6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Dạy học là một hoạt động đặc thù vì đối tượng dạy học là con người, đòi hỏi giáo
viên phải có vốn kiến thức về bộ môn và phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học
lịch sử là con đường, cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình thống nhất
việc giảng dạy giáo viên và học tập của học sinh, nhằm truyền thụ và tiếp thu kiến thức
lịch sử (cả lý thuyết và thực hành). Trong dạy học lịch sử không phải chỉ có một
phương pháp đơn nhất mà có cả một hệ thống phương pháp. Người giáo viên bên cạnh
sử dụng phương pháp lời nói sinh động, sử dụng đồ dùng trực quan mềm dẻo, linh
hoạt…thì việc sử dụng tài liệu văn học để bổ sung vào bài học là không thể thiếu
được. Qua việc sử dụng tài liệu văn học giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về
kiến thức lịch sử, từ đó làm nảy sinh những tình cảm đúng đắn và hình thành những kỹ
năng học tập, làm việc tương ứng, đặc biệt rèn luyện cho học sinh có phương pháp học
tập lịch sử, phát huy năng lực tự học và trình độ tư duy của bản thân.
Mặt khác, tại Hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ hai, khoá tám đã đặt
ra nhiều vấn đề quan trọng như: coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, có vai trò quyết
định đối với sự tồn vong, hưng thịnh của đất nước. Riêng bộ môn lịch sử phải xây
dựng nội dung, chương trình, phương pháp, cấu trúc như thế nào để khắc phục được
quan niệm chỉ chú trọng lịch sử chính trị quân sự, đấu tranh giai cấp coi nhẹ lịch sử
văn hoá, lịch sử nghệ thuật…Vì thế, việc sử dụng tài liệu văn học đặc biệt là việc sử
dụng thơ ca trong dạy học sẽ phần nào khắc phục được quan niệm trên.
Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai giảng chào mừng năm học mới, Bác Hồ đã
từng nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có
bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không
chính là nhờ một phần nhỏ vào công học tập của các em [1,tr26].
Trong cuốn “Giáo dục học, tập 1” NXBGD, Hà Nội, năm 1978, Hà Thế Ngữ -
Đặng Vũ Hoạt có viết: “Mỗi môn học chỉ có khả năng phản ánh những kết quả nhận
SVTH: Lê Nguyên Phú
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
cách mạng nước ta. Để làm được điều này thì việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc
biệt là việc sử dung tài liệu văn học trong dạy học lịch sử đóng một vai trò quan trọng
không thể thiếu.
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học
lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945”(Sách giáo khoa lịch sử,lớp 12, chương trình
cơ bản) bài tập lớn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề sử sụng tài liệu văn học trong dạy học
lịch sử ở trường trung học phổ thông nhưng nhưng chủ yếu các công trình này đều tập
trung nghiên cứu một khía cạnh nhỏ của vấn đề hay nghiên cứu các giai đoạn lịch sử
khác nhau, chứ chưa có công trình khoa học nào hoàn chỉnh về việc sử dụng tài liệu
văn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT giai đoàn 1930 – 1945.
Trong cuốn: “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên, (2002).
“Phương pháp dạy học lịch sử” ở THPT của Phan Ngọc Liên, Trần Vĩnh Tường, Đặng
Văn Hồ, (1998) … Các giáo trình này đã trình bày những nguyên tắc cũng như biện
pháp sử dụng TLVH nói chung vào trong quá trình dạy học lich sử.
Những công trình mang tính chuyên khảo như: “Ca dao lịch sử” của Phạm Hồng
Việt (2007); “Lịch sử dân tộc qua các trang thơ văn” Khoa sử (2002).
Các luận văn Thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp: Luận văn thạc sĩ“Sử dụng tài liệu văn
học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam
giai đoạn 1930 - 1954 ở trường THPT (Chương trình chuẩn)” của Hồ Phi Cường.
Ngoài ra ở nước ta còn có một số bài được đăng tải trên tạp chí nghiên cứu lịch sử
cũng đã đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, do mục đích của các công trình cho đến nay
vẫn thiếu vắng một công trình trình bày một cách hệ thống về “Sử dụng tài liệu văn
học trong dạy học lịch sử ở trường THPT giai đoạn 1930 – 1945”.
