần thị trường cao hơn và đặc biệt là nâng cao hình ảnh và uy tín
với khách hàng.
Công ty viễn thông Viettel là công ty kinh doanh dịch vụ viễn thông, Công
ty có một tỷ phần thị trường lớn đã gặt hái được nhiều thành công trong hoạt
1
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
động kinh doanh dịch vụ viễn thông trên thị trường. Tuy nhiên dưới áp lực của
cạnh tranh, để duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường, Công ty luôn
Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing của công ty viễn thông
Viettel- Tổng công ty viễn thông quân đội.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing của công
ty viễn thông Viettel – tổng công ty viễn thông Quân đôi.
3
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG
MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH
DỊCH VỤ VIỄN THÔNG.
1.1: Khái niệm và vai trò của hoạt động marketing của doanh nghiệp kinh
doanh dịch vu viễn thông.
1.1.1: Khái niệm marketing trong hoạt động của doanh nghiệp:
Marketing là hoạt động thị trường phục vụ cho sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp. Khi kinh tế thị trường phát triển mạnh, quy luật giá trị và giá
trị thặng dư phát huy tới cực điểm, trong kinh doanh cạnh tranh gay gắt, nhiều
vấn đề kinh tế xã hội xuất hiện làm cho cạnh tranh trở nên tàn khốc hơn. Do đó
vấn đề đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh đước đặt ra đối với marketing và
marketing đã bao hàm các hoạt động thị trường và ngoài thị trường và phải giải
quyết hàng loạt vấn đề mang tính hệ thống. Nó vừa có ý nghĩa với doanh nghiệp
và ý nghĩa đối với xã hội.
Marketing là phương pháp quản lý của các nhà doanh nghiệp. Phương
pháp quản lý này ngày càng phát huy tác dụng và mang lại kết quả rất to lớn.
Người ta vận dụng marketing sang các lĩnh vực khác ngoài kinh doanh như:
marketing môi trường, marketing chính trị, marketing hàng hóa công cộng phi
lợi nhuận… Vì vậy khái niệm marketing cần được mở rộng cho thích hợp với
tình hình thực tế hiện nay:
Marketing là phương pháp tổ chức quản lý bằng quá trình thích nghi nội
dung lý thuyết hệ thống với các quy luật thuộc các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tự
nhiên… nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của các thành viên tham gia,
đồng thời thực hiện những mục tiêu đã xác định phù hợp với tiến trình phát triển
dịch vụ thông suốt tổ chức, theo dõi sự thỏa mãn của khách hàng qua hệ thống
5
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
góp ý và khiếu nại, các nghiên cứu khảo sát khách hàng và so sánh việc mua
hàng.
- Tính dễ bị diệt vong: Dịch vụ viễn thông không thể lưu trữ khi cầu về
dịch vụ thay đổi (giảm xuống) hoặc để cung cấp vào thời điểm khác cho khách
hàng nếu cung không đáp ứng được cầu, suy ra viễn thông phải có các biện pháp
để cân bằng cung cầu như chuyển bớt lượng khách hàng sử dụng dịch vụ vào
các giờ không cao điểm qua các biện pháp như giảm giá dịch vụ vào giờ không
cao điểm…
1.2: Vai trò của hoạt động marketing đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ viễn thông.
- Marketing làm cho sản phẩm thích ứng với thị trường: Thông qua hoạt
động marketing ta có thể nắm bắt được nhu cầu của thị trường thể hiện thông
qua yêu cầu của sản phẩm (tên gọi của dịch vụ viễn thông, thông tin về kỹ
thuật ), từ đó phải thiết kế đáp ứng được nhu cầu của thị trường để thực hiện các
hoạt động mua bán, phát triển thị trường.
