Luận văn: Khai thác và sử dụng tư liệu trên Internet trong dạy học lịch sử thế giới (1917 – 1945) lớp 11 trung học phổ thông chương trình chuẩn - Pdf 30

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
NGUYN C VNG
KHAI THáC Và Sử DụNG TƯ LIệU TRÊN INTERNET
TRONG DạY HọC LịCH Sử THế GIớI (1917 1945), LớP 11
TRUNG HọC PHổ THÔNG - CHƯƠNG TRìNH CHUẩN
Chuyờn ngnh: Lí LUN V PHNG PHP DY HC LCH S
Mó s: 60.14.01.11

TểM TT LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
H NI - 2014
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây,Việt Nam đang có bước chuyển mình mạnh
mẽ về kinh tế, hướng tới mục tiêu đến năm 2020 đất nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp. Để thực hiện được nhiệm vụ trên, “con người”sẽ là yếu tố
quyết định. Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng và
phát triển giáo dục – đào tạo. Trong Điều 27.1 Luật giáo dục 2011 (sửa đổi bổ
sung) chỉ ra “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển
năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham
gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [6].Thực hiện mục tiêu trên, các bộ môn ở
trường phổ thông đã và đang áp dụng những PPDH tích cực để nâng cao chất
lượng, trong đó có môn Lịch sử. Với lợi thế trong việc rèn luyện phẩm chất
đạo đức cho HS, các nhà giáo dục LS đã dày công nghiên cứu để đưa ra
những phương pháp dạy học mới, tiến bộ góp phần thực hiện mục tiêu của
Đảng và Nhà nước.
Một trong những biện pháp nâng cao chất lượng DHLS là việc đa dạng
hóa nguồn kiến thức HS tiếp nhận. Bên cạnh những kiến thức cơ bản trong

lớp 11 ở trường phổ thông. Giai đoạn LS này cung cấp cho HS những hiểu
biết về phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới, sự thành lập nhà
nước vô sản đầu tiên ở Liên Xô, tình hình của các nước tư bản giữa hai cuộc
chiến tranh và CTTG thứ hai. Một giai đoạn quan trọng cần phải giáo dục cho
HS nhận thức đúng về những sự kiện đã diễn ra, góp phần làm rõ thêm LSTG
và LS dân tộc.
Xuất phát từ cơ sở và thực tế nêu trên,chúng tôi chọn vấn đề “Khai
thác và sử dụng tư liệu trên Internet trong dạy học lịch sử thế giới (1917 –
1945) lớp 11 trung học phổ thông - chương trình chuẩn” làm đề tài luận
văn thạc sĩ, chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học lịch sử, mã số
60.14.01.11.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khai thác và sử dụng tư liệu tham khảo nói chung, tư liệu trên Internet
trong dạy học lịch sử nói riêng có vai trò quan trọng đối GV và HS, nên đã
được các nhà giáo dục nói chung và các nhà giáo dục lịch sử nói riêng trên thế
giới và trong nước quan tâm. Chúng tôi xin khái quát LS nghiên cứu vấn đề
liên quan đến đề tài thành hai nhóm chính:
2.1. Tài liệu về sử dụng tư liệu trong dạy học nói chung, trong môn
lịch sử nói riêng
2.1.1.Trên thế giới
Ở Liên Xô(cũ), việc sử dụng tư liệu trong DH rất được coi trọng. Trong
công trình “Giáo dục học”, tập 2 của T.A.Ilinna, “Những cơ sở của lý luận
dạy học hiện đại”, tập 2 của B.P.Exipôp đã khẳng định trong DHLS cần phải
tổ chức sử dụng báo, tạp chí, những truyền đơn cách mạng, các sổ tra cứu
thông kê, những tác phẩm của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mac – Lênin
N.G.Đairi, trong cuốn “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào?” đã
đưa ra sơ đồ Đairi, trong đó phân tích rất kĩ cách sử dụng sách giáo khoa
và các loại tư liệu tham khảo khác. Theo Đairi, tư liệu tham khảo làm cho
bài học thêm phong phú, nó đòi hỏi việc phát huy tính tích cực dạy và học
của GV, HS.