Mặc dù vậy những công trình trên là nguồn tư liệu quý báu để tác giả tham khảo và
THPT (Chương trình Chuẩn).
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
- Đề xuất nguyên tắc và biện pháp sử dụng tài liệu văn học để DHLSVN giai đoạn
1930 - 1945 ở trường THPT (Chương Trình Chuẩn).
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Trong phạm vi khuôn khổ bài viết này, tôi tập trung tìm hiểu các tài liệu văn học
giai đoạn 1930 – 1945, các bài viết, bài nghiên cứu khoa học, khóa luận và các bài luận
văn thạc sĩ để làm rõ hơn đề tài này.
5.2 Phương pháp nghiên cứu.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục phổ
thông nói chung và giáo dục lịch sử nới riêng ở trường THPT.
Để thực hiện đề tài tác giả sử dụng phương pháp lý luận tâm lý, giáo dục học,
phương pháp dạy học lịch sử của các nhà giáo dục, giáo dục lịch sử…để rút ra những
nhận xét, kết luận cần thiết.
6. Đóng góp của đề tài
Cung cấp hệ thống tư liệu về “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở
trường THPT giai đoạn 1930 – 1945”.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tư liệu tham khảo cho những nhà khoa học
và những ai quan tâm về vấn đề này. Giúp người đọc có cảm nhận và hiểu biết sâu sắc
hơn về việc “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT giai đoạn
1930 – 1945”.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, khóa luận gồm có 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng thơ ca cách mạng để dạy
học lịch sử ở trường THPT.
tác nên dưới nhiều hình thức, thể loại khác nhau.
Tri thức lịch sử là những hiểu biết của con người về quá trình phát triển của xã hội
loài người cũng như dân tộc. Tri thức lịch sử gồm nhiều yếu tố như sự kiện lịch sử, các
niên đại, địa danh, nhân vật, biểu tượng, khái niệm, quy luật lịch sử…[Phan Ngọc Liên
(cb), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2009), Phương pháp dạy học Lịch sử, Tập 1,
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
Nxb ĐHQG, Hà Nội; tr. 138]. Trong day học lịch sử, tri thức lịch sử chính là những
yếu tố quan trọng nhất để giáo dục tư tưởng chính trị, hình thành thế giới quan khoa
học cho học sinh.
1.1.2. Mối quan hệ giữa tài liệu văn học với tri thức lịch sử.
Tài liệu văn học với tri thức lịch sử có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy chức
năng nhiệm vụ của mỗi bên là khác nhau nhưng cả hai đều có chung đối tượng là con
người, cả hai đều phản ánh mọi hoạt động của xã hội loài người trong lao động, sinh
hoạt và cả trong việc chống thiên tai, ngoại xâm.
Tài liệu văn học bao gồm nhiều tác phẩm, tác giả và nội dung khác nhau nhưng
trong đó mỗi tác giả đều viết lên nó với những tâm tư của chính bản thân mình. Để có
được những tác phẩm này, các nhà thơ nhà văn đã phải xâm nhập tìm hiểu thực tế,
nghiên cứu các tri thức lịch sử liên quan để rồi tìm ra nguồn cảm hứng hay mạch cảm
xúc để viết nên tác phẩm của mình.
Tuy mỗi tác giả có một phong cách và cách cảm nhận riêng nhưng lại giống nhau
ở chỗ đó là đã mang được hơi thở, tâm hồn thời đại, tinh thần chiến đấu… Những gì họ
nhìn thấy, cảm giác được đều ghi lại thông qua các tác phẩm của mình. Vì thế, tài liệu
văn học cũng là một trong những tri thức lịch sử cụ thể nhất, sinh động nhất.
Hơn thế nữa, bản thân các bài thơ, bài văn chính là những tư liệu lịch sử rất hùng
hồn, có giá trị, minh chứng cho từng chặng đường mà lịch sử đã đi qua. Chẳng hạn
như: Bảng tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Vợ nhặt của
Kim Lân, Khoảng trời và hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ… Ở những tác phẩm này thì giá
ngoài bài giảng ở sách giáo khoa thì phải đọc thêm các tài liệu tham khảo nói chung và
tài liệu văn học nói riêng.
