ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY
ĂN QUẢ TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐỖ THỊ BẮC
Thái Nguyên - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phát triển kinh tế sản xuất cây ăn quả cũng nhƣ bất kỳ ngành sản xuất
kinh doanh nào, muốn tồn tại và phát triển, đứng vững trên thƣơng trƣờng thì
vấn đề hiệu quả kinh tế (HQKT) phải đƣợc đặt lên hàng đầu. Qua mỗi thời kỳ
nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả, góp phần cải thiện và nâng cao
đời sống cho ngƣời nông dân, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn trên địa bàn huyện Đoan Hùng.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế,
nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả.
- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất cây
ăn quả trên địa bàn huyện Đoan Hùng năm 2005 - 2007.
- Đƣa ra định hƣớng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế sản xuất cây ăn quả huyện Đoan Hùng đến năm 2015.
3. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.l. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về hiệu quả kinh tế và nâng
cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cây ăn quả của huyện, các hộ, trang trại và
vùng trồng cây ăn quả tại huyện Đoan Hùng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi về không gian, thời gian và nội
dung nghiên cứu.
- Về không gian: Tại huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
- Về thời gian: 2005 - 2007
- Về nội dung:
Nghiên cứu về thực trạng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất
cây ăn quả tại huyện. Từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế sản xuất cây ăn quả của huyện.
Tuy vậy, vấn đề hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả là rất rộng, vì vậy
luận văn tập trung nghiên cứu, giải quyết chủ yếu ba cây ăn quả chính là cây
bƣởi, cây xoài và cây vải.
hộ nông dân từ nghèo, đói lên hộ có thu nhập khá và hộ giàu. Hiệu quả kinh tế
và sự ổn định của vƣờn cây ăn quả gắn liền với cuộc sống định canh, định cƣ,
hạn chế phá rừng làm nƣơng rẫy [40].
Hội nhập kinh tế thế giới, sản phẩm quả càng có giá trị thƣơng phẩm cao,
giải quyết công ăn việc làm góp phần tăng thu nhập cho ngƣời lao động.
- Phát triển CĂQ ở Việt Nam góp phần thúc đẩy quá trình: Phủ xanh đất
trống, đồi núi trọc, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên rừng, bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng sinh thái. Vƣờn CĂQ có tác dụng cải
tạo môi trƣờng sinh thái, tạo không khí trong lành, phong cảnh tƣơi đẹp, hình
thành các vƣờn du lịch sinh thái nông nghiệp.
- Phát triển cây ăn quả góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, chuyển nền kinh tế độc canh, tự cấp, tự túc sang
sản xuất hàng hoá, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững [42].
- Phát triển CĂQ gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ
thƣơng mại nhƣ bao bì, thuỷ tinh, đồ hộp, dịch vụ vận chuyển Góp phần xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bƣớc hình thành nông thôn mới văn
minh hiện đại.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật sản xuất cây ăn quả
Cây ăn quả thƣờng đƣợc trồng rải rác trên địa bàn rộng, cây sống lâu năm
và có chu kỳ kinh tế dài. Tuy nhiên, với mỗi loài, mỗi giống CĂQ lại có tính
thích ứng với từng tiểu vùng khí hậu, tính chất đất đai khác nhau, hình thành nên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
các vùng chuyên sản xuất CĂQ đặc sản có hƣơng vị đặc trƣng riêng [33].
Các yếu tố đất đai, nhiệt độ, lƣợng mƣa, độ ẩm không khí, và các hiện
tƣợng đặc biệt của thời tiết nhƣ giông bão, sƣơng muối, mƣa đá ảnh hƣởng lớn
đến năng suất, sản lƣợng và phẩm chất quả thu hoạch đƣợc. Sự khác nhau về
yếu tố khí hậu giữa các vùng sinh thái tạo nên các kiểu thời tiết đặc trƣng và
cũng hình thành nên các vùng trồng cây ăn quả đặc trƣng rất thích hợp với quá
6
nhiều lần, mỗi lần lại có sản lƣợng quả khác nhau vì vậy khi chăm sóc và phòng
trừ bệnh hại có ảnh hƣởng rất lớn tới kết quả thu đƣợc và nâng cao hiệu quả kinh
tế trong sản xuất CĂQ.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
1.2.1. Các quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế
Với bất cứ ngành sản xuất vật chất nào, sản phẩm hàng hoá dịch vụ đƣợc
tạo ra là kết quả của sự phối hợp các yếu tố đầu vào với trình độ công nghệ, kỹ
thuật sản xuất nhất định [7]. Tuy vậy khi bắt tay vào thực tế sản xuất, con ngƣời
có nhiều cách phối hợp các yếu tố đầu vào với những công nghệ sản xuất khác
nhau.
