Tạp chí Khoa học – Đại học Huế
ISSN 2588–1213
Tập 127, Số 6C, 2018, Tr. 21–32; DOI: 10.26459/hueuni-jssh.v127i6C.4865
DỮ LIỆU LỊCH SỬ
TRONG TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Quảng Văn Ngọc
Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế, 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam
Tóm tắt. Truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam là một hiện tượng văn hoá đặc biệt trong tiến trình phát
triển văn học nước ta. Tính giao thao văn hoá đã được thể hiện đậm nét trong thể loại này, nổi bật nhất là
tính chất lịch sử. Sử dụng dữ liệu lịch sử là nét đặc trưng quan trọng, là điểm khu biệt giữa Việt Nam và
các nước đồng văn về truyện truyền kỳ trung đại. Đặc điểm này đã góp phần làm nên dấu ấn văn hoá và
tinh thần tự tôn dân tộc của người Việt. Nó là những diễn giải không những về khởi nguyên của đất nước
và tổ tiên Việt Nam, mà còn là những câu chuyện lịch sử đầy tự hào về hành trình mở cõi, về các nhân
thần, liệt nữ và những tấm gương anh dũng, mưu trí mà cha ông đã giáo dục và dành tặng các thế hệ mai
sau.
Từ khóa. dữ liệu lịch sử, truyện truyền kỳ, Việt Nam
1.
Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển văn xuôi Việt Nam thời trung đại, truyện truyền kỳ là một
hiện tượng văn học hết sức đặc biệt, có tính giao thoa văn hoá đậm nét. Dưới vỏ bọc của những
câu chuyện quái lạ, thần dị, truyện truyền kỳ như là một dạng dữ liệu văn hóa, lịch sử của cộng
đồng. Nó được các nhà Nho Việt Nam sáng tạo ra như một phương tiện nhằm lưu giữ và phát
huy những giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc. Hơn thế nữa, thông qua những thiên
truyện giàu tính văn hoá này, các thế hệ nhà Nho đã truyền thừa những thông điệp lịch sử
quan trọng cho các thế hệ tiếp nối.
Tiếp cận từ giác độ so sánh, chúng ta có thể nhận thấy ở truyện truyền kỳ trung đại Việt
tích của các nhân vật lịch sử đã được các nhà Nho quan tâm và trở thành những chủ đề chính
của các tác phẩm mở đầu cho thể loại này trong văn xuôi trung đại Việt Nam. Tuy nhiên, qua
khảo sát, chúng tôi nhận thấy chủ đề thường trực và có tính xuyên suốt các thiên truyện chính
là sự đề cao tinh thần dân tộc bằng các câu chuyện liên quan đến cội nguồn của dân tộc và hạo
khí của giang sơn đất nước. Tiêu biểu nhất cho mạch truyện này là Việt điện u linh tập và Lĩnh
Nam chích quái lục. Chính những câu chuyện về con đường hình thành dân tộc và đất nước là sự
thể hiện lịch sử quá trình kiến tạo dân tộc khá độc đáo và riêng biệt.
Xét theo tiến trình thời gian, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên được coi là một trong
những tác phẩm ra đời sớm nhất. Tư tưởng chủ đạo của nó là âm hưởng ca tụng công tích của
các bậc “đế vương”, các vị “phụ thần” và các đấng “anh linh”, đồng thời ghi lại thời điểm triều
đình ban sắc phong thần. Đúng như tiêu đề của bộ sách, đây chính là “bảng phong thần” dành
cho những người có công mở nước và kiến tạo nên giang sơn nước Việt. Trong quan niệm của
Lý Tế Xuyên, dù chư vị thần linh có xuất xứ, hành trạng khác nhau, nhưng tất cả đều là “tinh
túy của núi sông” và “nhân vật kiệt linh” của nước Việt. Có thể nói, Lý Tế Xuyên viết Việt điện u
linh tập không chỉ nhằm để “ghi chép” và “phân loại” về các vị thần vốn được thờ phụng trong
dân gian mà còn là để lưu truyền cho hậu thế muôn đời về cội nguồn lịch sử của dân tộc, nhất
là truyền thống đấu tranh bất khuất của tiền nhân. Cũng chính vì thế mà tác giả đặt tên sách là
Việt điện u linh tập. Đúng như nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục đã nhấn mạnh: “Tiêu đề ẩn chứa
thông điệp dứt khoát về một nước Hoàng Việt dồi dào văn hiến, có nguồn mạch sâu xa, hạo khí
bao trùm. Chữ u linh vừa chỉ sự linh thiêng vừa chỉ hành trạng bí ẩn các bậc thần linh, cũng là
của tổ tiên của người Việt” [1, Tr. 16].