1.1.3.2. Ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở
trường THPT.
- Về mặt kiến thức
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
Quy luật chung của loài người là “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng đến thực tiển đó là con đường nhận thức biện chứng của nhận thức
chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”.
Do đặc trưng của môn Lịch sử là nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng đã diễn ra
trong quá khứ, vì thế GV khó có thể tái hiện lại những sự kiện, hiện tượng lịch sử một
cách chính xác như những gì nó đã diễn ra trong quá khứ như những môn khoa học
khác. Chính vì vậy, trong dạy học, GV phải dựa vào những tài liệu. Tài liệu càng đầy
đủ, có giá trị bao nhiêu thì tri thức lịch sử càng chính xác, sinh động bấy nhiêu.
Nguồn tài liệu có thể sử dụng trong dạy học lịch sử rất đa dạng và phong phú. Nó
có thể là tài liệu thành văn, tài liệu hiện vật, tài liệu văn học… Vì vậy, việc sử dụng tài
liệu văn học trong dạy học lịch sử có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó không chỉ giúp góp
phần tái hiện lịch sử mà còn giúp cho học sinh tiếp thu những kiến thức lịch sử một
cách sâu sắc và chân thực nhất; bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cũng như phát triển kĩ
năng cho các em.
Đồng thời, trong dạy học lịch sử giáo viên luôn băn khoăn giải cho được bài toán
giữa khối lượng kiến thức và thời giờ lên lớp. Với thời lượng một tiết học, dù muốn
nhưng GV không thể đi sâu để trình bày hay giải thích một vấn đề, nội dung lịch sử cụ
thể hay những phần có liên quan đến nội dung bài học; Vậy làm sao để đảm bảo truyền
đạt đủ kiến thức mà thời gian một tiết học quy định? Đó là một vấn đề khó. Nhưng với
phương pháp này, việc sử dụng các nguồn tài liệu cũng như tài liệu văn học sẽ giúp
cho giáo viên không chỉ giải được bài toán này mà còn góp phần đa dạng phương pháp
Kêu gọi nhân dân lớp lớp theo Người
Để thoát kiếp ngựa trâu xây lại cuộc đời
……………………………………
Phất cao cờ Việt Minh chói sáng
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
Làm một mùa thu cách mạng
Đánh Pháp tan tành, đánh Mỹ đảo điên”
Với đoạn thơ trên học sinh sẽ dễ dàng nhận thấy được những gian khổ và cống hiến
của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Từ đó
giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh và làm cho các em càng yêu quý, kính trọng
cảm phục Người.
Bằng giọng điệu khỏe khoắn, đầy sức sống, tài liệu văn học đã góp phần gieo vào
lòng người niềm tin, hi vọng về một tương lai tươi sáng, sự thắng lợi của cách mạng.
Đây chính là vũ khí nghệ thuật vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc và đào tạo thế hệ trẻ như hiện nay. Như vậy, việc sử dụng tài liệu văn
học trong dạy học lịch sử sẽ góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và rèn luyện nhân
cách cho HS.
- Về kỹ năng:
Thơ ca cách mạng không những cung cấp cho học sinh kiến thức, bồi dưỡng tư
tưởng, tình cảm mà còn góp phần phát triển năng lực tư duy và rèn luyện những kỹ
năng khác cho các em.
Ví dụ: Khi dạy Bài 14, Mục II.2 “Xô Viết Nghệ Tỉnh” giáo viên có thể sử dụng
đoạn thơ sau:
“Không vua, không quan
Không hạng người ô uế
Không hạng người nô lệ
Sống đau sót lầm than.”
Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp; Mâu thuẫn giữa nông
dân với địa chủ phong kiến.
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
- Đầu năm 1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại. Chính quyền thực dân đã tiến
hành đàn áp dã man Việt Nam Quốc dân Đảng và đồng bào yêu nước.
=> Mâu thuẫn xã hội càng sâu sắc hơn.
2.1.1.2. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tỉnh.
a) Phong trào cách mạng 1930 – 1931.