Khi phân tích hiệu quả kinh tế mà mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh thu
đƣợc không thể tách rời phân tích rủi ro. Với mỗi câu hỏi đặt ra cho nhà sản xuất
là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất nhƣ thế nào? Thì câu hỏi sản xuất
nhƣ thế nào hay bằng cách nào chính là trình độ sản xuất, trình độ kỹ thật công
nghệ …
Việc lựa chọn để ứng dụng kỹ thuật công nghệ phụ thuộc vào điều kiện
trình độ sản xuất và khả năng tài chính để tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất và
đồng thời hạn chế đƣợc rủi ro ở mức thấp nhất. Nền kinh tế chịu sự chi phối bởi
quy luật nguồn lực khan hiếm, trong khi đó nhu cầu của xã hội về hàng hoá dịch
vụ ngày càng tăng và đa dạng. Do vậy, đòi hỏi xã hội phải lựa chọn, từng cơ sở
sản xuất, kinh doanh phải lựa chọn, sao cho với một lƣợng nguồn lực nhất định,
phải tạo ra đƣợc khối lƣợng hàng hoá và dịch vụ cao nhất. Đây là mục tiêu của xã
hội và của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh [6].
Trong mọi hình thái kinh tế xã hội, vấn đề HQKT luôn là một phạm trù
kinh tế tồn tại khách quan. Nó xuất phát từ mục đích của sản xuất và sự phát
triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Hiệu quả kinh tế đƣợc bắt nguồn từ sự
thoả mãn ngày càng tăng các nhu cầu vật chất và tinh thần của tất cả các thành
viên trong xã hội cũng nhƣ khả năng khách quan của sự lựa chọn trên cơ sở trình
độ phát triển của lực lƣợng sản xuất và sự giới hạn của nguồn lực. Quá trình tái
trọng tâm nhất.
HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lƣợng các hoạt động
kinh tế. Vì vậy nâng cao chất lƣợng hoạt động kinh tế là nâng cao hiệu quả kinh
tế. HQKT là thƣớc đo, một chỉ tiêu chất lƣợng, phản ánh trình độ tổ chức sản
xuất, trình độ lựa chọn, sử dụng, quản lý và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào
của sản xuất của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng nhƣ toàn bộ nền kinh tế. Có thể
nói hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lƣợng
hiệu quả kinh tế và phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội, là đặc trƣng của mọi
nền sản xuất xã hội [6].
Theo quy luật mối liên hệ phổ biến và sự vận động phát triển thì mọi hiệu
quả kinh tế của các thành viên trong xã hội đều có mối quan hệ với nhau và có tác
động đến hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Với nền kinh tế nƣớc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
ta là nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý
của Nhà nƣớc, theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy các thành phần kinh tế
này có quan hệ với nhau, tác động đến nhau, bổ sung cho nhau đồng thời phụ
thuộc lẫn nhau. Mỗi thành phần kinh tế tồn tại trong xã hội ở các thời kỳ khác
nhau luôn có mục tiêu và yêu cầu riêng của mình, tuy nhiên vấn đề hiệu quả kinh
tế là mối quan tâm hàng đầu để các thành phần kinh tế này có thể tồn tại và phát
triển đi lên. Song, hiệu quả kinh tế không đơn thuần là một phạm trù kinh tế chỉ
đề cập đến kinh tế tài chính mà nó còn gắn liền với ý nghĩa xã hội [5].
Cơ sở của sự phát tiển xã hội chính là sự tăng lên không ngừng của lực
lƣợng vật chất và phát triển kinh tế có hiệu quả tăng khả năng tích luỹ và tiêu
dùng, tạo điều không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, an ninh quốc gia…[13]. Khi xác
định phân tích hiệu quả kinh tế phải tính tới các vấn đề xã hội phức tạp. Chính vì
vậy, việc giải bài toán xác định, đánh giá, so sánh hiệu quả kinh tế là vấn đề hết
sức khó khăn và đôi lúc mang tính chất tƣơng đối nhƣ giải pháp về tổ chức kinh
tổng quát dƣới góc độ xã hội.
