Phong trào nông dân trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam - Pdf 27

Tiểu luận
Chuyên đề: “Phong trào nông dân trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam”
Họ và tên: Đỗ Thị Thanh Dung.
Lớp : CLC – K57 Khoa Lịch sử
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Câu 13: Thế kỷ XVIII sẽ không trở thành khởi nghĩa nông dân nếu như
chính quyền ở Đàng Ngoài và Đàng Trong thực hiện những chính sách
như thế nào?
I. Phần mở đầu
1.Mở đầu
Đối với các quốc gia phương Đông thời cổ - trung đại, nhà nước có
vai trò hết sức quan trọng. Với quyền lực tập trung theo thể chế quân chủ
chuyên chế Trung ương tập quyền, Nhà nước có khả năng tập trung huy
động, tổ chức việc xây dựng các công trình công cộng đồng thời với bộ máy
cai trị, trấn áp hà khắc, nhà nước chính là công cụ đảm bảo trật tự xã hội.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, mỗi khi nhà nước còn có vai trò tiến bộ, triệt
để thực hiện các chính sách củng cố và phát triển đất nước thì triều đại hưng
thịnh, xã hội ổn định. Ngược lại, khi chế độ phong kiến suy đồi, phản động,
thi hành những chính sách đi ngược lại quần chúng nhân dân thì đất nước
đại loạn, nhân dân đói khổ.
Lịch sử trung đại Việt Nam là một minh chứng cụ thể cho quy luật
trên. Sau một thời gian dài thịnh trị và ổn định, đến thế kỷ XVIII, chế độ
phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Vua quan
ăn chơi xa đọa, tô thuế nặng nề, thiên tai mất mùa thường xuyên, đời sống
nhân dân khốn cùng, cực khổ. Sự bùng nổ của khởi nghĩa nông dân trong thế
1
kỷ này là một hệ quả tất yếu phản ánh sự bất lực của giai cấp phong kiến
cầm quyền trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách của lịch sử.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII được biết đến là thế kỷ của khởi
nghĩa nông dân. Do vậy, đã có nhiều người quan tâm nghiên cứu về phong

Nam sử lược” chép sử ta từ họ Hồng Bàng cho đến công cuộc bảo hộ của Pháp,
được xếp đặt theo thứ tự, chia ra theo thời đại, đặt thành chương, thành mục rõ
ràng, có nhận xét, đánh giá của tác giả. Phong trào nông dân thế kỷ XVIII được
nhắc đến trong “Việt Nam sử lược” bắt đầu từ trang 335, chương V, phần IV;
nói về công việc họ Trịnh ở đất Bắc cho đến trang 450 – hết phần IV.
- Các công trình nghiên cứu lịch sử
+ Nguyễn Cảnh Minh, Đào Tố Uyên, Một số chuyên đề lịch sử cổ trung
đại Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2008. Đây là hệ thống các
vấn đề trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam trong đó phong trào nông dân
trong lịch sủ Việt Nam thời trung đại được đề cập trong một chương riêng.
Chuyên đề đã đi sâu làm rõ những vấn đề của phong trào nông dân như:
nguyên nhân bùng nổ phong trào trong đó nổi lên vấn đề ruộng đất, vấn đề
tô thuế, vấn đề trị thủy có quan hệ như thế nào đế nguyên nhân bùng nổ
phong trào, vấn đề đặc điểm của phong trào chung và của mỗi giai đoạn lịch
sử.
+Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh,
Đại cương lịch sử Việt Nam (tập I), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003. Đây là
cuốn sách cơ sở, không thể thiếu trong nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Việt
Nam nói chung và lịch sử chế độ phong kiến nói riêng. Ở các chương XVII
và XIII của cuốn giáo trình, các tác giả đã đi sâu làm rõ cuộc khùng hoảng
3
của chế độ phong kiến Việt Nam ở thế kỷ XVIII và diễn biến của các phong
trào đấu tranh của nông dân cả nước trong giai đoạn này.
+Phan Huy Lê (chủ biên), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1960. Đây là một bộ sách của các nhà sử học có uy tín
của Việt Nam biên soạn phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch
sử chế độ phong kiến Việt Nam. Tác phẩm gồm 3 tập, trong đó sự khủng
hoảng của chế độ phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài thế kỷ XVIII được
đề cập trong tập III. Trong tập III, vấn đề khởi nghĩa nông dân (nguyên nhân
bùng nổ và diễn biến của phong trào) được tác giả phân tích và làm rõ trong