- Từ tháng 2-4-1930, nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của nông dân và công dân. Mục
tiêu là đòi cải thiện đời sống, bên cạnh đó cũng xuất hiện những khẩu hiệu chính trị.
- Tháng 5, trên phạm vi cả nước bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh nhân ngày quốc tế
lao động 1/5.
- Trong các tháng 6,7 và 8 liên tiếp nổ ra các cuộc đấu tranh của công nhân, nông
dân và các tầng lớp khác trên phạm vi của cả nước.
- Sang tháng 9-1930, phong trào đấu tranh dân cao, nhất là ha tỉnh Nghệ An và Hà
Tỉnh. Nông dân biểu tình được công nhân Vinh – Bến Thủy hưởng ứng.
- Hệ thống chính quyền thực dân, phong kiến bị tê liệt, tan rã ở nông thôn và nhiều
xã. Nhiều lý trưởng và chánh tổng bỏ trốn.
- Trong tình hình đó, nhiều cấp Đảng Ủy ở nông thôn, xã đã lãnh đạo nhân dân
đứng lên tự cai quản đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương, làm
chức năng của các chính quyền, gọi là Xô Viết.
b) Xô Viết Nghệ Tỉnh.
- Tại Nghệ An, Xô Viết ra đời vào khoảng tháng 9/1930. Các Xô Viế đã thực hiện
quyền làm chủ của quần chúng, điều hành mọi mặt của đời sống.
- Về chính trị:
+ Quần chúng được tự do tham gia hoạt động trong các đoàn thể cách mạng, tự do
hội họp. Các đội tự vệ đỏ và tòa án nhân dân được thành lập.
Sản.
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
+ Luận cương chính trị nêu rõ hình thức và phương pháp đấu tranh, mối quan hệ
giữa cách mạng Đông Dương và cách mạng thế giới.
- Hạn chế:
+ Chưa nêu được mấu thuẫn chủ yếu trong xã hội Đông Dương, không đưa ngọn cờ
dân tộc lên hang đầu và nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất.
+ Đanh giá không đúng khả năng cách mạng của các tầng lớp tiểu tư sản, khả năng
chống đế quốc và phong kiến ở mức độ nhất định của giai cấp tư sản dân tộc, khả năng
lôi kéo một bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc thống nhất chống đế
quốc và tay sai.
c) Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của phong trào cách mạng 1930 –
1931.
- Ý nghĩa lịch sử:
+ Phong trào khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, quyền lãnh đạo của giai cấp
công nhân đối với cách mạng Đông Dương.
+ Từ phong trào khối liên minh công - nông được hình thành, công nhân và nông
dân đoàn kết trong đấu tranh cách mạng.
+ Phong trào được đánh giá cao trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Quốc tế Cộng sản đã công nhận Đảng Cộng Sản Đông Dương là phân bộ độc lập, trực
thuộc Quốc tế Cộng sản.
- Bài học kinh nghiệm:
+ Phong trào để lại nhiều bài học kinh nghiệm về công tác tư tưởng, về xây dựng
khối liên minh công nông và mặt trận dân tộc thống nhất, về tổ chức, lãnh đạo phong
trào.
+ Là cuộc tập dược đầu tiên của Đảng và quần chúng cho Tổng khởi nghĩa tháng
Tám sau này.
+ Hàng xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và nông sản.
=> Tình hình Việt Nam trong những năm 1936 – 1939 là giai đoạn phục hồi và phát
triển của nền kinh tế. Tuy nhiên vẫn còn lạc hậu và phụ thuộc vào Pháp.
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
- Đời sống nhân dân cực khổ do thuế khóa nặng nề; công nhân thất nghiệp vẫn còn
nhiều.
- Nông dân không có đủ ruộng đất để cày. Tư sản dân tộc thì ít vốn nên chỉ lập
những công ty nhỏ, phải chịu thuế cao, bị tư bản Pháp chèn ép.
- Nhiều người trong tầng lớp tư sản trí thức thất nghiệp. Công chức nhận mức lương
thấp. Các tầng lớp lao động khác phải chịu thuế khóa nặng nề.