- Hiệu quả xã hội biểu thị mối tƣơng quan giữa kết quả sản xuất với các
lợi ích xã hội do sản xuất mang lại. Cùng với sự công bằng trong xã hội, nó
kích thích phát triển sản xuất có hiệu quả kinh tế cao. Nhờ phát triển sản xuất
mà xã hội ngày càng nâng cao đƣợc mức sống của ngƣời lao động cả về mặt
vật chất và tinh thần, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp giảm, các mối quan hệ xã hội
đƣợc cải thiện, môi trƣờng sống, điều kiện làm việc, trình độ xã hội cũng đều
đƣợc nâng lên.
- Hiệu quả phát triển phản ánh sự phát triển của các tế bào kinh tế, các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, các khu vực, vùng kinh tế trong tổng thể nền kinh tế.
Sự phát triển này là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố nhƣ: đời sống vật chất,
đời sống tinh thần, trình độ dân trí, môi trƣờng sống v.v Do kết quả phát triển
sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế mang lại.
Khi xem xét các loại hiệu quả cho thấy hiệu quả kinh tế luôn là trọng tâm
và quyết định nhất. Và hiệu quả kinh tế chỉ đƣợc nhìn nhận đánh giá một cách
toàn diện đầy đủ nhất khi có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xã hội, hiệu quả
của việc bảo vệ, giữ gìn môi trƣờng sinh thái trong lành bền vững và hiệu quả
phát triển.
Nhìn nhận hiệu quả trên khía cạnh là đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, hiệu
quả còn có thể chia thành hai loại: hiệu quả kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành,
hiệu quả kinh tế vùng, hiệu quả kinh tế theo qui mô và hệu quả kinh tế của từng biện
pháp kỹ thuật. Phân loại hiệu quả và hiệu quả kinh tế một cách tƣơng đối giúp ngƣời
nghiên cứu thuận tiện trong việc tính toán, phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế. Tuy
nhiên, thực tiễn các loại hiệu quả không tồn tại một cách riêng biệt mà nó có quan hệ
chặt chẽ với nhau. Mặc dù vậy, trong điều kiện môi trƣờng luôn bị tác động và biến
đổi thì kết quả không phải lúc nào cũng là tốt đẹp theo chiều thuận, đôi khi sự tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
động từ lợi ích bộ phận ảnh hƣởng xấu tới kết quả chung, lợi ích trƣớc mắt thu đƣợc
Q
Trong đó: H - HQKT, Q - Kết quả sản xuất thu đƣợc, K - Chi phí nguồn
lực,
Q - Phần tăng lên của kết quả,
K - Phần tăng lên của chi phí
Chỉ tiêu này có thể tính theo hiện vật, hoặc tính theo giá trị (tiền).
Vấn đề cần thống nhất cách xác định Q và K để tính toán HQKT.
* Q - có thể biểu hiện là:
- Tổng giá trị sản xuất (GO)
- Tổng giá trị gia tăng (VA)
- Thu nhập hỗn hợp (MI)
- Lợi nhuận (Pr)
- Phần tăng lên của kết quả (
Q).
* K - có thể biểu hiện là:
- Tổng chi phí sản xuất (TC)
- Chi phí cố định (FC)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Chi phí biến đổi (VC)
- Chi phí trung gian (IC)
- Chi phí lao động (LĐ)
- Phần tăng lên của chi phí (
K).
VA/IC
MI/IC
Pr/IC
LĐ
GO/LĐ
VA/LĐ
MI/LĐ
Pr/LĐ
K
Q/
K
Phƣơng pháp xác định kết quả sản xuất (Q) và chi phí sản xuất (K) nêu
trên là chung nhất, từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất và ở những điều kiện cụ
thể nhất định vận dụng cho thích hợp.