được các nhà giáo dục học và giáo dục LS chú ý. Trong cuốn “Giáo dục học”
Tập 1, Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã nói rõ tầm quan trọng của phương
pháp sử dụng tư liệu tham khảo. Theo các tác giả, nếu sử dụng đúng tư liệu
tham khảo sẽ có tác dụng mở rộng, đào sâu vốn hiểu biết một cách có hệ
thống và sinh động
Đối với bộ môn Lịch sử, việc nghiên cứu phương pháp sử dụng tư liệu
tham khảo trong dạy học, lần đầu tiên được đặt ra trong quyển “Phương pháp
dạy học Lịch sử” (NXB Giáo dục, 1966) của nhóm tác giả Trần Văn Trị,
Phan Ngọc Liên, Hoàng Trọng Hạnh, Nguyễn Cao Lũy, Nguyễn Tiến Cường.
Tiếp đó, cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập I, xuất bản 1976 do
Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (chủ biên), đặc biệt là cuốn “Phương pháp dạy
học lịch sử” (xuất bản 1992), tái bản có sửa chữa và bổ sung nhiều lần trong
các năm 1988, 1999, 2000, 2001 tiếp tục đề cập đến vị trí, vai trò và PP sử
dụng tư liệu DH, bao gồm các tư liệu LS và tư liệu văn học
Năm 2002, cuốn “Phương pháp dạy – học lịch sử” tập 1, tập 2 do Phan
Ngọc Liên (chủ biên) đã phân ra rõ các loại tư liệu tham khảo có thể sử dụng
trong dạy học lịch sử như tư liệu lịch sử, tư liệu văn kiện Đảng, Nhà nước,
các tác phẩm của Hồ Chí Minh, tư liệu văn học đồng thời nêu vai trò và PP
sử dụng mỗi loại tư liệu nêu trên.
Trong quyển “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử”do các
tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường
(đồng chủ biên) có phần “Sử dụng tài liệu trong dạy học lịch sử”. Sách đã đề
cập đến việc sử dụng tư liệu Hồ Chí Minh, văn kiện Đảng trong nghiên cứu,
biên soạn lịch sử và các biện pháp sư phạm trong DHLS ở trường phổ thông.
Cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử (2009)”của
Nguyễn Thị Côi đã khẳng định sử dụng các loại tư liệu vào dạy học không
những góp phần làm cho bài giảng phong phú đa dạng, làm sâu sắc nội dung
sách giáo khoa, mà còn mở rộng hiểu biết của học sinh về kiến thức, văn hóa
nói chung như khảo cổ học, văn học, nghệ thuật, địa lý
Liên quan đến đề tài của chúng tôi còn có luận án tiến sĩ của Hoàng Đình

thiết bị DH hiện đại. Tác phẩm đề cập, nếu người học vừa được nghe, vừa được
nhìn thông qua hình ảnh, kết hợp với các hoạt động khác (tức là huy động cùng
nhiều giác quan một lúc) thì kết quả lĩnh hội kiến thức của HS đạt 90% [33; tr. 10]
2.2.2.Trong nước
Những tài liệu trong nước cũng đã đề cập đến vai trò và phương pháp sử
dụng tư liệu trên Internet trong DHLS.
Trước tiên phải kể đến bộ giáo trình “Phương pháp DHLS”, tập 1 và 2
của Phan Ngọc Liên(chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi [48], [49];
Cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn LS” (2009) của Nguyễn Thị
Côi (chủ biên) bao gồm 8 chương, trong đó chương VI do hai tác giả Đoàn
Văn Hưng và Nguyễn Mạnh Hưởng đề cập các phương tiện kĩ thuật và việc
bồi dưỡng kĩ năng khai thác thông tin trên mạng Internet trong DHLS ở
trường phổ thông.Trong chương này, hai tác giả đã đề cập đến vai trò của
mạng Internet có nhiều chức năng nhằm phục vụ cho nhiều lĩnh vực hoạt
động của xã hội. Ngày nay, trong dạy học, việc GV và HS được trang vị
những kĩ năng có bản để tìm kiếm, khai thác, gửi và nhận thông tin qua
Internet là rất cần thiết.[14;tr. 129] Đây là những giáo trình, tài liệu chính
thống dành cho sinh viên sư phạm các trường đại học và cao đẳng có nội
dung đề cập việc sử dụng Internet trong quá trình DHLS ở trường phổ thông
Tác giả Thái Duy Tuyên trong cuốn “Những vấn đề cơ bản giáo dục học
hiện đại” đã viết “Đưa máy tính điện tử vào quá trình dạy học – giáo dục.
Điều đó sẽ làm thay đổi bản chất của quá trình dạy học và nâng chất lượng
dạy học lên một cấp độ mới”[ 71;tr. 67]
Trong bài viết “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học ở Đại học, Cao
đẳng trong thời đại bùng nổ thông tin”, tác giả Nghiêm Đình Vỳ (Ban Khoa
giáo TW) cũng nhấn mạnh vai trò của Internet trong thời đại ngày nay và
khẳng định: “Cần tận dụng nó để đổi mới phương pháp dạy học, làm sao để
cho sinh viên được học tập suốt đời”[73;tr. 9]
Tác giả Phan Trọng Luận (Đại học sư phạm Hà Nội), trong bài viết “Hai
chìa khóa vàng cho cuộc cách mạng học tập thế kỷ XXI” đăng trên tạp chí

