Sử dụng tư liệu lịch sử trong một số tác phẩm của hồ chí minh tăng hứng thú cho học sinh khi học lịch sử việt nam giai đoạn 1945 1954 ở trường THPT - Pdf 47

1. Lí do chọn đề tài
Là một anh hùng dân tộc vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế tục xứng
đáng nhất sự nghiệp và công đức của những bậc tiền bối kiệt xuất, đã thu góp tinh
hoa tư tưởng mà dân tộc ta hun đúc nên từ máu lửa của những cuộc chiến đấu
sinh tồn và phát triển. Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn,
ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được
hoàn toàn tự do đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc ai cũng được học hành”.
Người chưa bao giờ lấy sự nghiệp văn chương làm cứu cánh, cũng như Người
chưa bao giờ chủ định trở thành một nhà sử học. Nhưng qua những bài báo,
những lời phát biểu, qua những di sản tinh thần Người để lại, chúng ta thấy được
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người quan tâm đặc biệt đến lịch sử nước nhà và việc
giáo dục lịch sử truyền thống cho thế hệ sau.
Giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với lịch sử dân tộc. Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, chính
thời điểm đó nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ phải đương đầu với rất
nhiều khó khăn, thử thách. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những đối sách đúng
đắn nhằm giải quyết kịp thời, có hiệu quả những nhiệm vụ vô cùng khó khăn,
phức tạp, bình tĩnh chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh
hiểm nguy, từng bước tiến lên. Để rồi 9 năm sau đó, dân tộc Việt Nam đã làm nên
một Điện Biên lịch sử lững lẫy năm châu, chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp
phải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của dân tộc ta.
Dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12, giai đoạn 1945-1954 không chỉ giúp học
sinh nắm được diễn biến lịch sử mà còn tái hiện lại sinh động những thắng lợi vẻ
vang của dân tộc, hiểu rõ vai trò và sự nghiệp của Người. Để làm được điều đó
cùng với đổi mới phương pháp dạy học, đưa các kỹ thuật, phương tiện hiện đại

-1-


vào giảng dạy, giáo viên phải biết khai thác những nguồn tài liệu lịch sử khác

lịch sử được tiến hành để:
+ Cụ thể hóa các hiện tượng, sự kiện lịch sử đang học nhằm tạo cho học
sinh có biểu tượng rõ ràng, cụ thể, có tính hình ảnh, tăng thêm tính sinh động của
bài giảng và gây hứng thú cho việc học tập của các em. Tài liệu được sử dụng là
những đoạn trích ngắn, có nội dung súc tích, giàu hình ảnh, học sinh có thể tiếp
thu được dễ dàng, không cần giải thích gì thêm.
+ Sử dụng tư liệu lịch sử để giải thích một sự kiện lịch sử, học sinh hiểu
được bản chất của nó sẽ thêm hứng thú.
+ Tư liệu lịch sử dùng trong bài học làm cơ sở chứng minh cho một luận
điểm khoa học để hiểu đúng một sự kiện, một quá trình lịch sử.
Khi sử dụng tư liệu lịch sử, giáo viên cần hướng dẫn học sinh không chỉ
biết cách sử dụng trên lớp mà còn biết tự học ở nhà. Cần giới thiệu tư liệu có liên
quan chặt chẽ với các sự kiện cơ bản trong bài học, vừa sức để học sinh có thể tự
học theo sự hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên cần lựa chọn những tư liệu phù
hợp với nội dung bài học và khả năng nhận thức của học sinh. Có thể sử dụng
toàn bộ tác phẩm hay chỉ một đoạn nhất định và hướng dẫn học sinh thực hiện.
2.2. Thực trạng của vấn đề.