- Marketing giúp lựa chọn, thực hiện phân phối: Đưa dịch vụ viễn thông
đến đúng khách hàng, vào đúng thời điểm với chi phí hợp lý nhất. Marketing
thực hiện nhiệm vụ: xây dựng cơ sở hạ tầng mạng viễn thông, tổ chức công tác
bán hàng, làm công tác sau bán hàng…
- Marketing thực hiện chức năng xúc tiến bán sản phẩm: thông qua các
hoạt động quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, tại trợ, tự thiên… các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ viễn thông có thể đánh bóng thương hiệu, đưa thông tin tới
khách hàng và tạo niềm tin… Do vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
bán hàng.
1.3: Nội dung các chính sách marketing của doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ viễn thông:
1.3.1: Chính sách nghiên cứu thị trường dịch vụ viễn thông.
càng chú trọng vào xu thế cạnh tranh này vì nó bền vững và tạo được
7
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
nhiều khách hàng trung thành. Do nhu cầu của khách hàng ngày càng cao,
do vậy khách hàng không chỉ đòi hỏi mức giá thấp mà còn đòi hỏi ngày
càng cao về chất lượng của dịch vụ mà mình sử dụng, do vậy để giữ và lôi
kéo thêm khách hàng thì nhà cung cấp phải chú trọng tới chất lượng dịch
vụ.
+ Cạnh tranh thông qua hoạt động xúc tiễn hỗn hợp: xây dựng
quảng bá thương hiệu, quảng cáo, tài trợ, từ thiện… nhằm đưa thông tin
về sản phẩm dịch vụ tới khách hàng và khuếch trương thương hiệu.
- Nôi dung phân tích cạnh tranh:
+ Nhận diện đầy đủ đối thủ cạnh tranh trên thị trường, đối thủ trực
tiếp, tiềm ẩn…
+ Phân tích điểm mạnh, điểm yếu từng đối tác cạnh tranh, cơ hội và
nguy cơ… để từ đó đưa ra các chính sách marketing phù hợp với từng
thời điểm, tận dụng mọi cơ hội đê phát huy các điểm mạnh và hạn chế các
nguy cơ có thể sảy ra.
1.3.2: Chính sách marketing hỗn hợp của dịch vụ viễn thông.
Maketing hỗn hợp là tập hợp những công cụ maketing mà công ty sử
dụng theo đuổi những mục tiêu maketing trên thị trường mục tiêu. Trong
maketing hỗn hợp có hàng chục công cụ khác nhau nhưng ở đây ta đưa ra 4
công cụ chủ yếu là: sản phẩm (product), giá cả (price), phân phối (place),
xúc tiễn hỗn hợp (promoction). Maketing hỗn hợp của công ty tại một thời
điểm tương đối với một sản phẩm dịch vụ cụ thể có thể được biểu diễn bằng
sơ đồ 4P sau:
8
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
Hình 1.3.2.1: Sơ đồ biểu diễn marketing hỗn hợp:
Trong thời kỳ hiện nay, hoạt động marketing trong các doanh nghiệp
Kích thích tiêu thụ
Quảng cáo
Lực lượng bán hàng
Quan hệ với công chúng
Marketing trực tiếp
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
Những người làm marketing thông qua các quyết định và kế hoạch
phân bổ kinh phí marketing để đưa ra một chương trình chiến lược
marketing hỗn hợp cụ thể.
1.3.2.1 Chiến lược sản phẩm:
+ Sản phẩm viễn thông là quá trình hoạt động bao gồm nhiều công đoạn,
nhiều yếu tố nhằm giải quyết mối quan hệ giữa nhà cung cấp với khách hàng mà
không có sự chuyển dịch quyền sở hữu (thông tin của khách hàng, nội dung đàm
thoại …).
+ Các nhà quản trị marketing xem xét sản phẩm dịch vụ dưới hai mức độ
là dịch vụ cốt lõi và các dịch vụ bổ sung. Dịch vụ cốt lõi là các dịch vụ cơ bản,
dịch vụ chủ yếu mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường thỏa mãn một nhu
cầu nhất định vì nó mang lại một loại giá trị lợi ích cụ thể… Dịch vụ bao quanh
là những dịch vụ phụ, thứ sinh, nó tạo ra những giá trị phụ thêm cho khách hàng
có sự cảm nhận tốt hơn về dịch vụ cốt lõi.
+ Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông thì dịch vụ cốt lõi là đàm
thoại, các dịch vụ bổ sung như: gửi tin nhắn, GPRS, nhạc chờ, cuộc gọi nhỡ,
chuyển tiền… các nhà quản trị marketing sử dụng công cụ sản phẩm dựa trên
một số chính sách sau:
- Quyết định về dịch vụ sơ đẳng: Công ty phải quyết định cung ứng cho
thị trường một cấu trúc dịch vụ cơ bản, dịch vụ bổ sung đạt đến một mức độ nào
đó, từ đó chi phối tới mức lợi ích mà khách hàng nhận được tương ứng với
những chi phí thanh toán.
- Quyết định về dịch vụ tổng thể: cần xem xét lợi ích tổng thể mà hệ
thống dịch vụ mang lại, đồng thời so sánh nó với lợi ích mà hệ thống dịch vụ
- Hiện trạng nền kinh tế.
- Khả năng cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp.
11
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
Trong các yếu tố trên có những vấn đề ảnh huởng trực tiếp tới các quyết
định về giá của các thành viên tham gia thị trường dịch vụ: nhu cầu, chi phí,
cạnh tranh.
+ Một số phương pháp định giá áp dụng hiện nay là: Nhu cầu, chi phí, giá
và chi phí của các hãng cạnh tranh cùng những nhân tố liên quan khác là những
căn cứ của việc cân nhắc, xem xét trong việc định giá và qua đó lựa chọn
phương pháp định giá cho thích hợp. Chúng ta có thể tham khảo một số phương
pháp sau:
- Định giá trọn gói dịch vụ: đó là tận dụng chi phí cố định, tăng hiệu quả
của chi phí đầu tư nên hoạt động nhiều loại dịch vụ kết hợp, các dịch vụ có thể
san sẻ chi phí chung cho nhau. Dịch vụ tác động lẫn nhau trong cung ứng và tiêu
dùng phổ biến là dịch vụ trọn gói.
- Định giá kiểm soát nhu cầu: Để thực hiện phương pháp định giá này, các
hãng dịch vụ đứng trước rất nhiều vấn đề như: quản lý nguồn lực, kỹ năng dịch
vụ, trình độ quản lý… Nhu cầu dịch vụ rất khó dự đoán và thường thay đổi đột
ngột. Do vậy doanh nghiệp cần nắm được các thời điểm nhu cầu khác nhau.
- Định giá bằng chi phí cộng thêm.
- Định giá thông qua phân tích hoà vốn và lợi nhiận mục tiêu.
- Định giá dựa trên người mua.
- Định giá dựa trên cạnh tranh.
- Định giá đấu thầu.
1.3.2.3 Chiến lược phân phối.
+ Khái niệm phân phối:
- Phân phối là cách thức dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp
(sản xuất) tới người tiêu dùng cuối cùng.
12
Đại lýcấp 1 Đại lý cấp 2
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
+ Những quyết định trong phân phối dịch vụ: Để có được hệ thống phân
phối hiệu quả, doanh nghiệp phải căn cứ vào dịch vụ cụ thể của mình cung ứng
đồng thời căn cứ vào yêu cầu thực tế mà thị trường đòi hỏi. Trên cơ sở đó doanh
nghiệp phải giải quyết một số vấn đề:
- Lựa chọn kiểu loại kênh phân phối thích hợp.
- Số lượng trung gian và tổ chức trung gian
- Điều kiện hạ tầng.
- Sự phân bổ của những chức năng giá trị gia tăng theo các thành viên.
- Quyết định về sự liên kết giữa các thành viên trong kênh.
