SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ 1 TP LÀO CAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:Sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam
thế kỷ XVI- XVIII. Lớp 10 – Chương trình chuẩn
Giáo viên: Lương Thanh Huyền
Tổ: Sử - Địa – GDCD
Đơn vị: Trường THPT số 1 thành phố Lào Cai
Lào Cai, tháng 03 năm 2014
1
MỤC LỤC
I. Phần mở đầu
Trang 2
1. Lí do chọn đề tài
2
2. Mục đích sáng kiến
2
3. Đối tượng sáng kiến
3
2. Thực trạng của vấn đề
6
3. Các bước tiến hành sử dụng tư liệu trong giảng dạy Lịch sử Việt Nam
từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII
7
3.1: Tìm tòi, tập hợp tư liệu
7
3.2: Chắt lọc nguồn tư liệu, xây dựng ý đồ cho bài giảng sử dụng tư liệu
lịch sử đảm bảo thời gian, phù hợp với nội dung từng mục từng phần trong bài
giảng
27
3.3: Vận dụng nguồn tư liệu lịch sử ...
28
4. Tác dụng của việc sử dụng tư liệu lịch sử ...
30
5. Một số lưu ý khi sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học
31
phát triển chứ không phải đi sau, phản ánh sự phát triển của xã hội loài người.
Có thể nói, giáo dục - đào tạo đang bị sức ép từ nhiều phía, nhất là sức ép giữa
lượng trí thức ngày càng tăng và sự tiếp nhận có giới hạn của con người. Trong
khi mặt bằng chất lượng giáo dục – đào tạo trên thế giới còn chênh lệch thì yêu
cầu nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo ở nước ta ngày càng trở nên cấp
thiết.
Hiện nay, quan niệm dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” đã và đang
đạt hiệu quả tốt bởi sự nỗ lực của những người làm công tác giáo dục, những
nhà giáo tận tâm không ngừng vận dụng các kỹ thuật dạy học mới, đổi mới
phương pháp cho phù hợp với kiểu bài, với đặc trưng bộ môn, biết tích hợp các
nội dung vào bài học và vận dụng kiến thức liên môn để làm rõ vấn đề.
Đối với bộ môn Lịch sử, không thể phủ nhận trong sự nghiệp giáo dục,
môn Lịch sử ở trường phổ thông đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục
lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với sự
phát triển của nước nhà. Đã có nhiều thầy cô giáo tâm huyết với nghề, thường
xuyên đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao tính hấp dẫn của môn
học và đào tạo được những thế hệ trẻ hiểu và trân trọng những giá trị mà bộ môn
đem lại. Nhưng những năm gần đây, thông qua các kỳ thi tốt nghiệp trung học
phổ thông, thi tuyển sinh Đại học- Cao đẳng, các cuộc điều tra xã hội học, dư
luận xã hội cho thấy nhận thức về lịch sử của thế hệ trẻ còn rất hạn chế, và kết
luận phần lớn học sinh không thích học môn Lịch sử, coi đó là môn học phụ với
quá nhiều sự kiện khô khan và nhàm chán...
3
Năm học 2013-2014, cùng với sự đổi mới trong quy chế thi, hình thức và
môn thi tốt nghiệp THPT. Theo đó ngoài hai môn thi bắt buộc là Toán và Ngữ
văn, học sinh được chọn hai môn còn lại trong số các môn Ngoại Ngữ, Hóa, Lý,
Sinh, Sử, Địa. Tỉ lệ học sinh chọn môn Lịch sử rất ít, thậm chí có những trường
6. Phạm vi nghiên cứu và kế hoạch nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của sáng kiến: Tập trung nghiên cứu một số biện
pháp, cách thức sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam thế kỷ
XVI-XVIII, vận dụng vào bài 21, bài 22, bài 23, bài 24 sách giáo khoa Lịch Sử
10- chương trình cơ bản tại trường trung học phổ thông số I thành phố Lào Cai.
- Kế hoạch nghiên cứu:
Thời gian
Kế hoạch thực hiện
Tháng 9,10-2013
Tìm hiểu, nghiên cứu và xác định nội dung đề tài sáng kiến kinh
nghiệm
Tháng 11 và 12- Triển khai viết đề cương sáng kiến kinh nghiệm và nội dung phần
mở đầu
2013
Tháng 01 và 02- Xác định tiến trình phần nội dung SKKN và triển khai viết phần
nội dung SKKN và thực hiện áp dụng vào thực tiễn giảng dạy ở
2014
các lớp
Tháng 03/2014
Lấy ý kiến tổng hợp kết quả thực nghiệm để đánh giá hiệu quả của
đề tài. Viết phần kết luận và hoàn thiện SKKN.