đại và trung đại lớp 10, chương trình chuẩn)”(2010) [64] khẳng định vai trò
của việc khai thác và sử dụng tư liệu trên Internet và định hướng hình thành kĩ
năng khai thác và sử dụng tư liệu trên Internet cho HS trong học tập LS.
Nhìn chung, dù mục đích nghiên cứu khác nhau, ở những lĩnh vực khác
nhau, nhưng các tác giả đều khẳng định tầm quan trọng của Internet trong tất cả
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục và cần phải sử dụng nó. Đây là
một biên pháp để nâng cao hiệu quả dạy hoc các bộ môn nói chung và môn lịch
sử nói riêng. Tuy vậy, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
khai thác và sử dụng tư liệu trên Internet trong dạy học lịch sử thế giới (1917 –
1945). Vì vậy, chúng tôiquyết định chọn vấn đề trên để làm đề tài nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm:
- Tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của việc khai thác và sử dụng tư
liệu trên Internet trong DHLS.
- Khảo sát, điều tra thực tiễn khai thác và sử dụng tư liệu trên Internet
trong DHLS ở trường THPT.
- Đề xuất, hướng dẫn các phương pháp khai thác và sử dụng tư liệu trên
Internet trong DHLS thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT – chương trình chuẩn.
- Soạn bài và thực nghiệm sư phạm (TNSP) bài 12, “Nước Đức giữa hai
cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)”, lớp 11 - chương trình chuẩn để
khẳng định tính khả thi của đề tài và rút ra kết luận, kiến nghị.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình khai thác và sử dụng tư liệu
trên Internet đối với GV trong DHLS phần LSTG (1917 – 1945), lớp 11-
chương trình chuẩn.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không đi sâu về mặt kĩ thuật mà trên cơ sở nghiên cứu về lí
luận liên quan đến đề tài, chúng tôi tập trung đề xuất, định hướng GV và HS
các phương pháp khai thác, sử dụng tư liệu trên Internet trong DHLS, tập
trung vào giờ học nội khóa.