-3-


2.2.1. Những thuận lợi
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Thực tế giảng dạy Lịch sử ở trường THPT hiện nay cho thấy đa số giáo viên đã
rất tích cực trong đổi mới phương pháp dạy học, biết kết hợp một cách hài hòa
các phương pháp dạy học khác nhau để làm giờ học đạt hiệu quả. Giáo viên đã ý
thức được vai trò của việc sử dụng các nguồn tư liệu bên ngoài vào trong giảng
dạy để nâng cao hiệu quả giờ học cũng như gây hứng thú cho học sinh đối với bộ
môn.

hoặc ít khi đọc. Nguyên nhân của điều này là do các em xác định là môn phụ,
môn thay thế nên có xu hướng coi nhẹ môn Lịch sử, các em không quan tâm,
không ham, không say mê, thiếu đầu tư cả thời gian và công sức học tập. Ngoài
sách giáo khoa ra, các em không có điều kiện đọc hoặc ít đến thư viện để tìm hiểu
những nguồn tài liệu này và thời gian học tập trên lớp và làm bài tập đã chiếm
quá nhiều thời gian của các em.
Từ những nhận thức trên và từ kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy
trong giảng dạy môn Lịch sử nếu giáo viên biết kết hợp nhiều phương pháp dạy
học, nhiều nguồn tư liệu lịch sử kết hợp với những câu hỏi mang tính liên hệ để
gây hứng thú cho học sinh, thì đây chính là một trong những giải pháp quan trọng
góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn.

-5-


2.3. Các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề.
2.3.1. Mục đích của việc sử dụng tư liệu lịch sử trong các tác phẩm của Hồ
Chí Minh phục vào giảng dạy lịch sử.
* Củng cố và nâng cao kiến thức lịch sử
Các tác phẩm, bài viết của Hồ Chí Minh đều có thể sử dụng trong trong
dạy- học các khoá trình lịch sử để làm sáng tỏ những sự kiện cơ bản của lịch sử
thế giới, lịch sử Việt Nam, cũng như vai trò của Người đối với lịch sử dân tộc.
Trong tác phẩm của mình, Hồ Chủ tịch luôn coi trọng việc sử dụng kiến
thức lịch sử để phục vụ cách mạng, giáo dục nhân dân, xác định con đường cứu
nước…Hồ Chí Minh không chỉ sử dụng kiến thức lịch sử để giáo dục, mà còn
đem bài học kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào hành động cách mạng, cụ thể
hoá từng bước đường lối cách mạng Việt Nam.
Khi tiếp xúc với tác phẩm của Hồ Chí Minh, học sinh không chỉ hiểu sâu
sắc những sự kiện lịch sử, mà còn có điều kiện đi sâu tìm hiểu những vấn đề
đường lối cách mạng cơ bản trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Trên cơ sở

nhân loại, thể hiện ở lòng yêu thương những con người bị đau khổ, áp bức, kính
trọng người già, tôn trọng bạn bè, sống khiêm tốn, giản dị, trong sạch …
Tác phẩm của Hồ Chí Minh không chỉ cung cấp nội dung giáo dục tư
tưởng cho học sinh, mà còn nêu những kinh nghiệm về phương pháp giáo dục
phù hợp với nội dung, chức năng và đặc trưng bộ môn. Hồ Chí Minh bao giờ
cũng dùng tri thức lịch sử để giáo dục cho cán bộ, nhân dân thực hiện mục đích,
nhiệm vụ chính trị lâu dài và trước mắt. Theo học lịch sử không phải chỉ để biết
mà để hiểu lịch sử, hơn nữa hiểu lịch sử là để hành động đúng trong hiện tại và
hướng tới tương lai. Câu thơ mở đầu cuốn lịch sử nước ta đã xác định mục đích
này
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

-7-


Việc sử dụng những tài liệu lịch sử trong tác phẩm của Hồ Chí Minh vào
giảng dạy lịch sử còn góp phần không nhỏ trong việc giáo dục lòng kính yêu
Người. Đối với học sinh trung học, hình ảnh về chủ tịch Hồ Chí Minh đã không
còn xa lạ. Tuy nhiên, với yêu cầu của cấp học cùng với việc sử dụng những tư
liệu của Hồ Chí Minh, hình ảnh của Người sẽ trọn vẹn hơn: Hồ Chí Minh là lãnh
tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cách mạng thế
giới, anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hoá, là hiện thân của
những tính cách đạo đức của dân tộc, của người chiến sỹ cách mạng.
* Góp phần hình thành cho học sinh phương pháp khoa học khi học
tập lịch sử .
Khai thác nội dung lịch sử trong tác phẩm của Hồ Chí Minh vào giảng dạy
lịch sử không chỉ nhằm mục đích cung cấp kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng, mà
còn để hình thành cho học sinh phương pháp khoa học khi các em xem xét các
hiện tượng lịch sử.