Qua thực tế giảng dạy và trong phạm vi của đề tài, tôi thiết nghĩ giải thích
một cách dễ hiểu nhất, tư liệu lịch sử là các sự kiện, tài liệu mà mỗi giáo viên
cần phải sưu tầm để tìm hiểu quá trình lịch sử đang học. Tư liệu càng sinh động,
phong phú bao nhiêu thì sự kiện càng cụ thể và càng hay bấy nhiêu. Thiết nghĩ,
trong giảng dạy lịch sử, điều kiện cơ bản nhất để tái tạo hình ảnh quá khứ là tư
liệu lịch sử. Nếu không có nguồn tư liệu phong phú, không cung cấp được
nguồn tư liệu cụ thể chân thực thì dù có vận dụng phương pháp giảng dạy nào đi
chăng nữa cũng không thể đạt hiệu quả mong muốn.
Nói như vậy để thấy rằng, các nguồn tư liệu lịch sử có vai trò cực kỳ quan
trọng, như nhà sử học Ba Lan J.iopolski đã viết: Tư liệu luôn là tài sản quý giá
nhất của nhà sử học, không có nó ta không thể là nhà sử học. Và nếu xem một
công trình nghiên cứu lịch sử là một món ăn thì các nguồn tư liệu chính là
những sản phẩm, những gia vị để chế biến nên món ăn đó. Không có nguồn tư
liệu thì lịch sử không thể được viết ra "không có cái gì có thể thay thế tư liệukhông có chúng thì không có lịch sử".
6
1.2. Các loại hình tư liệu lịch sử
Khoa học lịch sử có nguồn tư liệu hết sức phong phú và đa dạng. Tùy theo
nội dung phản ánh và tính chất mà người ta thường chia tư liệu lịch sử ra thành
các nhóm: tư liệu thành văn, tư liệu vật chất, tư liệu truyền miệng, tư liệu tranh
ảnh, phim ảnh.... Nhưng cũng có những sách lại chỉ chia làm hai loại là tư liệu
trực tiếp (xuất hiện cùng với sự kiện, thuộc về sự kiện và thường được coi là
nguồn tư liệu gốc có giá trị) và tư liệu gián tiếp (là phản ánh lịch sử qua thông
tin gián tiếp, với mục đích truyền đạt thông tin- qua tác giả sử liệu, ở đó các sự
kiện xảy ra không đồng thời với tư liệu).
Nhưng dù là loại hình tư liệu nào cũng đều nhằm mục đích làm rõ, sinh
động và cụ thể sự kiện lịch sử đang tìm hiểu. Tùy đặc thù từng chương, bài,
mục, phần trong bài dạy mà giáo viên có cách vận dụng tư liệu cho phù hợp.
2. Thực trạng của vấn đề
song trong phạm vi của sáng kiến, căn cứ vào đặc thù bài học và đối tượng học
sinh, tôi xin nêu ra hai loại hình tư liệu lịch sử phổ biến được sử dụng trong
giảng dạy lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đó là tư liệu tranh
ảnh, sơ đồ, bảng biểu và tư liệu thành văn. Cụ thể như sau:
a. Đối với bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các
thế kỷ XVI- XVIII.
- Tư liệu thành văn:
+ Lê Uy Mục (1505-1509): Sao nhãng triều chính, "đêm đêm cùng cung
nhân uống rượu vô độ, ai say thì giết". Giết các công thần, tôn thất có ý không
ủng hộ mình, tính hung hãn đến nỗi một sứ thần Trung Quốc đã phải gọi y là
"vua quỷ". Vì vậy người trong hoàng tộc hợp quân giết Uy Mục và lập Tương
Dực.
+ Lê Tương Dực: Hoang dâm vô độ, thường bắt phụ nữ cởi truồng chèo
thuyền cho mình đi chơi trên Hồ Tây. "Nhà vua tính hiếu dâm như tướng lợn,
loạn vong không còn lâu nữa."
+ Bọn quý tộc ngoại thích dựa thế nhà vua, kết thành bè đảng "phàm súc
vật, hoa màu của dân gian đều cướp cả, nhà dân ai có đồ lạ, vật quý thì đánh dấu
để lấy."