Đánh giá HQKT trong sản xuất kinh doanh là việc làm hết sức phức tạp,
vì vậy để phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, toàn diện thì ngoài những chỉ
tiêu trên, cần quan tâm đến một số chỉ tiêu khác nhƣ:
- Năng suất đất đai: N
D
= GO
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
- Tổng lợi nhuận (TP
r
): TP
r
= TR – TC
- Doanh lợi
Doanh lợi (%)
=
Tổng lợi nhuận
x 100
Vốn sử dụng trong kinh doanh 1.3. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT
CÂY ĂN QUẢ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.3.1. Kinh nghiệm nâng cao HQKT sản xuất cây ăn quả trên thế giới
Để sản xuất cây ăn quả đạt hiệu quả kinh tế cao cần áp dụng các quy trình
kỹ thuật mới, dùng giống tốt sạch bệnh, canh tác đúng kỹ thuật, nhân giống bằng
công nghệ tiên tiến [40].
Nhà thực vật, nhà di truyền học Hà Lan đã đề xuất sử dụng tia X gây đột
biến cho thực vật nhằm tạo ra nhiều loại giống có sức chống chịu bệnh và cho
năng suất, sản lƣợng cao, phẩm chất tốt. Đến đầu những năm 1980, nhiều nƣớc
phát triển, đặc biệt là Mỹ dùng công nghệ sinh học để giành ƣu thế cạnh tranh
trong sản xuất nông nghiệp: đạt chất lƣợng cao, giá thành hạ. Kỹ thuật chuyển gen
Chanh
Số lƣợng
(triệu tấn)
Giá trị
(triệu
USD)
Số lƣợng
(triệu tấn)
Giá trị
(triệu USD)
Số lƣợng
(triệu tấn)
Giá trị
(triệu USD)
1.Mỹ
914,44
155,94
8266,27
1452,714
745,5
194,792
2.Brazil
67,5
11,511
17804,6
3128,98
1000
261,29
3. Mêxico
257,711
nhất (đạt 17.804,6 triệu tấn tƣơng đƣơng 3.128,98 triệu USD). Trong 3 loại cây
có múi trên cây cam mang lại giá trị sản xuất cao nhất, cây bƣởi có giá trị sản
xuất thấp hơn. Tuy nhiên thị trƣờng thế giới về các loại bƣởi ở Mỹ và Châu
Mỹ trong vài năm vừa qua về sản phẩm bƣởi bị hạn chế bởi cây bƣởi chùm có
độc tố gây ung thƣ làm cho sự ƣa thích về loại quả này bị giảm sút.
1.3.2. Kinh nghiệm nâng cao HQKT sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam
Ở nƣớc ta, trình độ thâm canh các vƣờn quả đang ở mức rất thấp. Cơ sở vật
chất và khả năng tiếp thu các kỹ thuật mới còn rất yếu kém - nhất là ở các tỉnh
trung du và miền núi phía Bắc, ven biển Trung bộ, khu 4 cũ và Tây Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Nƣớc ta chƣa có những vƣờn nhân giống tiêu chuẩn, các vƣờn chƣa đáp ứng
đƣợc nhu cầu về số lƣợng và chất lƣợng cây giống để phát triển sản xuất. Hiện
tƣợng phát triển diệnt tích CĂQ một cách tràn lan theo hƣớng quảng canh là phổ
biến. Chính vì vậy, huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang gần 100% diện tích cam
sành trồng từ những năm 85 - 90 đã bị tàn lụi hoàn toàn. Thậm chí, có nhiều
vƣờn chƣa qua thời kỳ kiến thiết cơ bản đã phải huỷ bỏ vì sâu bệnh. Nguyên
nhân chủ yếu là do gần 90% cây giống trong vùng do nhân dân trợ sản xuất bằng
những phƣơng pháp hết sức thô sơ và lạc hậu. Việc nhập nội giống táo tây, nho
Pháp từ nƣớc ngoài vào trong nƣớc mà không tuân thủ các quy trình về sản xuất
và lƣu hành giống cây ăn quả đã gây thất thoát hàng chục tỷ đồng về cây giống
và hàng trăm tỷ đồng về công lao động, diện tích đất đai hàng trăm ha trồng trọt
trong rất nhiều năm nhƣng không cho sản phẩm [13].
Qua thực trạng cho thấy nhu cầu nâng cao HQKT sản xuất CĂQ là một
trong những vấn đề sống còn trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế. Tình
trạng không đồng đều về giống, quy trình kỹ thuật thâm canh thực hiện không
đầy đủ, việc chăm bón tuỳ tiện dẫn đến sự chênh lệch khá lớn về chất lƣợng,
sản phẩm kém khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng trong nƣớc và xuất khẩu.