Trước phong trào Tây Sơn, ở Đàng Trong, nhân dân đã nhiều lần nổi
dậy, thu hút được nhiều tầng lớp tham gia. Năm 1695, ở Quảng Ngãi, Quy
5
Nhơn đã bùng nổ cuộc đấu tranh đầu tiên do thương nhân cầm đầu. Năm
1747, ở Gia Định bùng nổ cuộc khởi nghĩa thứ hai do thương nhân Hoa kiều
lãnh đạo. Dưới chế độ áp bức dân tộc của họ Nguyễn, nhân dân thiểu số ở
Đàng Trong cũng nhiều lần nổi dậy đấu tranh. Trước khởi nghĩa Tây Sơn,
những cuộc đấu tranh của người Chàm và người Hrê là tiêu biểu nhất vào
các năm 1703, 1746, 1770. Mâu thuẫn của nông dân với địa chủ cũng đã cụ
thể hóa bằng các cuộc bạo động của nông dân. Tiêu biểu trong thời kỳ này là
khởi nghĩa của Lía, Hồ, Nhẫn cầm đầu. Tất cả những cuộc khởi nghĩa này
phản ánh một tình trạng khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến
Đàng Trong và là những dấu hiệu báo trước một phong trào đấu tranh rộng
lớn, quyết liệt sắp bùng nổ.
Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã
hiệu triệu nhân dân phất cờ khởi nghĩa ở ấp Tây Sơn. Bằng chính sách khôn
khéo, nghĩa quân đã nhanh chóng thu hút được nhiều tầng lớp ủng hộ, tiến
tới đánh đổ chính quyền của chúa Nguyễn ở Đàng Trong (1777), đánh tan
quân xâm lược Xiêm (1785), phát triển ra Đàng Ngoài, lật đổ chính quyền
phong kiến thối nát của vua Lê, chúa Trịnh, đánh tan quân xâm lược Mãn
Thanh (1789), thiết lập chính quyền nhà nước riêng, mở ra một triều đại mới
trong lịch sử Việt Nam.
Đây là cuộc khởi nghĩa duy nhất đi tới thắng lợi cuối cùng, thiết lập
nên một chính quyền phong kiến mới tiến bộ trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Từ ban đầu là một cuộc khởi nghĩa mang tính chất địa phương, khởi nghĩa
Tây Sơn đã trở thành một trung tâm thu hút mạnh mẽ sự tham gia của đông
đảo và sự ủng hộ hết mình của quần chúng nhân dân nên đã phát triển thành
một phong trào có phạm vi rộng lớn trong cả nước.
Với hình thái phát triển đặc biệt, phong trào nông dân Tây sơn đã có
sự kết hợp việc giải quyết vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc. Đây là cuộc

nhân dẫn đến phong trào khởi nghĩa nông dân trong suốt thế kỷ này.
1.Chính sách chính trị lạc hậu, quan liêu và thối nát của chính quyền
Đàng Ngoài và Đàng Trong
1.1. Ở Đàng Ngoài.
1.1.1. Nửa đầu thế kỷ XVIII.
Điển hình cho mô hình chính trị Đàng Ngoài trong thời gian này là sự
tồn tại của chế độ “Vua Lê – Chúa Trịnh” mà thực quyền nằm trong tay phủ
chúa. Thế kỷ XVIII có thể coi là thế kỷ chứng kiến cuộc sống ăn bám xa xỉ
của bộ máy phong kiến quan liêu thối nát đương thời.
Đại biểu tối cao của nhà nước phong kiến và giai cấp thống trị lúc bấy
giờ là chúa Trịnh. Sau khi cuộc chiến tranh với chúa Nguyễn vừa kết thúc
(1672), chúa Trịnh trong khoảng thế kỷ XVII sang đầu thế kỷ XVIII, còn lo
ổn định trật tự xã hội, chấn chỉnh lại bộ máy phong kiến để củng cố nền
thống trị. Nhưng cũng trong giai đoạn ấy, đặc biệt là sang nửa đầu thế kỷ
XVIII, từ thời Trịnh Cương (1709 – 1729) và Trịnh Giang (1729 – 1740),
các chúa Trịnh ngày càng lo hưởng thụ, ăn chơi xa xỉ, rời bỏ dần những
nhiệm vụ tích cực của Nhà nước phong kiến.
Trịnh Cương trong buổi đầu có chỉnh đốn, sửa đổi lại một số chế độ
mong cứu vãn lại kỷ cương đang đổ nát của chế độ phong kiến, nhưng công
việc chủ yếu của Trịnh Cương là lo cải tiến lại chính sách thuế khóa để tăng
cường bóc lột một cách triệt để hơn. Trịnh Cương đã dùng tiền bóc lột ấy
ném vào vào một cuộc sống rất xa hoa. Trịnh Cương rất say mê xây dựng
đền chùa, cung điện ở các nơi danh lam thắng cảnh, để đi tuần du rất tốn
kém.
Năm 1714, Cương sai sửa chữa, tu bổ chùa Phúc Long (Bắc Ninh),
bắt nhân dân ba huyện Gia Định, Lang Tài, Quế Dương lao dịch vất vả trong
8
vòng 6 năm liền mà không xong. Công việc xây dựng tốn kém và lao dịch
cực khổ này đã gây ra sự ta thán, phẫn uất trong nhân dân. Vì vậy, năm
1718, một viên phó đô ngự sử đã làm sớ trình bày nỗi khổ của dân và đề