Hệ thống sự kiện và nhân vật trong Việt điện u linh tập tuy vẫn còn khá nhiều chi tiết hư
huyễn, phi thường nhưng đã được tác giả ghi chép và thể hiện một cách khá tường minh, luôn
được trưng dẫn đầy đủ gốc tích, sở cứ – một trong những tính chất quan trọng của thể tài “sử
truyện”. Lý Tế Xuyên rất chú ý đến việc dẫn xuất căn nguyên và nguồn cội của các vị thần
thánh hoặc những nhân vật mang phẩm chất thần thánh. Dường như tác giả muốn tạo dựng
cho hậu thế niềm tin vào tính xác thực của nội dung câu chuyện và đặc dụng hình thức truyền
22
tinh thần lịch sử ẩn tàng trong truyện truyền kỳ. Chính Trần Thế Pháp đã diễn giải rất mạch lạc
trong bài Cổ thuyết tựa dẫn (1947): “Như truyện “Họ Hồng Bàng” nói rõ thời xây dựng nước
Việt. Truyện “Dạ Xoa” nói lên buổi đầu hình thành nước Chiêm Thành, truyện “Bạch trĩ” nói về
họ Việt Thường, truyện “Rùa Vàng” chép về An Dương Vương (…). Các truyện “Đổng Thiên
Vương” dẹp giặc Ân, “Lý Ông Trọng” diệt Hung Nô là để đời biết nước Nam có người nổi
tiếng (…). Các truyện “Ngư tinh”, “Hồ tinh” nói chuyện diệt trừ yêu quái mà công đức của
Long Quân không thể quên. Truyện anh em họ Trương trung nghĩa chết làm thổ thần, được ban
cờ biểu dương, ai bảo không nên? Truyện “Tản Viên” thiêng liêng, bài trừ thủy tộc, việc làm
rạng rỡ, ai bảo không phải? Ôi! đến như truyện “Nam Chiếu” là con cháu Triệu Vũ Đế, tuy
nước mất mà vẫn phục thù” [2, Tr. 4]. Quan niệm này còn được khẳng định thêm qua ý kiến
của Vũ Quỳnh (Tựa, Tựa thuyết), Kiều Phú (Tựa dẫn).
23
Quảng Văn Ngọc
Tập 127, Số 6C, 2018
Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục là những trường hợp điển hình về mối quan
hệ sâu sắc giữa truyện truyền kỳ với lịch sử dân tộc. Như vậy, không có nghĩa cái gọi là dữ liệu
và ký ức lịch sử chỉ xuất hiện ở hai tác phẩm này. Trái lại, yếu tố lịch sử, tinh thần lịch sử hiện
hữu ở rất nhiều tập truyện truyền kỳ: Mẫn Hiên thuyết loại, Nam hải dị nhân liệt truyện, Tang
thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút... Tuy mức độ đậm nhạt có thể khác nhau và hình thức thể
hiện có thể khác nhau, nhưng những câu chuyện có nội dung tương tự, mang chỉ dấu về lịch sử
dân tộc thì rất dễ nhận thấy.
Các tác giả đã nhận thấy chỗ khiếm khuyết của các bộ chính sử Việt và cần bổ cứu, bổ
sung bằng lối kể dã sử, dân gian dưới hình thức truyền kỳ. Với lối truyện kỳ quái, huyễn hoặc
này, một mặt khiến cho việc truyền lưu được thuận lợi, mặt khác, tinh thần dân tộc được
khuếch trương một cách khéo léo, an toàn trước sự hủy diệt và ngăn trở của kẻ thù phương Bắc.
Truyện truyền kỳ – lối “sử trong truyện” (theo cách gọi của Trần Thế Pháp) đã khắc phục được
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 127, Số 6A, 2018
bị biến dạng, lạ hóa đi. Điều này được thực hiện bởi cộng đồng trải qua nhiều thế hệ. Cộng
đồng muốn biến những thành viên ưu tú mà mình ngưỡng mộ thành niềm tự hào, là biểu
tượng cho sự tinh anh chung. Bởi vậy, có thể nói truyện truyền kỳ về các danh nhân chính là
biểu hiện sinh động cho nguyện vọng, nhận thức của quần chúng” [3, Tr. 198].