2.1.2.2. Phong trào dân chủ 1936 – 1939.
2.1.2.2.1. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
tháng 7-1936.
- Tháng 7-1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương do
đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì, họp ở Thượng Hải. Hội nghị đề đường lối và phương
pháp đấu tranh:
+ Về nhiệm vụ: Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương là
chống đê quốc và phong kiến; nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt là đấu tranh chống chế độ
phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ,
cơm áo hòa bình.
+ Phương pháp đấu tranh: Kết hợp đấu tranh công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp
pháp.
+ Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân nhân phản đế Đông Dương.
- Tháng 3-1938, Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương đổi tên thành
Mặt trận Thống nhất dân chủ Đông Dương.
2.1.2.2.2. Những phong trào đấu tranh tiêu biểu.
a) Đấu tranh đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ.
yêu sách trước mắt về dân sinh dân chủ.
+ Quần chúng nhân dân được giác ngộ về chính trị đã tham gia vào Mặt trận Dân tộc
thống nhất và trở thành lực lượng chính trị hung hậu của cách mạng.
- Bài học kinh nghiệm
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
+ Đảng Cộng sản Đông Dương đã tích lũy nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xây
dựng mặt trận dân tộc thống nhất, kinh nghiệm tổ chức lãnh đạo quần chúng đấu tranh
công khai, hợp pháp.
+ Thấy được những hạn ché trong công tác mặt trận, vấn đề dân tộc…
Phong trào dân chủ 1936-1939, như một cuộc tập dượt, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi
nghĩa tháng Tám sau này.
2.1.3. Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945).
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
2.1.3.1. Tình hình Việt Nam trong những năm 1939 – 1945.
a) Tình hình chính trị.
- Đầu tháng 9-1939, chiến tranh thế giới nổ ra/ Ở châu Âu quân Đức kéo và nước
Pháp. Chính phủ Pháp đầu hàng.
- Ở Đông Dương, Đô đốc Đờ-cu được cử làm toàn quyền thay thế cho Ca-tơ-ru.
- Tháng 9-1940, quân Nhật vượt biên giới Việt Trung tiến vào miền Bắc nước ta.
Quân Pháp nhanh chống đầu hàng, dâng nước ta cho Nhật.
- Đầu năm 1945, phát xít Đức bị thất bại nặng nề ở châu Âu.
- Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp.
- Quần chúng nhân dân sục sôi khí thế cách mạng, sẵn sang vùng lên khởi nghĩa.
b) Tình hình kinh tế - xã hội.
- Đầu tháng 9-1939, Toàn quyền Đông Dương Ca-tơ-ru râ lện tổng động viên cung
cấp cho chính quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương.
- Thực dân Pháp thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy”, tăng thuế cũ, đặt thêm thuế
- Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt
Nam.
- Ngày 10 đến 19-5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp
hành TW Đảng tại Bác Bó. Khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là
giải phóng dân tộc, tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, nêu khẩu hiệu
giảm tô, giảm thuế, chia lại ruộng đất công, tiến tới người cày có ruộng.
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
- Hội nghị chỉ rõ sau khi đánh đuổi Pháp – Nhật sẽ thành lập chính phủ nhân dân
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hội nghị quyết định thành lập mặt trận Việt
Nam độc lập đồng minh thay cho mặt trận Thống nhất phản đế Đông Dương, thay tên
các hội phản đế thành hội cứu quốc và giúp đỡ việc lập mặt trận ở Lào và Campuchia.
- Ngày 19-5-1941, Việt Nam độc lập đồng minh ra đời. Đến tháng 10-1941, tuyên
ngôn, chương trình, điều lệ của Việt Minh được công bố rộng rãi.
2.1.3.2.3. Chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền.
a) Xây dựng lực lượng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang.
- Xây dựng lực lượng chính trị
+ Năm 1942, khắp Cao Bằng đều có hội cứu quốc, trong đó có ba châu hoàn toàn.
Tiếp đó, Ủy Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Ủy ban lâm thời liên tỉnh Cao – Bắc –
Lạng được thành lập.