nhược, không kham nổi việc nước” nên đình thần có nhiều người đã khuyên
Trịnh Cương không nên lập làm chúa. Là người bất tài, lại biết rằng đình
thần không phục, Giang nghi kỵ mọi người, rồi tìm cách ám hại những đại
thần không phục hay không chịu về cùng vây cánh với mình và đưa bọn tay
chân vào nắm giữ chính quyền, Giang rất tin dùng bọn hoạn quan như
Hoàng Công Phụ, để bọn chúng lũng đoạn triều đình, ám hại những người
chống đối và gây nên rất nhiều tệ nạn xấu xa trong triều đình, phủ chúa.
Những trung thần ngay thẳng như Tô Thế Huy, Vũ Công Tuấn người bị giết,
kẻ bị giáng bại. Những viên quan lại chấn thủ các nơi cũng bị Giang thay đổi
luôn vì sợ trấn thủ một nơi lâu ngày có thể gây cơ sở địa phương, âm mưu
chống đối lại họ Trịnh. Nói về Trịnh Giang, Việt sử lược có viết: “Nhưng
mà Trịnh Giang lên nối nghiệp chúa, giết hại vua Lê, hại các quan đại thần
như Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn và làm thuế ngày càng làm lắm điều
tàn ác. Tính ông ấy đã tàn ngược lại hay tiêu dùng xa xỉ, thuế má ngày một
nhiều, mậu dịch ngày một nặng, dân tình khổ sở, giặc giã nổi lên khắp cả
mọi nơi…” [4,348].
Trong lúc đó, cuộc sống của Giang rất sa đọa, đồi trụy. Năm 1732,
Giang tự chế ra lễ nhạc ở phủ trường rất sang trọng và định rõ những nghi
thức khi chúa đi tuần du, thăm viếng các nơi rất xa xỉ. Hàng ngày thị triều,
đều dàn nhạc công ra phủ đường để cử nhạc chào mừng chúa. Hễ chúa đi
đâu dàn nhạc công đi trước, mỗi lần tiến phát hay dừng nghỉ đều bắn ba phát
đại bác. Giang đặc biết rất hiếu danh và hiếu sắc. Năm 1739, Giang cho tay
10
chân giả làm sứ giả nhà Thanh mang ấn sang phong Giang làm An Nam
quốc thượng vương ngang hàng với vua Lê. Giang “hoang dâm vô độ”, một
lần bị sét đánh gần chết, từ đó hễ nghe tiếng sấm là run sợ. Lợi dụng việc đó,
bọn hoạn quan Hoàng Công Phụ đánh lừa Giang là vì dâm báo, chỉ có đào lỗ
chui xuống đất ở mới tránh khỏi. Giang tin lời Phụ, sai người làm cung
Thưởng Trì (xã Hoàng Mai, huyện Thanh Trì) ở dưới đất không dám ra
ngoài. Từ đó, Giang sống cũng như chết, và bọn hoạn quan Hoàng Công Phụ