2. Thư gửi học sinh - 9/1945
3. Thư gửi các cụ phụ lão - 20/9/1945
4. Thư gửi đồng bào toàn quốc ra sức cứu đói - 28/9/1945
5. Ý nghĩa của tổng tuyển cử - 31/12/1945
6. Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu - 5/1/1946
7. Lời kêu gọi sau khi kí hiệp định sơ bộ - 11/3/1946
8. Thư gửi đồng bào Nam Bộ - 31/5/1946
9. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - 19/12/1946
10. Việt Bắc anh dũng - 1948
11. Báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng lao động Việt
Nam - 11/2/1951
12. Bài nói chuyện về hội nghị chiến tranh du kích - 7/1952

-9-


13. Mẩu chuyện về Điện Biên Phủ - 26/5/1954
14. Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ - 5/1954
15. Trả lời một nhà báo Thuỵ Điển - 26/11/1953
Từ những tác phẩm tiêu biểu trên giáo viên có thể khai thác những tư liệu
lịch sử trong đó vận dụng vào giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945- 1954
để tăng hứng thú cho học sinh.
2.3.3 Sử dụng tư liệu lịch sử trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh vào giảng
dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954.
Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 – 1954 sách giáo khoa lịch sử 12 ban cơ
bản gồm các bài:
Bài 17 “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ sau ngày 2-9-1945 đến trước
19-12-1946”. Trong bài học này giáo viên có thể sử dụng tư liệu lịch sử trong các
tác phẩm của Hồ Chí Minh vào giảng dạy ở tất cả các mục của bài học.
Bài 18: “Những năm đầu về kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp

Giơnevơ.
Bài 17 : “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ sau ngày 2-9-1945 đến
trước 19-12-1946” những đoạn trích trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh sẽ
khắc sâu cho học sinh tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945.
* Mục I: Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Để
minh họa cho khó khăn về ngoại xâm nội phản, giáo viên sử dụng hình ảnh và
đoạn trích:

- 11 -


(Hình ảnh: quân các nước Đồng minh đang kéo vào nước ta.)

“Nước ta độc lập chưa đầy một tháng thì phía Nam quân đội đế quốc Anh
kéo đến Chúng mượn tiếng là lột vũ trang của quân Nhật, nhưng sự thật chúng là
đội viễn chinh giúp thực dân Pháp cướp lại nước ta. Phía Bắc thì quân đội Quốc
dân Đảng Trung Hoa kéo sang. Chúng mượn tiếng là lột vũ trang quân Nhật
nhưng thực chúng có ba mục đích hung ác :
Tiêu diệt Đảng ta
Phá tan Việt Minh
Giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân để lập một
chính phủ phản động làm tay sai cho chúng”
Đoạn trích trên cùng với kiến thức trong sách giáo khoa sẽ làm cho học
sinh có những hiểu biết đầy đủ về tình thế “ ngàn cân treo sợi tóc” của nước ta
sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Từ tư liệu, giáo viên đưa câu hỏi nhằm phát
huy khả năng đánh giá, giải thích vấn đề của học sinh.
(?) Nhận xét về các thế lực ngoại xâm và nội phản ở nước ta sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945. Kẻ thù nào nguy hiểm nhất? Tại sao?
- 12 -