+ Năm 1943, Đảng đề ra bản Đề cương văn hóa Việt Nam. Năm 1944, Đảng dân
chủ Việt Nam và Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam được thành lập, đứng trong Mặt trận
Việt Minh.
- Xây dựng lực lượng vũ trang
+ Xây dựng nhiều đội du kích ở căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai.
+ Năm 1941, Trung độ cứu quốc I được thành lập.
+ Ngày 15-9-1941, Trung độ cứu quốc quân II ra đời.
- Xây dựng căn cứ địa
- Ở Cao – Bắc – Lạng, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và cứu quốc quân
phối hợp với các lực lượng chính trị giải phóng hàng loạt các châu, xã, huyện.
- Ở Bắc và Bắc Trung Kỳ, Đảng đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”.
- Ở Quảng Ngãi, tù chính trị ở nhà tù Ba Tơ nổi dậy, lãnh đạo quần chúng khởi
nghĩa, thành lập chính quyền cách mạng, tổ chức đội du kích Ba Tơ.
- Ở Nam Kỳ, phong trào Việt Minh hoạt động mạnh, nhất là ở Mỹ Tho và Hậu
Giang.
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
2.1.3.3.2. Sự chuẩn bị cuối cùng trước ngày khởi nghĩa
- Ngày 20-4-1945, BTV TW Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ.
Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ được thành lập.
- Ngày 14-6-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị thành lập Ủy Ban Dân tộc giải
phóng Việt Nam và Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp.
- Ngày 15-5-1945, Việt Nam cứu quốc quân và VNTTGPQ thống nhất thành Việt
Nam giải phóng quân.
- Tháng 5-1945, Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào chỉ đạo cách mạng cả nước.
- Ngày 4-6-1945,Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập.
2.1.3.3.3. Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
a) Nhật đầu hàng Đồng Minh, lệnh Tổng khởi nghĩa được ban bố
- Đầu tháng 8-1945, quân Đông minh tấn công mạnh mẽ vào các vị trí của quân đội
Nhật Bản ở châu Á – Thái Bình Dương.
- Ngày 6 đến 9-8-1945, Mĩ ném hai quả bom xuống hai thành phố Hirosima và
Nagaxaki của Nhật Bản.
- Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Ngày 9-8-1945, Hồng quân
Liên Xô tấn công đạo quân Quang Đông của Nhật Bản.
- Trưa ngày 15-8-1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng đồng minh.
- Ngay từ ngày 13-8, TW Đảng và Tổng bộ Việt minh lập tức thành lập Ủy ban
2.1.3.4. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập
- Ngày 25/8/1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh và TW Đảng, UBDT giải phóng Việt Nam từ
Tân Trào về đến Hà Nội.
- Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ
Việt Nam lâm thời độc bản truyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa.
2.1.3.5 Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của cách
mạng tháng 8-1945.
2.1.3.5.1 Nguyên nhân thắng lợi
SVTH: Lê Nguyên Phú
6
Bài tập lớn: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến 1945 ở trường
trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).
- Nguyên nhân chủ quan
+ Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu
tranh kiên cường , bất khuất cho độc lập của dân tôc.
+ Cách mạng tháng Tám do Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí
Minh lãnh đạo, dựa trên nèn tản và cơ sở của chủ nghĩa Max Lê-nin vận dụng sáng tạo
vào thực tiển cách mạng Việt Nam.
+ Đảng có quá trình chuẩn bị lâu dài trong suốt 15 năm, qua các phong trào cách mạng
1930 – 1935, 1936 – 1939, đã đúc rút được nhiều bào học kinh nghiệm quý báu.
+ Trong khởi nghĩa toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn một long, không sợ khó
khan, gian khổ, mất mát, hy sinh…Cac cấp Đảng bộ từ TW đến địa phương đã linh
hoạt, sáng tạo, chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.
- Nguyên nhân khách quan
Chiến thắng của Hồng quân Liên Xô và quân Đồng minh trước quân đội của phe phát
xít đã cổ vũ tinh thần, niềm tin cho nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa.
2.1.3.5.2. Ý nghĩa lịch sử
- Cách mạng tháng 8 mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc. Phá tan xiềng
xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm và ách thống trị của phát xít Nhật gần 5năm,