thuộc huyện Đông Yên (Khoái Châu, Hưng Yên) và xã Mỹ Thữ thuộc huyện
Đường Hào (nay là huyện Bình Giang, Hải Dương), vốn và nguyên quán và
trú quán của bà mẹ họ Vũ, Giang cho xây dựng nhiều phủ đệ, lập nhiều nhà
thờ rất nguy nga, tráng lệ. Ngay ở quê hương của tên hoạn quan Hoàng
Công Phụ là xã Quế Trạo, huyện Quế Dương (nay là Quế Dương, Bắc
Ninh), Giang cũng cho xây dinh đệ to lớn để thỉnh thoảng đi tuần du qua
thăm hỏi.
Những công trình tốn kém ấy lại tiến hành vào những lúc nạn đói kém
thường xuyên xảy ra hàng năm và nhân dân bị bần cùng, phá sản ngày một
nghiêm trọng. Cung đốn vật liệu vất vả vào những công trình xây dựng ấy là
những gánh nặng thêm đổ lên đầu những người nông dan đã gần kiệt sức. Vì
vậy, năm 1740, Trịnh Doanh lên nối nghiệp, giữa lúc phong trào nông dân
đang khởi nghĩa khắp nơi, đã phải ra lệnh đình chỉ mọi công trình dinh tạo
ấy để hòa hoãn lòng phẫn nộ của nhân dân và tập trung tiền của vào những
cuộc chiến tranh đàn áp.
Trong buổi đầu, Giang có sửa đổi những chính sách thuế khóa của
Nguyễn Công Hãn, vì có những chính sách bóc lột triệt để này đã làm cho
nhân dan bị bần cùng oán giận cao độ. Nhưng để cung cấp cho cuộc sống xa
12
xỉ và những công trình dinh tạo tốn kém của mình, ngoài thuế khóa Giang
còn đặt ra nhiều thủ đoạn khác. Trước hết, Giang phát triển lệ bán quan tước,
cho phép quan lại được nộp tiền để thăng chức, và thường dân được nộp tiền
để làm quan. Do sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và nhu cầu cần tiền
của Nhà nước, quan chức đã trở thành một thứ hàng hóa mua bán và đồng
tiền đã lũng đoạn thị trường, đã hủy hoại cả “kỷ cương tôn nghiêm” của chế
độ phong kiến. Bọn quan lại xuất thân từ việc mua bán quan tước ấy tất
nhiên phải lấy “nghề làm quan” làm phương thức kinh doanh bóc lột kiếm
lãi. Chế độ mua bán quan tước phổ biến và phát triển thêm tệ nạn tham ô,
nhũng lạm của bộ máy quan liêu. Việt sử lược ghi chép “Nhà nước thiếu
tiền, lại đặt lệ tthu tiền thông kinh, hễ ai nộp 3 quan thì đi thi, mà không phải

hàng động lén lút, tội lỗi mà đã trở thành một chế độ công khai được Nhà
nước công nhận. Trong việc bán quan tước, nhà nước cũng có phân biệt
những nơi có thể hối lộ nhiều hay ít để quy định số tiền khác nhau. Bọn quan
lại đốc thúc phú thuế là ngạch quan lại đặc biệt tham nhũng nhất và cũng là
mối uy hiếp ghê sợ nhất của nhân dân. Bản thân thuế khóa đã nặng nề, bọn
quan lại đốc thu này còn làm cho sự đóng góp của nhân dân trở nên gần như
vô hạn trước lòng tham vô đáy của chúng. Những thể lệ quy định các lễ vật,
các khoảng cung đốn cho quan lại thu thuế của nhà nước trở nên vô hiệu lực.
Vì vậy, vào năm 1724, Trịnh Cương phải định ra hình phạt như bồi thường,
giáng chức, bãn miễn để trừng trị những viên quan lạm thu thuế khóa, nhưng
cũng không hiệu quả mấy. Năm 1725, Nguyễn Công Hãng dâng sớ xin cho
phép nhân dân địa phương yết biểu tại nha môn, phủ đệ để tố cao bọn tham ô
hay biểu dương tính liêm khiết của quan lại, nhưng tình hình đã quá trầm
14
trọng không thể cứu vãn được, phong trào nông dân bạo động đã bắt đầu nổ
ra lẻ tẻ ở nhiều nơi.
Ở xã thôn, bọn cường hào, địa chủ lũng đoạn chính quyền, bóc lột, ức
hiếp dân nghèo đến thậm tệ. Nhận thấy kiện tụng không ngớt, trong tờ thông
sức của ngự sử đài năm 1718 có nhận xét như sau:
“ Những bọn cường hào gian hoạt trong làng mạc, giảo quyệt đủ món,
dối trá trăm khoanh, chúng lấy thế lực mà xử sự, dùng cách xâm chiếm để
lợi mình, bóp nặn kẻ nghèo nàn, khinh rẻ người ngu tối, hơi có ai trái ý thì
chúng vu oan giá họa, đưa đến cửa công. Án xử đúng rồi thì chúng cũng xin
xét lại, một lần kêu lại không được, chúng còn kêu đến 2 – 3 lần, làm cho
người nghèo nàn không thể theo nổi, người có của cũng hết tiền, chúng mới
hả dạ” [2,301].
“Trong các xã thôn còn có những bọn sâu mọt, cổ động tụ họp, gây
việc lôi thôi, kết đảng chỉ có 2 – 3 người mà mạo xưng là cả xã, tiếp nhau
kéo đến Nha môn, lăn mình vào kiện. Phàm họp nhau ăn uống mỗi lần hao
hụt tiền gạo, thấy mọi người có ý chí chán nản thì chúng liền tự bán ngôi thứ