Cơ sở phương pháp luận của đề tài đứng trên quan điểm lí luận của chủ
nghĩa Mac – Lênin về nhận thức và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng và Nhà nước về giáo dục phổ thông, đặc biệt quan điểm giáo dục lịch sử
cho học sinh phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
Đề tài cũng dựa vào lí luận Tâm lí học, Giáo dục học, Phương pháp dạy
học lịch sử của các nhà khoa học giáo dục và giáo dục lịch sử, cùng một số
vấn đề có liên quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn vận dụng nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình
nghiên cứu như phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp phân
tích, so sánh. Nhưng do tính chất và đặc trưng của đề tài thuộc lĩnh vực lí luận
về phương pháp dạy học, nên chúng tôi tập trung vào bốn nhóm sau:
- Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về Tâm lí học, Giáo dục
học, Phương pháp dạy học bộ môn, nghiên cứu chương trình, nội dung sách
giáo khoa lớp 11 và các nguồn tư liệu khai thác trên mạng Internet liên quan
đến dạy học.
- Nghiên cứu thực tiễn qua điều tra, khảo sát, phỏng vấn, bảng hỏi Tác
giả tìm hiểu, nghiên cứu chương trình SGK LS lớp 11 THPT – chương trình
chuẩn để xác định vị trí kiến thức trọng tâm, kiến thức tham khảo Trên cơ
sở đó đề xuất các hình thức, biện pháp khai thác tư liệu trên Internet trong
DHLS TG (1917 – 1945) để nâng cao hiệu quả bài học.
- Thực nghiệm sư phạm, tác giả chọn bài 12: Nước Đức giữa hai cuộc
chiến tranh thế giới (1918 – 1939) theo các biện pháp đã đề xuất nhằm khẳng
định tính khả thi của đề tài và rút ra kết luận, kiến nghị.
- Vẽ biểu đồ đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm, làm căn cứ để rút ra
nhận xét.
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa lí luận
Đề tài góp phần nâng cao nhận thức của chúng tôi về lí luận DH nói
chung và DH bộ môn LS nói riêng, đặc biệt là vai trò, ý nghĩa của việc khai

ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận và xuất phát của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài
Trong đề tài có các khái niệm quan trọng cần phải làm rõ gồmkhai thác
và sử dụng, tư liệu và tài liệu, tư liệu lịch sử và tài liệu lịch sử, khai thác và sử
dụng tư liệu trên Internet trong DHLS.
* Khai thác và sử dụng
Theo từ điển tiếng Việt, “Khai thác” là “Tiến hành hoạt động để thu lấy
những nguồn lợi có sẵn trong thiên nhiên”. Hoặc có thể hiểu theo nghĩa thứ
hai là “Phát hiện và sử dụng những cái có ích ẩn giấu hoặc chưa được sử
dụng”[72; tr.490]
Sử dụng là “Đem dùng vào mục đích nào đó”[72;tr. 876]
Trong giáo dục, GV có thể khai thác những nguồn tri thức có trong
Internet, sử dụng nguồn tri thức này góp phần làm phong phú đa dạng kiến
thức của HS tiếp thu được qua SGK và tài liệu tham khảo.
* Tư liệu và tài liệu
Khái niệm tư liệu. Theo từ điển tiếng Việt Tư liệu là những thứ vật chất
con người sử dụng trong một lĩnh vực hoạt động nhận thức nào đó (đất đai là
tư liệu quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp ), tư liệu còn là tài liệu
sử dụng cho việc nghiên cứu (thu thập tư liệu, xử lí tư liệu )[72; tr. 1071].
Cũng theo Từ điển tiếng Việt, tài liệu là “văn bản giúp cho việc tìm hiểu
một vấn đề gì” như tài liệu học tập, tài liệu tham khảo; tài liệu cũng có thể
hiểu như tư liệu [72; tr. 884].
Từ các khái niệm nêu trên chúng ta có thểphân biệt hai khái niệm tư liệu
và tài liệu. Tư liệu bao hàm nghĩa rộng hơn tài liệu, tư liệu có thể là vật thể,
thành văn, tài liệu được ghi lại dưới dạng văn bản.
* Tư liệu lịch sử và tài liệu lịch sử
Trong cuốn“Phương pháp luận sử học” đã đưa ra định nghĩa: “Tư liệu
lịch sử là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã
hội nhất định, mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh

Là việc tìm kiếm các nguồn thông tin trên mạng Internet như các văn
bản, hình ảnh, âm thanh phục vụ cho việc DHLS, góp phần nâng cao chất
lượng DH. Tất nhiên, việc khai thác và sử dụng này phải đảm bảo những yêu
cầu cơ bản về tính tư tưởng, mục đích, nội dung và phương pháp sử dụng, dựa
trên quan điểm DHLS.
1.1.2. Đặc điểm tâm lí học sinh trong DHLS ở trường THPT
Quá trình nhận thức của học sinh trong học tập nói riêng, trong nhận
thức của loài người nói chung đều đi từ cảm giác đến tri giác, từ những hình
ảnh đơn giản đến khái quát. Qui luật nhận thức của con người đã được phản
ánh trong công thức nổi tiếng của Lê-nin “Từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng và tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng
của nhận thức lí tính, nhận thức hiện thực khách quan”[48; tr. 270]
Tuy nhiên quá trình nhận thức của HS có những đặc điểm khác với quá
trình nhận thức của loài người. Nếu như quá trình nhận thức của loài người
diễn ra theo con đường “mò mẫm” “thử sai” tức là khám phá cái chưa biết, đi
vào thế giới khách quan một cách độc lập, phát hiện và chứng minh những cái
mà loài người chưa biết đến trong tự nhiên xã hội và tư duy để tìm ra chân lí
mới, qui luật mới, bổ sung vào kho tàng tri thức của nhân loại thì nhận thức của
HS qua môn LS không như vậy. Đó không phải là việc tìm ra cái mới, cái chưa
biết mà các em phải tái tạo những tri thức lịch sử đã được thừa nhận, những tri
thức khoa học, tạo cơ sở cho các em khôi phục lại bức tranh quá khứ.
Đặc điểm tâm lí của HS THPT (ở lứa tuổi từ 16 – 18) thể chất và cấu tạo
não của các em đã đạt gần tới sự hoàn thiện như người lớn. Trong các hoạt
động của mình, các em đã hình thành thái độ tự khẳng định, đi liền với nó là sự
phát triển mạnh mẽ của tinh thần tự trọng, tự lập, tự lực Theo Hà Thế Ngữ thì
lứa tuổi này: “mong muốn khẳng định giá trị của phầm chất và năng lực bản
thân, mong muốn tự lập, mong muốn làm những việc có ý nghĩa ” [59;tr 72]
Nhà tâm lý học người Nga Petrvski đã nói: “ tính ham học hỏi và tính
tò mò là những đặc điểm của thiếu niên. Nó mở rộng tâm hồn để hấp thụ cái
mới, cái thú vị và lớn lao, như cái bọt biển thấm hút những tin tức khác nhau,

thể, chính xác, chính là những “hình ảnh” sinh động để khôi phục lại bức
tranh quá khứ, đúng như nó tồn tại.
Tuy nhiên, việc học tập LS không chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhớ, tái tạo
lịch sử mà phải hình thành các khái niệm, rút ra quy luật, cũng như bài học LS.
Phan Ngọc Liên đã khẳng định: “Học lịch sử cũng như các môn khác cần có trí
nhớ, song nhớ không phải là mục đích của học lịch sử mà chủ yếu là phải hiểu,
phải phát huy tính tích cực, tư duy, sáng tạo, thông mình” [45; tr 7]
Do đó, mục đích của việc học LS là HS không chỉ dừng ở ghi nhớ sự
kiện mà điều quan trọng là trên cơ sở nắm vững chương trình, SGK, hiểu
bản chất sự kiện, quá trình LS, rút ra bài học kinh nghiệm quá khứ và hiện
tại. Công việc này hoàn toàn khác với việc DH ở các môn khoa học tự nhiên
là GV hướng dẫn HS tìm hiểu, nghiên cứu “cái hiện có” và “đang tồn tại”.
Đây chính là điểm khác biệt lớn nhất giữa nhận thức LS so với các môn học
tự nhiên.
Để hiểu bản chất sự kiện, học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy,
gồm nhiều loại phối hợp, quyện chặt với nhau và không có một thao tác nào
đơn nhất trong hoạt động tư duy: so sánh, trừu tượng hóa, phân tích, tổng
hợp Trong các hình thức của tư duy, tư duy độc lập, sáng tạo là quan trọng
nhất, vì nó có những đặc trưng phù hợp với lứa tuổi HS, mục tiêu đào tạo, nội
dung và PP học tập. Tư duy độc lập, sáng tạo sẽ giúp HS học tập một cách
thông minh, hứng thú và có kết quả hơn, biết sử dụng kiến thức đã học, tiếp
thu kiến thức mới, biết đặt vấn đề để tìm hiểu giải quyết và biết lựa chọn
những vấn đề giải quyết tốt nhất. Đối với môn LS, HS biết miêu tả, tái tạo,
khôi phục những sự kiện của quá khứ, nêu được nguyên nhân xuất hiện, phát
sinh, phát triển, diệt vong của một sự kiện LS, phải biết lịch sử là một quá
trình phát triển liên tục biện chứng
Như vậy, để nhận thức LS một cách chính xác, đầy đủ là cả một quá
trình đòi hỏi sự nỗ lực cao nhất của HS– chủ thể nhận thức. Chúng ta có thể
khái quát quá trình nhận thức và hành động của HS trong học tập LS diễn ra
qua ba giai đoạn như sau.