Để nâng cao HQKT sản xuất cây ăn quả, nƣớc ta đã tiếp thu những thành
dụng thuốc BVTV,…), trong và sau thu hoạch đều rất quan trọng. Nhanh chóng
xây dựng các phòng kiểm tra chất lƣợng nông sản đủ năng lực phân tích các chỉ
tiêu về thành phần dinh dƣỡng, chất phụ gia, chất kích thích, độc tố, thực phẩm
chiếu xạ và nông sản chuyển gen…Mặt khác, cần khuyến cáo ngƣời dân áp
dụng các quy trình quản lý chất lƣợng sản xuất hàng nông sản đáp ứng nhu cầu
nông sản trong nƣớc và xuất khẩu.
Ở thành phố Hà Nội khu vực nội thành hàng năm tiêu thụ 60 - 70 nghìn tấn
quả. Dự đoán đến năm 2010 với 90 triệu dân, số dân đô thị trên 31 triệu ngƣời,
lƣợng quả tiêu thụ là 80 kg/ngƣời/năm, lƣợng quả tiêu thụ kể cả khách du lịch là
7 - 8 triệu tấn. Phát triển cây ăn quả cung cấp cho thị trƣờng nội địa là một trong
những hƣớng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các vùng đặc biệt là ở vùng
Đồng Bằng, vùng núi trung du nơi có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển cây
ăn quả [36].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Tháng 3 năm 1989, Hội nghị Trung ƣơng lần thứ 6 khoá VI, đã ra nghị
quyết tiếp tục khẳng định công cuộc đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp,
xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá, nông nghiệp sinh thái. Nhờ đƣờng
lối, chủ trƣơng đổi mới đúng đắn của Đảng, kinh tế đất nƣớc phát triển không
ngừng, nông nghiệp đạt đƣợc những thành tựu vƣợt bậc. Việt Nam đang từ nƣớc
thiếu đói về lƣơng thực, vƣơn lên thành một nƣớc xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên
thế giới [9]. Cùng với thành tựu đó ngành sản xuất cây ăn quả cũng có những
bƣớc tiến đáng kể, tổng diện tích trồng CĂQ tăng nhanh, đáp ứng nhu cầu về
sản phẩm quả tƣơi ngày một tăng của xã hội.
Tổng diện tích cây ăn qủa cả nƣớc tính đến 12/2007 là 775,5 nghìn ha
tăng 100,5% so với cùng kỳ năm trƣớc, làm tốt công tác cải tạo vƣờn tạp, huỷ bỏ
diện tích cây già cỗi, năng suất thấp nên sản lƣợng một số cây ăn quả đạt đƣợc
khá cao. So với năm 2006, năm 2007 sản lƣợng cam, quýt 662 nghìn tấn tăng
nhuyễn giữa sinh thái và kinh tế [41].
Phát triển bền vững là một quá trình thay đổi trong đó có sự thay đổi về nếp
nghĩ và cách làm của con ngƣời trong việc khai thác tài nguyên [dt 36], sự giám sát
đầu tƣ, sự định hƣớng phát triển công nghệ và nguyện vọng của con ngƣời trong
hiện tại và tƣơng lai. Xem xét đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả phải
dựa trên thực trạng về môi trƣờng sinh thái và tên qua điểm xây dựng một hệ sinh
thái nông nghiệp bền vững, chuyển dần từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá,
từ hệ thống nông nghiệp lạc hậu lên hiện đại.
1.4.2. Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội
- Thị trường tiêu thụ
Trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trƣờng có ý nghĩa sống còn đối với
mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh, mỗi nhà sản xuất. Bởi lẽ trong kinh tế thị trƣờng
nhà sản xuất cung cấp hàng hoá và dịch vụ, bán cái mà thị trƣờng cần chứ không
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
phải bán cái mình có, vì mục tiêu lợi nhuận. Do vậy, đòi hỏi các cơ sở sản xuất,
kinh doanh, nhà sản xuất phải trả lời đúng chính xác ba vấn đề cơ bản của một tổ
chức kinh tế đó là sản xuất, kinh doanh cái gì? Sản xuất nhƣ thế nào và sản xuất
cho ai? Có nhƣ vậy, cơ sở sản xuất, kinh doanh mới có thể thu đƣợc kết quả và
HQKT cao, mới tồn tại và đứng vững trên thƣơng trƣờng. Nhƣ vậy, trƣớc khi
quyết định sản xuất, nhà sản xuất phải nghiên cứu kỹ thị trƣờng và nắm vững
dung lƣợng thị trƣờng, nhu cầu thị trƣờng và môi trƣờng kinh doanh sẽ tham
gia…[7].