- Hình thành hệ thống kênh cho các dịch vụ doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện phân phối có thể ứng dụng kĩ thuật hoặc sự hỗ
trợ của hàng hoá hiện hữu làm cho dịch vụ tới thị trường khách hàng thuận tiện
hơn. Sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật cũng làm thay đổi vị trí của dịch vụ, làm
cho dịch vụ khác trước. Những kênh phân phối dịch vụ thường là những người
cung cấp dịch vụ. Nên chọn hệ thống phân phối đặc quyền, việc xác định đặc
quyền gắn liền với chất lượng dịch vụ.
1.3.2.4 Chiến lược xúc tiến hỗn hợp.
a. Quảng cáo:
Là một trong những hoạt động chính trong các chính sách giao tiếp
khuếch trương mang tính phổ biến mà các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng. Chức
năng quảng cáo trong dịch vụ là xác định thông tin về dịch vụ, phát triển khái
niệm về dịch vụ, nhận thức tốt hơn về dịch vụ và số lượng dịch vụ, hình ảnh của
dịch vụ, mức độ mong đợi và thuyết phục khách hàng.
Do đặc điểm không hiện hữu của dịch vụ đã mang lại nhiều khó khăn cho
hoạt động quảng cáo. Quảng cáo không trực tiếp vào dịch vụ nên phải tập chung
14
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
vào các đầu mối hữu hình, vào các dấu hiệu vật chất nhằm giúp đối tượng nhận
Khuyến mại là hoạt động người bán tác động đến lợi ích kinh tế của
khách hàng nhằm kích thích tới khách hàng làm tăng nhanh nhu cầu về dịch vụ
tại chỗ tức thì.
Các chương trình khuyến mại chủ yếu tập chung vào ba đối tượng:
* Khách hàng: Khuyến khích khách hàng tiêu thụ nhiều hơn sản phẩm
dịch vụ của công ty bằng việc tạo ra nhiều lợi ích phụ thêm như: giải thưởng,
cộng tiền vào tài khoản, tặng ngày sử dụng
* Lực lượng trung gian: khuyến khích lực lượng này tham gia phân phối
nhiều dịch vụ hơn, nhất là đối với các dịch vụ mới, bằng cách thực hiện chiết
khấu chức năng cao hơn, phối hợp với quảng cỏo
* Nhân viên cung ứng: Tăng cường các phần thưởng (tăng lương, bậc,
cho di du lịch ) giải thưởng cho những người cung ứng giỏi, thúc đẩy họ nâng
cao hiệu suất bán hàng hơn nữa.
Để tổ chức được hoạt động khuyến mại, khi lập chương trinh cần thực
hiện theo các bước:
+ Quyết định mục tiêu của khuyến mại, những yếu tố thông tin và các
thành phần marketing hỗn hợp.
+ Quyết định sự cân đối các hoạt động khuyến mại giữa khách hàng,
trung gian và nhân viên cung ứng dịch vụ.
+ Quyết định các cụng cụ khuyến mại được sử dụng.
16
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
+ Quyết định những nội dung quản trị của chương trình khuyến mại gồm
các vấn đề:
- Xác định khối lượng cần tiêu thụ.
- Thiết lập các điều kiện kiểm tra.
- Quyết định thời gian khuyến mại.
- Chọn phương thức phân phối.
- Lịch trình hoạt động khuyến mại.
- Ngân sách dành cho khuyến mại.
- Tiếp xúc (Họp báo, hội nghị khách hàng)
- Lắng nghe (khách hàng nói về sản phẩm)
- Trao đổi, truyền đạt (về ảnh hưởng sản phẩm với người tiêu dùng, )
- Tạo lập hình ảnh và ấn tượng (tài trợ học bổng cho sinh viên, tổ chức
cuộc thi cúp truyền hình, )
18
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
- Các hoạt động hướng về công chúng được doanh nghiệp qui họach theo
từng thời điểm: có thể rộng hay hẹp với các đối tượng.