Đứng đầu danh sách người Việt tinh anh trong truyện truyền kỳ hẳn nhiên là các bậc đế
vương. Gọi các bậc đế vương là người ưu tú nhất không có gì sai bởi họ đại diện, tiêu biểu cho
cộng đồng về mọi phương diện: trí tuệ, tài đức, công trạng… Tất nhiên, không phải mọi đế
vương đều tài năng đức độ. Trên thực tế cũng có những kẻ hôn quân bạo chúa, nhưng điều lý
thú là những kẻ đó hầu như không có chỗ trong thế giới truyền kỳ.
Ở đây cũng có điều cần lưu ý, ngoại trừ các bậc vua chúa được xếp vào hạng “nhân
quân” trong Việt điện u linh tập thì hạng người tuấn kiệt – đế vương trong truyện truyền kỳ
thường được mô tả theo một nguyên tắc riêng, rất khác với sử ký. Nếu trong sử ký, các bậc đế
vương được khắc họa với lối văn cung kính, nghiêm cẩn, lễ nghi… thì ở truyện truyền kỳ, dù
vẫn đầy sự ngưỡng mộ sâu sắc, nhưng các nhân vật này lại được tiếp cận với một thái độ thân
mật, suồng sã, thậm chí hài hước của giới bình dân. Những thiên truyện về Đinh Bộ Lĩnh, Hồ
Quý Ly, Lê Lợi, Nguyễn Ánh… thể hiện rất rõ điều này. Truyện truyền kỳ đã phác thảo một
chân diện mạo rất khác về các bậc đế vương – nhân vật đặc biệt của lịch sử.
Trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề có truyện về Đinh Bộ Lĩnh. Ở đây, thân thế sự
nghiệp của vị hoàng đế họ Đinh không phải là quá trình dựng nghiệp đế từ hai tay trắng, mà là
huyền thoại “Chôn xương bụng ngựa – Táng thần mã, Đinh Thị dĩ khắc thắng nhất dư đồ).
Chuyện kể bố của Đinh Bộ Lĩnh không phải là Thứ sử Đinh Công Trứ mà là một con rái cá
trong một cái đầm sâu ở động Hoa Lư. Do bẩm sinh có tài bơi lặn, lại thông minh lanh lợi, Đinh
Bộ Lĩnh biết được huyệt đất thiêng trong đầm và lén chôn bộ xương rái cá vào đấy, vì thế mà
được âm phù. Việc thu phục, đánh dẹp các sứ quân để nhất thống nước Việt của Ông được giải
thích là do biết lợi dụng long mạch đất đai. “Từ đó Đinh được nhiều người tin phục và tôn làm
thủ lĩnh. Khi ở sách Đào Úc, từng có lần đánh nhau với người chú, phải chạy qua đầm, cầu gãy
một tài năng văn chương xuất sắc, “viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời”, người mở ra
một thời đại mới cho thơ ca dân tộc (chữ Nôm)… Nói chung, ông là một vĩ nhân hoàn toàn
xứng đáng để được dân tộc và cả nhân loại tôn vinh. Thế nhưng trong Tang thương ngẫu lục của
Phạm Đình Hổ, khi kể chuyện “Ông Lê Trãi”, tác giả không nhắc nhiều đến thân thế Ức Trai,
không lặp lại những gì đã có trong Đại Việt sử ký toàn thư hoặc các thư tịch quan trọng khác. Lai
lịch, gốc gác của nhân vật đặc biệt này được nêu khá sơ sài: “Ông Lê Trãi thuở tiên triều, hiệu là
Ức Trai, nguyên họ Nguyễn. Cha là ông Phi Khanh làm chức Tự khanh, người huyện Phượng
Nhãn, thích phong thủy, nhân dời mồ mả tổ tiên đến táng ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc
rồi làm nhà ở đấy. Ông đỗ tiến sĩ đời nhà Hồ, làm quan đến chức Ngự sử đài chánh chưởng.