Trong nông nghiệp, do yêu cầu của thị trƣờng, giá cả sản phẩm là đòi hỏi
tất yếu để lựa chọn cơ cấu cây trồng để đạt lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao
nhất. Thị trƣờng là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời và phát triển của
sản xuất và trao đổi hàng hoá. Chức năng của thị trƣờng là thực hiện sản phẩm
và thừa nhận lao động làm ra sản phẩm cân đối cung cầu và kích thích nâng cao
hiệu quả của sản xuất.
mới có điều kiện giảm chi phí sản xuất và nâng cao HQKT. Phát triển sản xuất
CĂQ ở Đoan Hùng hiện nay chủ yếu ở các hộ nông dân có kinh tế khá, hộ
nghèo, do vậy muốn phát triển nhanh về diện tích, quy mô trồng CĂQ đòi hỏi
phải có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc về vốn nhƣ: cho vay với lãi suất ƣu đãi, trợ giá
cây giống, phân bón. Mặt khác cần mở ra và đẩy nhanh bảo hiểm vật nuôi, giúp
đã các hộ nông dân sản xuất CĂQ khi gặp rủi ro nhƣ thiên tai, dịch bệnh…
- Lao động
Lao động là yếu tố quyết định đối với mỗi quá trình sản xuất. Việc trồng và
chăm sóc CĂQ có yêu cầu kỹ thuật riêng, đòi hỏi ngƣời lao động phải có trình độ
học vấn, trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất nhất định nhƣ: Hiểu biết về chế độ,
kỹ thuật chăm sóc, bón phân hợp lý, năm nào sai quả bón phân tăng lên, đáp ứng nhu
cầu dinh dƣỡng của cây, phòng chống sâu bệnh hại, giữ cho bộ rế phát triển mạnh,
bộ khung tán phát triển hợp lý, khi thu hoạch quả không bẻ quá nhiều ảnh hƣởng đến
sinh lý của cây. CĂQ là loại cây trồng cạn đòi hỏi thích nghi đất có độ màu mỡ, nhẹ
xốp, tầng canh tác dầy, đất phải thoát nƣớc kịp thời khi sâu bệnh phát sinh nhiều, cây
đến thời vụ quả dễ gây dụng quả, tuổi thọ ngắn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
- Tổ chức sản xuất và chính sách
Qua những đặc điểm điều kiện tự nhiên, các nhân tố ảnh hƣởng đến sản
xuất CĂQ cho thấy CĂQ phù hợp với phƣơng thức sản xuất nông lâm. hoặc
nông lâm kết hợp, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, cần phát triển mô hình
dạng kinh tế vƣờn đồi, vƣờn rừng, theo hình thức trang trại là mô hình thích
hợp. Sách lƣợc kinh doanh vƣờn quả là cần nắm chắc môi trƣờng và xu thế, có
cách nhìn trung và dài hạn đối với sản phẩm quả trong điều kiện môi trƣờng
kinh doanh biến đổi với tốc độ nhanh, để đạt hiệu quả.
Kinh doanh vƣờn quả cần từ bỏ mô hình trƣớc đây chỉ lấy sản xuất làm
phƣơng hƣớng chủ đạo mà coi nhẹ việc tiêu thụ, lấy lợi nhuận làm trọng tâm mà
không xem xét khả năng của ngành để đẩy mạnh sức cạnh tranh. Diện tích vƣờn
gian cung cấp quả tƣơi cho thị trƣờng [2].
- Thời vụ trồng cây: CĂQ đƣợc trồng vào hai vụ trong năm vụ xuân trồng
tháng 2, tháng 3 và đầu tháng 4, vụ thu trồng tháng 8, tháng 9, tháng 10. Nhƣng
có điều kiện chuẩn bị đầy đủ về giống, vật tƣ, phân bón thì nên trồng cây vào vụ
xuân hơn vì thời tiết thuận lợi hơn cho việc trồng cây, cây nhanh bén rễ và ra
mầm, cây đạt tỷ lệ sống cao hơn.