Hơn thế nữa PR còn là một trong những công cụ hỗ trợ bán hàng hữu hiệu
đối với tất cả các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân. Những người muốn tạo ra
một tầm ảnh hưởng nhất định của mình đối với những đối tượng nhất định. Tuỳ
vào mục đích của mình và đối tượng mà mình muốn tác động, các tổ chức hoặc
cá nhân này sẽ có những cách thức và hình thức tiếp cận khác nhau: có thể tích
cực tham gia vào các hoạt động xã hội như các hoạt động từ thiện, chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng do các tổ chức hoạt động nhằm mục đích xã hội tổ chức nhằm
tạo ra hình ảnh một tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm với công đồng; Tất cả
những hình thức đó nhằm tạo ra một hình ảnh đẹp, nổi bất và rộng khắp về bản
thân tổ chức hoặc cá nhân với mong muốn thông qua những hình ảnh được đánh
bóng đó, công chúng sẽ trở nên gần gũi và dành nhiều thiện cảm, quan tâm hơn
tới họ.
1.3.3: Tổ chức công tác marketing.
Để xây dựng chiến lược, xây dựng các chính sách công cụ marketing và
tổ chức thực hiện marketing trong doanh nghiệp dịch vụ, việc hình thành cơ
quan chức năng marketing và thiết lập cơ chế định hướng kinh doanh theo
marketing là cực kỳ quan trọng quyết định sự thành công.
Tổ chức marketing trong công ty dịch vụ có vị trí đặc biệt quan trọng đối
với sự thành công hay không thành công của hoạt động marketing trong công ty.
Tổ chức cơ quan marketing dich vụ ban đầu thường áp dụng mô hình truyền
thống của hàng hóa hiện hữu. Mô hình này mau chóng bộc lộ những bất cập do
1.4.1 Những loại hình marketing.
Quá trình sản xuất cung ứng dịch vụ phải có sự phối hợp nhiều bộ phận
trong doanh nghiệp để tạo ra dịch vụ cho khách hàng, trong đó bộ phận giao
dịch dịch vụ là mắt cuối cùng, rất quan trọng, bộ phận này sẽ giao tiếp trực tiếp
20
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
với khách hàng, tạo ra lợi ích cho khách hàng, còn khách hàng chủ động nhận
thức và thực hiện tiêu dùng dịch vụ. Do thị trường luôn thay đổi, đòi hỏi các
hoạt động marketing một mặt phải giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ phát
sinh giữa các yếu tố tham gia hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ, mặt khác
cần phải thích nghi các yếu tố bên trong doanh nghiệp với những thay đổi của
môi trường, bằng sự thay đổi các khung marketing cùng với nhiều phương thức
tiếp cận tốt hơn như: Marketing đối nội, Marketing quan hệ, Marketing đối
ngoại…
- Marketing đối ngoại chủ yếu giải quyết mối quan hệ giữa công ty vơi
khách hàng, xây dựng mối quan hệ lâu dài, tin tưởng lẫn nhau và đôi bên cùng
có lợi với những khách hàng, bằng việc cung cấp cho bên kia dịch vụ chất lượng
cao, giá cả hợp lý trên cơ sở tăng cường mối quan hệ kinh tế, kỹ thuật, xã hội
của cả hai bên.
- Marketing quan hệ giải quyết mối quan hệ giao tiếp giữa nhân viên với
khách hàng, tập trung vào lực lượng bán, mở rộng khái niệm dịch vụ trong
khách hàng, quan tâm tới tiêu thụ trong ngắn hạn với khách hàng, tiếp cận có
mức độ với khách hàng, chất lượng dịch vụ được quan tâm hàng đầu.
- Marketing đối nội thể hiện sự thừa nhận vị trí quan trọng của việc thu
hút, thúc đẩy, đào tạo và duy trì đội ngũ lao động có kỹ năng, tạo ra cơ chế thỏa
mãn các nhu cầu của các thành viên cùng với sự tổ chức phối hợp giữa các thành
viên trong doanh nghiệp. Marketing nội bộ nhằm khuyến khích những thái độ
tốt của nhân viên với hi vọng thông qua đó sẽ thu hút khách hàng tới doanh
nghiệp của mình.
1.4.2 Các chiến lược marketing.
- Thâm nhập từ từ: Giá thấp và xúc tiến yếu.