Nhà Hồ mất, ông theo ông Tự khanh tránh loạn ở Côn Sơn, có câu thơ Dạ y Ngưu Đẩu vọng
trung nguyên (Đêm lần theo sao Ngưu sao Đẩu trông về đất nước). Tấm lòng ưu thời mẫn thế
thường lộ ra ở những câu thơ vịnh” [5, Tr. 125]. Điều Phạm Đình Hổ chú trọng trong truyện
Ông Lê Trãi là những tình tiết, sự kiện ly kỳ, khác lạ. Đặc biệt là tình tiết thân phận của Nguyễn
Trãi đã được thần nhân tiết lộ cho Trần Nguyên Hãn, chi tiết mồ mả tổ tiên của ông được dời
đến cải táng tại làng Nhị Khê, liên quan đến thảm họa Lệ Chi Viên mà ông gặp phải sau này.
Nếu so sánh với chính sử, những tài liệu đáng tin cậy nhất, thì những chuyện huyễn hoặc như
ma rắn hiện thành mỹ nữ để báo oán, khiến cho ba họ (tam tộc) của Ức Trai bị tru di, ứng với
điềm báo ba trang sách thấm máu rắn; cả chuyện Lê Quý Đôn loạn ngôn khi chê thơ Lê Trãi, bị
trách phạt… Đây là những chi tiết có ý nghĩa tạo dựng nên “chất truyền kỳ”, hư huyễn trong
truyện “Ông Lê Trãi”. Bởi vậy, dù kể về một nhân vật lịch sử có tầm vóc lớn lao nhưng đây
hoàn toàn không phải là truyện ký lịch sử. Có thể thấy “Ông Lê Trãi” là một sự sáng tạo rất
khéo léo của Phạm Đình Hổ… Ông đã tạo nên một chân dung Nguyễn Trãi rất lạ, theo đúng
mô thức các giai thoại, truyền thuyết dân gian. Chân dung người anh hùng trong tác phẩm của
Phạm Đình Hổ đã được nâng chiều kích lên nhiều lần.
26
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 127, Số 6A, 2018
hứng thú nhất cho người đọc là “liệt phụ” và “kỳ nữ”. Đây là hai “phân mảnh” trái ngược nhau
của hình tượng người nữ và đều có vai trò đặc biệt quan trọng trong thế giới truyền kỳ.
Trước hết, nói về hình tượng nhân vật “liệt phụ”. Thời trung đại, ở Việt Nam do độc tôn
Nho giáo, một học thuyết có sự kỳ thị đối với nữ giới, vì thế mà vị thế xã hội của họ cũng bị hạ
thấp. Tuy nhiên, lại có điều hết sức lý thú là trong truyện truyền kỳ, tinh thần “bình đẳng giới”
lại rất cao. So với nam giới, vai trò người nữ trên mọi phương diện đời sống đều không thua
kém, thậm chí có mặt vượt trội. Gương “liệt phụ” trong thế giới nhân vật truyền kỳ là một bằng
chứng hiển nhiên.
27
Quảng Văn Ngọc
Tập 127, Số 6C, 2018
Về bản chất, “liệt phụ” là những người phụ nữ có đức hạnh, có hành động quả cảm, can
trường vượt lên trên thói thường. Trong truyện truyền kỳ, “liệt phụ” gắn với những giai thoại
chứa đựng nhiều yếu tố linh dị, phi thường… “Họ trở thành những gương điển hình, làm
gương sáng cho muôn đời soi chung, không chỉ cho riêng nữ giới mà cả các bậc nam tử. Tất
nhiên, khi đã hiện diện trong tác phẩm truyền kỳ, các “liệt phụ” đã thuộc thế giới khác và hầu
như đều đã trở thành những người đặc biệt. Họ đã đi vào thế giới linh dị, thường được triều
đình sắc phong, được người dân tôn lập, thờ phụng hết đời này qua đời khác” [6, Tr. 12].