- Chăm sóc: Tuỳ thuộc vào các loại đất đai, tuổi cây, tình trạng sinh
trƣởng mà bón lƣợng phân thích hợp. Hiện nay trên thị trƣờng có nhiều loại
phân có thể bón qua lá, một số chế phẩm đậu quả làm kích thích tăng tỷ lệ đậu
hoa, quả, tăng năng suất cây trồng. Tỉa cành, tạo hình là biện pháp giúp cho cây
có đƣợc bộ khung cân đối, tán cây thoáng tăng khả năng quang hợp, chống chịu
đƣợc với điều kiện tự nhiên nhƣ: gió, bão, giảm bớt sâu bệnh trú ngụ phát triển.
Cây nhanh ra hoa kết quả, tập trung dinh dƣỡng cho cây, tạo cho cây có năng
suất cao, ổn định [2].
- Phòng trừ sâu bệnh: Cần phải phòng trừ sâu bệnh kịp thời. Khi phát
hiện các loại sâu bệnh thì cần xem xét kỹ lƣỡng để chọn loại thuốc sâu cho phù
hợp và phun đúng liều lƣợng, không ảnh hƣởng đến chất lƣợng quả khi thu
hoạch.
- Thu hoạch và bảo quản: Đối với từng loại CĂQ cần thu hoạch kịp thời
để không gây ảnh hƣởng đến phẩm chất quả, không nên thu hoạch quá sớm hoặc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
quá muộn, trƣớc khi thu hoạch cần ƣớc lƣợng sản lƣợng thu đƣợc để có kế
hoạch thu hái, vận chuyển và tiêu thụ. Đối với bƣởi cần dùng kéo cắt cuống quả
khi thu hoạch tránh sát vỏ, gẫy cành, rụng lá.
Phân cấp quả trƣớc khi vận chuyển, cất giữ, ẩm độ phải thích hợp (70% -
80%), nhiệt độ thích hợp (10 – 13
0
C) thoáng mát, bôi vôi vào cuống quả, nếu cất
- Xã Vân Du, xã Hùng Long đại diện cho tiểu vùng ven sông Lô, sông
chảy gồm 13 xã).
- Xã Tiêu Sơn đại diện cho tiểu vùng Hạ huyện (gồm 6 xã).
Các điểm nghiên cứu này đều nằm trong các vùng trọng điểm, vùng quy
hoạch dự án phát triển vƣờn cây ăn quả theo hƣớng mở rộng các vƣờn cây ăn
quả tập trung, cây ăn quả chủ lực có tính sản xuất hàng hoá cao.
Các điểm nghiên cứu này có hệ thống vƣờn cây ăn quả cho hiệu quả kinh
tế cao; bƣởi Bằng Luân, xoài Vân Du, vải Hùng Long, có nhiều hộ gia đình
trồng cây ăn quả điển hình sản xuất kinh doanh giỏi, sản xuất cây ăn quả có hiệu
quả kinh tế cao qua nhiều năm (từ 10 đến 50 năm).
Về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội ở mỗi điểm nghiên cứu có những
thuận lợi và khó khăn nhất định cho sự phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả
kinh tế sản xuất cây ăn quả của huyện.
Bảng 1.3. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại các điểm nghiên cứu
Đặc điểm
Các điểm nghiên cứu
Vùng thƣợng huyện
(xã Bằng Luân)
Vùng ven sông Lô,
sông Chảy (xã Vân
Du, Hùng Long)
Vùng Hạ huyện
(xã Tiêu Sơn)
1. Điều kiện tự nhiên đối
với phát triển sản xuất
CĂQ
Rất thích hợp
Rất thích hợp
Thích hợp vừa
2. Độ dốc tung bình
Tƣới kém chủ
động
7. Các CĂQ chính
Bƣởi, xoài, nhãn,
dứa,
Bƣởi, xoài, nhãn,
vải,
Bƣởi, xoài, nhãn,
vải, dứa,
8. Giao thông
Thuận lợi vừa
Thuận lợi
Thuận lợi vừa
9. Thị trƣờng tiêu thụ
Thuận lợi
Rất thuận lợi
Thuận Lợi
10. Tập quán sản xuất
Truyền thống địa
phƣơng
Truyền thống địa
phƣơng
Truyền thống địa
phƣơng
Nguồn: Phòng Nông Nghiệp huyện Đoan Hùng và kết quả điều tra