+ Tổng tuyển cử thể hiện triệt để nguyên tắc tự do bầu cử, là cơ sở pháp lý
rất quan trọng bảo đảm cho mọi công dân có quyền bầu cử, muốn ứng cử đều có
thể thực hiện được trực tiếp và dễ dàng quyền tự do ứng cử, tự do vận động tranh
cử của mình.
+ Tổng tuyển cử quy định nguyên tắc bầu cử bình đẳng, nhất là bình đẳng
nam nữ về quyền bầu cử, ứng cử ngay trong những ngày đầu tiên của nền Cộng
hoà dân chủ nhân dân ở nước ta có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
+ Nguyên tắc này đã đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động của
một cuộc Tổng tuyển cử thực sự tự do, thực sự dân chủ. Tổng tuyển cử đầu tiên
năm 1946 - một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ - đã được tổ chức
thành công, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam.
+ So sánh: Chế độ bầu cử ở một số nước trước đây suốt một thời gian dài
cả hàng trăm năm sau những tuyên bố "bất hủ" này về quyền bình đẳng, đã phân
biệt về giới tính để tước đoạt quyền bầu cử, ứng cử của phụ nữ (Nước Mỹ, mãi
năm 1920, Hiến pháp mới quy định cho phụ nữ có quyền bầu cử; còn quyền bầu
cử của phụ nữ nước Anh là năm 1928, Italia năm 1945. Nước Pháp từng tự xưng
là đi "khai hoá văn minh" cho các nước khác, trong đó có Việt Nam, nhưng trước
năm 1946 phụ nữ Pháp cũng không được hưởng quyền bầu cử,...).
=> Vì vậy, nguyên tắc bầu cử bình đẳng không phân biệt nam nữ mà các
sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta đã quy định càng có ý nghĩa và
giá trị tiến bộ, nhân văn sâu sắc hơn, khi mà ở nước ta, hàng nghìn năm dưới chế
độ phong kiến với lễ giáo "tam tòng", người phụ nữ không có địa vị gì ngay cả
trong xã hội cũng như trong gia đình, nay được hưởng ngay quyền bầu cử, ứng
cử như nam giới. Chính nguyên tắc bầu cử bình đẳng không phân biệt nam nữ
này đã nâng địa vị người phụ nữ Việt Nam lên ngang hàng với nam giới và sánh
vai cùng phụ nữ các nước có nền pháp lý dân chủ, văn minh, tiến bộ đương thời.

- 14 -

- 15 -


dành cho người nghèo rất đáng trân trọng ghi nhận, nhưng phải thật lòng, không
mang tính bố thí. Đồng thời với thực hành tiết kiện, phải cùng chống lãng phí,
chống ở tất cả mọi nơi, mọi việc làm, mọi sinh hoạt. Làm như thế là góp phần
giúp dân bớt nghèo. Đó chính là hành động học tập và làm theo tấm gương đạo
đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
(2) Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước đứng trước muôn
vàn khó khăn, thử thách. Người đặc biệt quan tâm đến giáo dục.
+ Người đã tuyên bố rằng, giặc dốt cũng nguy hại như giặc đói. Kêu gọi toàn
dân ra sức diệt giặc dốt, thực hiện cấp tốc việc nâng cao dân trí.
+ Người đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ...
+ Người gửi thư đến tất cả học sinh với lời nhắn nhủ: “Non sông Việt Nam
có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để
sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần
lớn ở công học tập của các em”.
=> Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho giáo dục Việt Nam. Là học sinh,
phải không ngừng nỗ lực học tập để thực hiện tốt một trong 5 điều Bác Hồ dạy
“Học tập tốt, lao động tốt” để xứng đáng là học sinh thế hệ Hồ Chí Minh.
* Mục III.1 “ Kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở Nam
Bộ” giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong diễn văn "Ngày kháng chiến toàn
quốc” của Bác cùng với hình ảnh đoàn quân Nam tiến.

- 16 -


“Vậy toàn quốc đồng bào ta, Nam
Bộ thì ra sức kháng chiến, Trung
Bộ và Bắc Bộ thì ra sức giúp đỡ