Con đường hình thành kiến thức LS cho HS ở trường THPT
Phải được tiến hành dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức
của GV
Cung
cấp sự
kiện
Tạo biểu
tượng LS
Hình
thành
khái niệm
Nêu
qui luật,
bài học
Vận dụng
kiến thức
Giai đoạn nhận
thức cảm tính
Giai đoạn nhận
thức lí tính
Giai đoạn vận
dụng kiến thức
vào đời sống
điểm nhận thức của lứa tuổi học sinh THPT – lứa tuổi hiếu động, ưa khám
phá và thích tự khẳng định mình, vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức LS-
thông qua tư liệu LS để ‘dựng lại”LS, từ đó phát huy tính tích cực trong nhận
thức của HS, để các em hiểu LS và qua đó giáo dục HS.
1.1.4.Vai trò, ý nghĩa của việc khai thác và sử dụng tư liệu trên mạng
Internet trongDHLS ở trường THPT
1.1.4.1.Vai trò

Trong học tập LS, HS không thể “trực tiếp quan sát” những sự kiện LS
mà chỉ có thể “nhận thức được một cách gián tiếp thông qua các tài liệu
được lưu lại”. [30; tr41-44]. Chính vì vậy, khai thác và sử dụng tư liệu
Internet trong DHLS giúp HS được tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu ngoài
SGK, khắc sâu kiến thức và có thể hệ thống và khái quát được nội dung bài
học.
Khai thác và sử dụng tư liệu trên Internet đóng vai trò rất quan trọng
trong việc giáo dục HS. Qua việc được GV hướng dẫn và giao nhiệm vụ khai
thác tư liệu Internet HS sẽ được rèn luyện kĩ năng sử dụng CNTT. Bên cạnh
đó, trong quá trình khai thác nguồn tư liệu, HS còn hình thành được các kĩ
năng như: đọc, chọn lọc thông tin, tổng hợp, nhận xét, đánh giá hoặc kĩ
năng thuyết trình, thảo luận nhóm.
Như vậy, việc khai thác và sử dụng tư liệu Internet là một khâu rất quan
trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học LS ở trường THPT hiện nay.
Hỗ trợ đắc lực cho GV trong việc chuẩn bị tư liệu phục vụ cho bài giảng,
đồng thời tăng tính hiệu quả cho bài học. Do đó trong quá trình DH, GV cần
tích cực sử dụng biện pháp này và định hướng cho HS cách khai thác tư liệu
Internet phục vụ cho việc học tập.
1.1.4.2.Ý nghĩa
Việc khai thác và sử dụng tư liệu Internet trong DHLS có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc bồi dưỡng kiến thức, giáo dục tư tưởng, thái độ và phát
triển kĩ năng học tập cho HS theo định hướng, mục tiêu giáo dục, cụ thể
Về kiến thức
Thứ nhất, sử dụng tư liệu trên Internet góp phần quan trọng vào quá
trình cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng và làm phong phú,đa dạng kiến thức
HS đã lĩnh hội được trong SGK
Với ưu thế là một kho thông tin khổng lồ, đa dạng phong phú. Internet là
nguồn tư liệu hỗ trợ vô cùng quan trọng cho GV trong việc DHLS. Qua việc
khai thác và sử dụng tư liệu trên Internet sẽ giúp cho bài giảng của GV trở
nên hấp dẫn, sinh động hơn. HS sẽ được tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status