Trong truyện “Hải khẩu linh từ” (Truyền kỳ tân phả) của Đoàn Thị Điểm, nhân vật
Nguyễn Cơ (còn gọi Bích Châu) là một “liệt phụ”. Bà là ái phi của vua Trần Duệ Tông. Sở dĩ
Nguyễn Cơ được xếp vào hàng đặc biệt như thế bởi vì những việc bà làm đã vượt quá bổn
phận của kẻ quần thoa, vốn chỉ lo sao cho chu toàn “tứ đức”. Bà đã tự mình soạn Kê minh thập
sách – mười kế sách nhằm chấn hưng quốc gia, dâng lên vua để tỏ lòng trung quân, điều chỉ
thấy ở các bậc lương tướng, trung thần. Đây rõ ràng là điều lạ lùng bởi nó liên quan đến một
người phụ nữ. Không chỉ có thế, khi biết vua Trần Duệ Tông chuẩn bị xuất binh chinh phạt
thích hứng rượu ngâm thơ, nhân lúc say sưa, phóng bút viết bậy, thật sự biết đắc tội rất nặng
với bậc tôn linh, nay tình nguyện nối lại nguyên văn để chuộc cái lỗi nói càn (…). Hà sinh đứng
dậy vâng mệnh lui ra, bỗng thấy mây lành bao phủ, gió thoang thoảng, phu nhân bước lên xe
loan đi như bay, sinh có ý muốn theo thì chợt nghe tiếng gà gáy, trở mình thức dậy hóa ra một
giấc mộng. Liền tắm gội sạch sẽ, đến đền Liệt nữ làm tiếp tục bài thơ trong mộng còn dở dang”.
Như vậy, ngay cả khi đã sang cõi khác, người thiếu phụ ở An Ấp vẫn giữ đức hy sinh, lòng
trung trinh với chồng nguyên vẹn.
Ta còn gặp những bậc liệt phụ, liệt nữ khác như Bà phu nhân họ Đoàn trong Tang thương
ngẫu lục, Bà phu nhân Mị Ê trong Tân đính Lĩnh Nam chích quái và đặc biệt là bà Trưng Vương
trong Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp. “Theo sách Sử ký thì Hai Bà Trưng vốn dòng
họ Hùng, chị tên là Trắc, em tên là Nhị, người ở huyện Mê Linh, đất Phong Châu, con gái quan
Hùng tướng đất Giao Châu. Xưa Trắc lấy Thi Sách người huyện Chu Diên. Bà rất có tiết nghĩa,
tính khí hùng dũng, có trí quyết đoán sáng suốt. Thời ấy, Tô Định ở Giao Châu rất tham bạo,
nhân dân rất khổ sở. Trắc thù Định giết chồng mình, bèn cùng em là Nhị dấy binh đánh Định,
vây hãm Giao Châu; các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, hai chị em bèn
bình định được sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại tự lập làm vua, xưng hiệu là Trưng Vương,
đóng đô ở thành Ô Diên (…). Viện đem quân đến đánh, bộ hạ Bà Trưng đều bỏ chạy. Bà thế cô
và bị hại trong trận. Có chỗ nói rằng bà lên núi Hy Sơn rồi không biết đi đâu mất. Người trong
châu thương cảm, lập miếu thờ ở cửa sông Hát Giang để phụng thờ. Phàm những người gặp tai
nạn đến cầu đảo đều ứng nghiệm (…). Về sau, hai bà lại thác mộng cho vua xin lập đền ở bãi
Đồng Nhân. Vua nghe theo, sách phong làm Trinh linh nhị phu nhân. Triều Trần lại gia phong
cho mỹ tự là Hiền Liệt Chế Thắng Thuần Bảo Thuận. Cho đến nay vẫn được bao phong đời đời,
lửa hương không dứt” [8, Tr. 82–84]. Câu chuyện về Bà Trưng được lập đền thờ phụng, khói
hương, ngoài thái độ ngưỡng mộ, tôn trọng ra, còn là biểu hiện sự thương cảm, an ủi sâu sắc
của cộng đồng đối với người phụ nữ tiết liệt.
Ngoài những gương phụ nữ được đề cao phẩm hạnh, khí phách như trên, truyện truyền
kỳ còn có một dạng người nữ khác cũng rất đặc biệt. Đó là “kỳ nữ” – những người nữ có hành
trạng lạ thường, liên quan đến những điều quái dị. Nếu như các “liệt phụ” đều được sắc phong
và đều hiển thánh dưới nhiều hình thức, thì kỳ nữ lại hiển linh theo cách thức kỳ bí, linh diệu.