+ Phần liên hệ cá nhân: giáo viên để học sinh phát biểu ý kiến, suy nghĩ
của bản thân trước tình huống phải xử lí. Sau đó giáo viên định hướng tư tưởng
cho các em.
* Ở mục III.2 “Đấu tranh với quân Trung Hoa Dân quốc và bọn phản
cách mạng ở miền Bắc”, giáo viên sử dụng lời tuyên bố của chủ tịch Hồ Chí
Minh “ Chính sách của Việt Nam đối với Trung Hoa lúc này tóm tắt lại là phải
thân thiện” lời tuyên bố của chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ giúp học sinh thấy được
chủ trương của Đảng và chính phủ ta đối với quân Trung Hoa dân quốc trong tình
thế chúng ta vừa phải đấu tranh với Pháp ở Nam Bộ, vừa phải đối phó với quân
Tưởng ở miền Bắc.
Để hiểu lí do vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phải thân thiện với
Trung Hoa, giáo viên đưa câu hỏi nhằm phát huy kỹ năng giải thích vấn đề của
học sinh.
(?) Vì sao Đảng chủ trương hòa với Trung Hoa Dân quốc khi chúng vào miền
Bắc nước ta?
- Giáo viên gợi ý trả lời:
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở miền Bắc, từ vĩ tuyến 16 trở ra, có
gần 20 vạn quân Trung hoa Dân quốc đóng ở Hà Nội và hầu hết các tỉnh để làm
nhiệm vụ giải giáp quân Nhật theo quy định của các nước Đồng minh. Quân
Trung hoa Dân quốc nuôi dã tâm tiêu diệt Đảng Cộng sản, lật đổ chính quyền
cách mạng, thành lập chính quyền tay sai. Vì vậy, chúng đã đem theo bọn quân
Tưởng là quân đồng minh vào nước ta để tay sai từ các tổ chức phản động (Việt
quốc, Việt cách). Bọn này đã dựng lên chính quyền tay sai ở một số nơi: Móng
Cái, Vĩnh Yên, Yên Bái, gây ra nhiều vụ cướp bóc, giết người, chống phá chính
quyền. Trong hoàn cảnh đó, Đảng đã chủ trương hoà chứ không đánh. Việc làm
đó xuất phát từ 2 nguyên nhân sau:

- 18 -


Qua đoạn trích, học sinh hiểu sâu sắc hoàn cảnh lúc đó, vì sao Người lại phải
quyết định kí hiệp định sơ bộ và bản tạm ước với thực dân Pháp. Nhưng để học
sinh đưa ra được nhận xét, đánh giá của cá nhân về quyết định của Bác và quyết
định đó quan trọng như thế nào, giáo viên có thể sử dụng câu hỏi.
(?) Em nhận xét gì về quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ký hiệp định sơ
bộ và bản tạm ước với thực dân Pháp? Hành động đó có ý nghĩa gì đối với cách
mạng nước ta?
- Giáo viên gợi ý học sinh trả lời:
+ Trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", trên nguyên tắc giữ vững chủ
quyền và độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có những bước đi
sách lược khôn khéo, phân hoá cao độ kẻ thù, tạm thời hoà hoãn với quân Tưởng
để giữ vững chính quyền, tạo điều kiện đối phó với quân Pháp ở miền Nam, từng
bước phá tan âm mưu “diệt cộng cầm Hồ”, “Hoa quân nhập Việt” của Tưởng
Giới Thạch; đồng thời, không ngừng củng cố khối đoàn kết toàn dân, làm thất bại
mọi mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, trừng trị bọn phản cách mạng và
động viên toàn thể nhân dân đoàn kết một lòng, dốc sức xây dựng thực lực đất
nước.
- 20 -


+ Thể hiện bản lĩnh vững vàng của bộ não lãnh đạo cách mạng Việt Nam nắm vững quy luật cách mạng, nắm vững thời và thế, biết cách tạo thời và thế, từ
đó phấn đấu giành thắng lợi từng bước, từ nhỏ đến lớn, từ thấp lên cao, biết tiến,
biết thoái, thoái một bước để tiến hai bước, giải quyết hài hòa giữa cương và nhu,
lấy nhu thắng cương.
+ Việc kí hiệp định sơ bộ và bản tạm ước có ý nghĩa rất quan trọng đối với
tình hình của nước ta lúc bấy giờ, khi mà ta cần có thời gian để xây dựng củng cố
lực lượng để chuẩn bị cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp mà Đảng và
chính phủ biết trước là không thể tránh khỏi.
Bài 18 “Những năm đầu về kháng chiến toàn quốc chống thực dân

Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước”.
+ Người kêu gọi toàn dân đoàn kết vùng dậy đánh giặc: “Bất kỳ đàn ông,
đàn bà, bất kỳ người già người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ
là người Việt Nam thì phải đứng lên chống thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”.
+ Bằng mọi phương tiện có trong tay: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm
dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc. Ai cũng phải ra sức
chống thực dân Pháp cứu nước”.
+ Người khẳng định niềm tin tất thắng của cuộc kháng chiến: “Dù phải
gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định
về dân tộc ta”.
(*) Ý nghĩa lịch sử: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch
nói

lên
+ Chân lí thiêng liêng “không có gì quý hơn độc lập tự do”.
+ Là biểu hiện tinh thần bất khuất, quyêt tâm sắt đá của dân tộc ta.
+ Là lời hịch cứu nước, có tác dụng động viên, thôi thúc, cổ vũ nhân dân ta

vùng dậy chống giặc cứu nước.

- 22 -


+ Lời kêu gọi đó đã phác họa ra những nét cơ bản về đường lối chiến tranh
nhân dân và được Đảng ta phát triển hoàn chỉnh thành đường lối kháng chiến
toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.
+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng
gọi của non sông đất nước, là mệnh lệnh của cách mạng tiến công, giục giã và soi
đường chỉ lối cho mọi người Việt Nam đứng dậy cứu nước.
* Về Đường lối kháng chiến, giáo viên sử dụng những đoạn trích “Địch

“ Âm mưu địch tấn công Việt Bắc: chúng muốn khủng bố nhân dân ta, tiêu
diệt chủ lực ta, phá tan cơ quan ta.
Lực lượng của địch: chúng động viên 15.000 binh sỹ tinh nhuệ nhất trong hải,
lục, không quân của chúng vào cuộc tiến công này.
Kế hoạch của địch: chúng phóng một gọng kìm khổng lồ phía Nam, từ Hà Nội
chọc thẳng đến Phú Thọ lên Tuyên Quang đến Chiêm Hoá .
Một gọng kìm khổng lồ phía Bắc, từ Lạng Sơn vượt thẳng lên Cao Bằng đến Bắc
Cạn. Một mũi dùi khổng lồ từ Hà Nội, chọc thẳng vào vùng Thái Nguyên, Bắc
Cạn để chặt Việt Bắc ra làm hai miếng. Nhảy dù lung tung ở Chợ Mới, chợ Đồn,
chợ Chu, Đại Từ, Vũ Nhai và nhiều nơi khác.
Một đại đội quân từ Bắc Giang – Bắc Ninh đánh tạt lên. Thế là bốn mặt thắt
chặt, từ ngoài đánh vào từ trong quét ra.
Thời gian của địch: Bọn quân phiệt thực dân định dùng cách đánh ào ạt, chớp
nhoáng, bất thình lình, dùng cách sét đánh ngang tai làm cho ta hoang mang
hoảng hốt, làm cho trở tay không kịp”.
Qua đoạn trích, học sinh hiểu sự chuẩn bị kĩ lưỡng của thực dân Pháp cho
cuộc tấn công lên Việt Bắc. Nhưng đằng sau sự chuẩn bị đó là âm mưu gì?. Để
phát huy khả năng đánh giá, nhận định vấn đề, giáo viên sử dụng câu hỏi.
(?) Em đánh giá gì về kế hoạch tấn công lên Việt Bắc của thực dân Pháp. Qua
đoạn trích, tác giả muốn nhắc nhở điều gì?
- Giáo viên gợi ý học sinh trả lời.

- 24 -


+ Đầu năm 1947, sau khi giải pháp chính trị lập chính phủ bù nhìn bế
tắc, thực dân Pháp đã quyết định dùng quân sự để giải quyết vấn đề Chiến tranh
Đông Dương.
+ "Kế hoạch tấn công Việt Bắc" là một cuộc hành quân đại quy mô vào
vùng Việt Bắc mục đích phá vỡ các tổ chức quân sự dân sự của Việt Minh, lùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status