+ Mạc Đăng Dung (1527-1529): Mạc Đăng Dung quê ở làng Cổ Trai,
huyện Nghi Dương (Hải Dương) là cháu bảy đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh
8
Chi làm quan đến chức Tể tướng thời Trần, bố là Mạc Hịch, mẹ là Đặng Thị
Hiến. Mạc Đăng Dung sinh ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão - 1483. Thời trẻ,
Mạc Đăng Dung có sức khoẻ phi thường, tướng mạo khôi ngô. Ông xuất thân từ
một thanh niên nghèo, làm nghề đánh cá, trong một dịp đi thi võ ở kinh đô đã
trúng Đô lực sĩ và được sung vào Châu túc vệ chuyên cầm dù đi theo vua. Mạc
Đăng Dung tiến rất nhanh trên con đường hoan lộ, năm 1511 mới 29 tuổi đã
được phong tước Vũ xuyên bá. Năm 1516, Mạc Đăng Dung được cử làm Trấn
10
+ Lãnh thổ sau cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn
b. Đối với bài 22: Tình hình kinh tế ở các thế kỷ XVI-XVIII.
- Tư liệu thành văn
+ Nông nghiệp: Nhiều người nuớc ngoài có mặt thời đó đã rất ngợi ca sự
trù phú của đất đai. Giáo sĩ Marini trong tập ký sự về Đường ngoài đã để hẳn
một chương để mô tả "sự màu mỡ của Vương quốc" này ("Vương quốc xứ Đàng
11
ngoài"). Marini viết: "Đất đai màu mỡ và không lúc nào nghỉ sản xuất. Nhân
dân rất hiểu giá trị của ruộng đất nên không bỏ hoang và những người nội trợ
giỏi, sau khi thu hoạch mùa màng xong, lập tức lại cày bừa ngay và gieo hạt. Và
như vậy mỗi năm họ thường thu được 2, 3 vụ. Ở những nơi nào không trồng lúa
được thì họ trồng cây ăn quả và thu hoạch lớn. Cây cối tươi tốt đến nỗi lúc nào
cũng chỉ thấy một màu xanh tựa như một khu rừng với một mùa xuân vĩnh
viễn".
Về giống lúa, theo ghi chép của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII: Vùng châu thổ
sông Hồng có 8 giống lúa chiêm, 27 giống lúa mùa, 29 giống lúa nếp. Nông
nghiệp Đàng Trong có 26 giống lúa nếp, 23 giống lúa tẻ.
"Tháng tư hàng năm lúa chín đầy đồng, gặt hái không kịp, mỗi mẫu thu hoạch từ
90 đến 120 gánh lúa."
Theo giáo sĩ Bo-ri: "Đất đai màu mỡ và sinh lợi....đến nỗi hàng năm họ
gặt lúa 3 lần, thu hoạch được một lượng thóc phong phú đến mức không ai cần
lao động thêm để kiếm sống....quanh năm họ có nhiều hoa quả, những thứ lạ như
dưa bở, dưa chuột, dưa hấu, mít, sầu riêng, dừa, trầu cau, bắp cải, thuốc lá,
Thì Nhậm: Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao
sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ giả
cho Thiên tử. Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được
đời dùng, thì đó không phải là ý Trời sinh ra người tài vậy."
Người hiền tài phải phục vụ đắc lực cho nhà vua. Nếu không làm như vậy là trái
ý Trời. Hiền tài là tinh hoa của Trời Đất nên lẽ đương nhiên là họ phải đem hết
tài đức phục vụ cho dân, cho nước.
"Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những
người tài cao học rộng chưa thấy có ai tìm đến. Hay trẫm ít đức không đáng để
phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?"
"Chiếu này ban xuống, các bậc quan lại lớn nhỏ, cùng với thứ dân trăm
họ, người nào có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, cho phép được dâng sớ
tâu bày sự việc. Lời nói nào có tể chọn dùng được thì cất nhắc không kể thứ bậc,
chỗ nào không dùng được thì gác lại, không vì lời nói sơ suất vu khoát mà bắt
tội. Còn người có nghề hay nghiệp giỏi, có thể cống hiến cho đời, thì hãy cho
phép các quan văn quan võ được tiến cử, nhưng vẫn dẫn vào đợi ra mắt, tuỳ tài
lục dụng. Hoặc người nào từ trước đến nay tài năng còn bị che kín, chưa được
người đời biết đến thì cũng cho phép dâng sớ tự tiến cử..."
d. Bài 24: Tình hình văn hóa ở các thế kỷ XVI-XVIII.
- Về tư tưởng, tôn giáo:
+ Nho giáo: "Trong tay có sẵn đồng tiền
Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì
Còn bạc còn tiền còn đệ tử
Hết cơm hết rượu hết ông tôi
(Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm)
+ Đạo Thiên Chúa: Kể chuyện Alexandre de Rhodes (phiên âm tiếng
Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ hay Cha Đắc Lộ, A-lếc-xăng Đơ-rốt; 15 tháng 3
20
20 năm, ông bị trục xuất đến sáu lần. Nhưng sau cả sáu lần ấy, ông đều tìm cách
trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép.