+Trong giai đoạn sản phẩm tăng trưởng có thể áp dụng các chiến lược: cải
tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã, đặc tính sản phẩm, tấn công thị trường mới,
sử dung kênh phân phối mới.
22
Nhà cung
cấp.
Đoạn thi trường 1
Đoạn thị trường 2
Đoạn thị trường 3
Nhà cung
cấp.
Đoạn thi trường 1
Đoạn thị trường 2
Đoạn thị trường 3
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
+ Trong giai đoạn bão hòa có thể áp dụng các chiến lược: mở rộng thị
trường, thay đổi sản phẩm, thay đổi một số chính sách marketing.
+ Trong giai đoạn suy thoái: dựa vào kết quả phân tích nguyên nhân dẫn
đến suy thoái, từ đó có thể lựa chọn chiến lược thích hợp nhất trong các chiến
lược sau:
- Tiếp tục đầu tư củng cố cạnh tranh.
- Duy trì mức đầu tư hiện tại khi chưa rõ tình hình thị trường.
- Giảm đầu tư một cách có chọn lọc và rút khỏi các đoạn thị trường không
hiệu quả.
- Thu hoạch để nhanh chóng thu hồi tiền mặt.
- Loại bỏ hoạt động khi có cơ hội khác.
* Theo vị thế cạnh tranh:
+ Nếu là người dẫn đầu trong cạnh tranh thì có thể áp dụng các chiến
lược: mở rộng toàn bộ thị trường, hạn chế sự tấn công của cá đối thủ cạnh tranh
viễn thông. Mục tiêu đặt ra là đưa Viettel Telecom trở thành nhà cung cấp viễn
thông số một tại Việt Nam và có tên tuổi trên thế giới.
* Một số mốc phát triển quan trọng của công ty viễn thông Viettel:
Năm 1989: Công ty Điện tử Thiết bị Thông tin, tiền thân của công ty
Viễn thông Quân đội được thành lập.
Năm 1995: Công ty điện tử thiết bị Thông tin được đổi tên thành Công ty
Điện tử Viễn thông Quân đội (tên giao dịch là Viettel).
24
Vũ Tam Đăng Lớp: Thương mại 47A
Năm 2000: Cung cấp thử nghiệm thành công dịch vụ điện thoại đường
dài sử dụng công nghệ VoIP tuyến Hà Nội – Hồ Chí Minh với thương hiệu 178.
Năm 2001: Có giấy phép cung cấp chính thức dịch vụ VoIP 178 trong
nước và quốc tế. Thương hiệu 178 đã gây tiếng vang lớn trong dư luận và khách
hàng vì sự tiên phong phá vỡ thế độc quyền trên thị trường.
Năm 2002: Chính thức khai trương cung cấp dịch vụ truy cập Internet -
Trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên tại Việt Nam sử dụng công
nghệ mạng thế hệ mới NGN, có khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của
khách hàng.
Năm 2003: Tổ chức lắp đặt tổng đài đưa dịch vụ điện thoại cố định vào
hoạt động kinh doanh trên thị trường; thực hiện phổ cập điện thoại cố định tới
tất cả các vùng miền trong cả nước
Năm 2004: Khai trương dịch vụ điện thoại di động với thương hiệu 098.
Viettel Mobile luôn được đánh giá là mạng di động có tốc độ phát triển thuê bao
và mạng lưới nhanh nhất với những quyết sách, chiến lược kinh doanh đột phá,
táo bạo, luôn được khách hàng quan tâm chờ đón và ủng hộ.
Năm 2007: Công ty viễn thông Viettel (Viettel Telecom) được thành lập
trên cơ sở sát nhập Công ty Điện thoại Đường Dài và Công ty Điện thoại Di
Động Viettel, với mục tiêu trở thành nhà cung cấp viễn thông hàng đầu tại Việt
Nam:
- Dịch vụ điện thoại đường dài trong nước và quốc tế 178 đã triển khai