Giang phải ra lệnh hạn chế, cấm nhà giàu không được dùng những vật điêu
khắc, trang sức hoa mỹ quá và cấm những thợ thủ công không được làm đồ
kỹ xảo.
1.1.2. Ở nửa sau thế kỷ XVIII
Nửa sau thế kỷ XVIII, chúa Trịnh vẫn duy trì một nền chính trị hủ bại.
Chính quyền họ Trịnh – đặc biệt từ đời Trịnh Sâm trở đi, càng tỏ ra đồi trụy,
thối nát đến cực độ. Năm 1767, Trịnh Doanh chết, con là Trịnh Sâm lên nối
ngôi. Sâm là người hoang dâm, tàn bạo, suốt đời chỉ ăn chơi hưởng lạc và
tìm cách bóc lột nhân dân ráo riết hơn trước. Dưới thời Trịnh Sâm, bộ máy
16
quan liêu trở nên rất thối nát và trong nội bộ giai cấp thống trị xảy ra nhiều
vụ tranh chấp, giết hại nhau.
Ngay từ khi Trịnh Sâm lên nối ngôi thì đã xảy ra cuộc mưu sát của
Trịnh Đệ. Đệ là em ruột Sâm, mưu với Phạm Huy Cơ định đến ngày 24
tháng 9 nhuần (năm Đinh Hợi – 1767) sẽ giết Sâm để cướp ngôi. Nhưng âm
mưu bại lộ, Sâm bắt Đệ hạ ngục và giết chết Phạm Huy Cơ. Hai năm sau,
năm 1769, Trịnh Sâm lại cùng bè cánh tay chân là hoạn quan Hoàng Ngũ
Phúc, Phạm Huy Đĩnh tìm cách hạ sát thái tử Lê Duy Vĩ. Lê Duy Vĩ là con
vua Lê Hiển Tông là người thông minh, khẳng khái có ý muốn khôi phục lại
chủ quyền vua Lê nên bị Trịnh Sâm ghen ghét. Sâm đổ tội cho thái tử tư
thông với nàng hầu trong phủ chúa để khép tội bắt hạ ngục, rồi hai năm sau
bắt thắt cổ chết.
Trịnh Sâm là một tên chúa rất hoang bạo, ăn chơi cực kỳ xa hoa, trụy
lạc. Sâm bắt xây dựng nhiều cung điện, nhiều đền chùa ở những nơi danh
thắng để du ngoạn. Một tháng ba, bốn lần Sâm ngụ ra chơi cung Thụy Liên
trên hồ Tây, bắt dân lính đứng hầu bao quanh khắp bờ hồ, bắt bọn nội thần
bịt khăn, mặc áo đàn bà trưng bày mọi thứ hàng hóa quanh bờ hồ để bán.
Nhạc công thì ngồi trên gác chuông ở chùa Trấn Quốc hay trong bóng cây
để thỉnh thoảng hòa vài khúc nhạc. Hàng năm đến Tết Trung Thu, Sâm phát
gấm trong cung ra làm hàng trăm, hàng nghìn chiếc đèn lồng, mỗi chiếc giá

các xã. Sở tại lưu truyền, dân tình kinh động, đến đỗi dời nhà dọn cửa và
đuổi những kẻ ngụ cư để cho bớt dân đinh thì sẽ bớt phần nào số dân phải đi
lính”. Chính quyền họ Trịnh đã trở nên cực kỳ thối nát, đã hoàn toàng chức
năng tích cực của mình để trở thành một bộ máy ăn bám phản động, kìm
hãm mọi bước tiến của xã hội.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status