Trong Kiến văn lục của Vũ Trinh, có rất nhiều truyện về chủ đề “kỳ nữ”. Nhân vật nữ ở các
tử truyện”. Nhân vật Vũ Thị Thiết qua mô tả của tác giả là một thiếu phụ “người đã thùy mị, nết
na, lại thêm có tư dung tốt đẹp”. Cuộc sống gia đình tuy không thật hạnh phúc vì Trương Sinh,
chồng nàng “có tính hay ghen, đối với vợ đề phòng thái quá”, nhưng nàng luôn biết cách “giữ gìn
khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”. Khi Trương Sinh đăng lính, nàng
ở nhà đảm đang, nuôi con nhỏ, phụng dưỡng mẹ chồng chu đáo. Khi mẹ chồng chết, “nàng hết
lòng thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ sinh ra. Khi Trương Sinh mãn
hạn đi lính trở về, do ghen tuông mù quáng nên luôn tìm cớ đánh mắng, ngược đãi vợ. Bi kịch xảy
đến khi Vũ Thị Thiết không thể chịu đựng nỗi oan ức, phải tìm đến cái chết. “Đoạn rồi nàng tắm
gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang, ngửa mặt lên trời mà than: Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm
hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ. Thần sông có linh, xin ngài chứng
giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống
đất xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá
tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, chẳng những là chịu khắp mọi người phỉ nhổ”. Nói xong nàng
gieo mình xuống sông mà chết.
Điều cần lưu ý ở hình tượng nhân vật này là nó được xây dựng dựa trên những căn cứ có
thật: Bà Vũ là người có thật, đền thờ Vũ Nương là thật (hiện nay là di tích văn hóa). Theo nhà
nghiên cứu Nguyễn Phong Nam thì “Xung quanh cuộc đời của nhân vật nữ này, từ chỗ một
con người có thật ở thôn Vũ Điện, Nam Xương/ Xang (thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam),
sau đó trở thành Vũ Nương Công Chúa, rồi tiếp đến thành hình tượng Bà Vũ trong tâm thức
dân gian… là cả một chuỗi các tích, thoại được chuyển hóa dần dần. Một loạt các sự tích, chẳng
30
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 127, Số 6A, 2018
hạn, cuộc hôn nhân của Hương Nương (tên hiệu của Vũ Thị Thiết) và Trương Huyền/ Trương
Sinh (được chép trong ngọc phả gia tộc họ Vũ), chuyện Bà Vũ cứu người chết nước, chuyện Bà
Vũ giúp dân quê chống chọi với thủy tai (được truyền tụng trong dân chúng qua nhiều đời); rồi
tại hiện hữu của nó. Đất nước ngày hôm nay hình thành nhờ công sức của tiền nhân, được tổ
tiên phù trợ; những anh linh, sự tuấn kiệt của những con người đã làm nên những trang sử vẻ
vang vẫn luôn hiện tồn trong tâm thức của mọi người dân đất Việt. Điều này đã khẳng định
một đặc tính quan trọng của loại hình truyện truyền kỳ Việt Nam: tinh thần dân tộc và dấu ấn
lịch sử đã góp phần tạo nên nét đặc trưng và tính khu biệt của loại hình này trong văn xuôi cổ
điển Việt Nam so với các quốc gia đồng văn khác.
31
Tập 127, Số 6C, 2018
Quảng Văn Ngọc
Tài liệu tham khảo
1. Lý Tế Xuyên (1968), Việt điện u linh tập (Lê Hữu Mục dịch và viết lời tựa), Nxb. Khai Trí, Sài Gòn.
2. Trần Thế Pháp (2011, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San dịch), Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Trẻ.
3. Đỗ Bình Trị (2017), Mấy nghiên cứu – ứng dụng học thuyết của V.Ja. Propp về Folklore (tập 1), Nxb. Giáo
dục Việt Nam, Hà Nội.
4. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên, 1999), Truyện truyền kỳ Việt Nam (Quyển 2), Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
5. Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án (1966), Tang thương ngẫu lục (Trúc Khê dịch chú), Nxb. Khai Trí, Sài
Gòn.
6. Phạm Văn Hưng (2016), Tự sự của trinh tiết – Nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thế kỷ X
– XIX, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Đoàn Thị Điểm (2010), Truyền kì tân phả (Hoàng Hữu Yên viết tựa), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
8. Vũ Trinh (2004, Hoàng Văn Lâu dịch), Lan Trì kiến văn lục, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
9. Vũ Trinh (2004, Hoàng Văn Lâu dịch), Lan Trì kiến văn lục, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
10. Nguyễn Phong Nam (2016), “Bàn về quan điểm tiếp cận Nam Xương nữ tử truyện của Nguyễn
Dữ”, Tạp chí Khoa học & Giáo dục, số 2.
11. Nguyễn Đăng Na (2000), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (tập 1 Truyện ngắn), Nxb. Giáo dục,
Hà Nội.