Ông đến truyền giáo ở Đàng Trong vào năm 1625 dưới thời chúa Nguyễn
Phúc Nguyên và ở Đàng Ngoài vào năm 1626 dưới thời chúa Trịnh Tráng. Thời
gian Alexandre de Rhodes giảng đạo tại Việt Nam cũng là thời kỳ các cha thừa
sai dòng Tên hoạt động rất hăng say và hữu hiệu. Riêng Alexandre de Rhodes,
ông đã truyền đạo từ Nam ra Bắc.
Ông kể lại công cuộc truyền giáo tại Đàng Ngoài: Khi chúng tôi vừa đến
kinh đô Bắc Kỳ, tức khắc nhà vua truyền lệnh cho tôi phải xây một nhà ở và một
nhà thờ thật đẹp. Dân chúng tuốn đến nghe tôi giảng đạo đông đến nỗi, tôi phải
giảng đến 4 hoặc 6 lần trong một ngày. Chị vua và 17 người thân trong gia đình
vua xin lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Nhiều tướng lãnh và binh sĩ cũng xin theo
đạo. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là thấy các vị sư đã mau mắn từ bỏ bụt
thần để theo đạo Công giáo. Tất cả đều dễ dàng chấp nhận khi tôi giải thích cho
họ hiểu giáo lý đạo Công giáo rất phù hợp với lý trí và lương tâm con người.
Các tín hữu Công giáo Việt Nam có Đức Tin vững chắc đến độ, không gì có thể
rút Đức Tin ra khỏi lòng họ. Nhiều người phải đi bộ suốt 15 ngày đường để
được xưng tội hoặc tham dự thánh lễ. Nhưng phải thành thật mà nói, tôi không
thể chu toàn cách tốt đẹp mọi công tác truyền đạo này, nếu không có trợ giúp
tuyệt vời của các thầy giảng. Vì nhận thấy mình là linh mục duy nhất giữa một
cánh đồng truyền đạo bao la, nên tôi chọn trong số các tín hữu, những thanh
niên không lập gia đình và có lòng đạo đức sâu xa cũng như có nhiệt tâm rao
giảng Tin Mừng, để giúp tôi. Những người này công khai thề hứa sẽ dâng hiến
cuộc đời để phụng sự Chúa, phục vụ Giáo hội, sẽ không lập gia đình và sẽ vâng
lời các cha thừa sai đến Việt Nam truyền đạo. Hiện tại có tất cả 100 thầy giảng
đang được thụ huấn trong chủng viện và được các tín hữu trang trải mọi phí
tổn.
+ Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, sân khấu ca múa nhạc
Chùa Thiên Mụ: hay còn gọi là chùa Linh Mụ là một ngôi chùa cổ nằm
trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng
5 km về phía tây. Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời
chúa Tiên Nguyễn Hoàng -vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong. Truyền
thuyết kể rằng, khi chúa Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa kiêm
trấn thủ Quảng Nam, ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị
cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau
này. Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương ngược lên đầu nguồn,
ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế
đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại, ngọn đồi này có tên là đồi Hà
Khê. Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão
mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi, nói với mọi người: "Rồi đây sẽ có một vị
chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng
mạnh". Vì thế, nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn.
24
Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịp được với ý
nguyện của dân chúng. Nguyễn Hoàng cả mừng, vào năm 1601 đã cho dựng
một ngôi chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương, đặt tên là "Thiên Mụ". Dựa
theo huyền thoại, đồng thời căn cứ hình dạng Hán tự từng ghi trên bao tài liệu
cấu tạo bằng nhiều chất liệu, đủ khẳng định rằng trong tên Thiên Mụ, ngữ tố
"Thiên" có nghĩa là "trời". Năm 1862, dưới thời vua Tự Đức, để cầu mong có
con nối dõi, nhà vua sợ chữ "Thiên" phạm đến Trời nên cho đổi từ "Thiên Mụ"
thành "Linh Mụ" (hay "Bà mụ linh thiêng"). Sau đó, người dân thoải mái gọi hai
tên: chùa Thiên Mụ và chùa Linh Mụ. Vì rằng từ "Linh" đồng nghĩa với
"Thiêng", âm người Huế khi nói "Thiên" nghe tựa "Thiêng" nên khi người Huế
nói "Linh Mụ", "Thiên Mụ" hay "Thiêng Mụ" thì người nghe đều hiểu là muốn
nhắc đến ngôi chùa này. Với cảnh đẹp tự nhiên và quy mô được mở rộng ngay