BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ VÂN NGA
NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG AO
NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (LITOPENAEUS VANNAMEI)
TẠI PHƯỜNG HÀ AN, THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ : 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGÔ THẾ ÂN
tình của Ban giám ñốc Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc Cảnh báo Môi trường
và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản khu vực miền Bắc (CEDMA) – Viện Nghiên
cứu Nuôi trồng Thủy 1. Qua ñây tôi cũng xin ñược gửi lời cảm ơn tới tất cả các
anh chị trong Phòng Môi trường – CEDMA ñã nhiệt tình hướng dẫn, giúp tôi
nâng cao các thao tác, kỹ năng phân tích trong phòng thí nghiệm.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia ñình và bạn bè ñã luôn ở bên tôi,
khích lệ ñể tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Vân Nga
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
MỞ ðẦU 1
1. ðặt vấn ñề 1
2. Mục ñích 2
3. Yêu cầu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới và ở Việt Nam 3
2.3.3 Diễn biến chất lượng môi trường nước và bùn ñáy trong ao nuôi tôm
chân trắng phường Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giai
ñoạn 2009-2013 40
2.3.4 Biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường nước và bùn ñáy trong ao nuôi
tôm thẻ chân trắng tại phường Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng
Ninh 40
2.3.5 ðề xuất giải pháp bảo vệ môi trường tại vùng nuôi tôm phường Hà
An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 40
2.4. Phương pháp nghiên cứu 40
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 40
2.4.2. Phương pháp lấy mẫu và ñánh giá chất lượng môi trường 41
2.4.3. Phương pháp so sánh và ñánh giá 45
2.4.4. Phương pháp ñiều tra phỏng vấn 46
2.4.5. Phương pháp ñề xuất giải pháp bảo vệ môi trường 46
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 46
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
3.1. ðiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Hà An, thị xã
Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 47
3.1.1. ðiều kiện tự nhiên 47
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 53
3.2. Tình hình nuôi trồng tôm thẻ chân trắng trên ñịa bàn phường Hà An,
thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 57
3.2.1. Diện tích nuôi trồng tôm thẻ chân trắng tại ñịa bàn nghiên cứu 57
3.2.2. Chuẩn bị ao nuôi và quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng tại ñịa bàn
nghiên cứu 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nội dung
BTC Bán thâm canh
CEDMA Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc Cảnh báo Môi
trường và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản khu
vực miền Bắc
CN - TTCN
Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
FAO
Tổ chức Nông lương Thế giới
NN & PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
PTSX Phát triển sản xuất
QCCT
Bảng 2.1: Vị trí các ñiểm lấy mẫu và số lượng mẫu lấy giai ñoạn năm 2009 - 2013 41
Bảng 2.2: Thời gian thu mẫu ao nuôi giai ñoạn 2009 - 2013 42
Bảng 2.3 : Thông số và tần số quan trắc 43
Bảng 2.4: Phương pháp phân tích mẫu 45
Bảng 3.1: Khí tượng thủy văn Quảng Yên 49
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế trên ñịa bàn thị xã Quảng Yên 53
Bảng 3.3: Diện tích và dân số các khu trong phường Hà An 55
Bảng 3.4: ðặc ñiểm diện tích và ñộ sâu ao nuôi tôm 58
Bảng 3.5: Kỹ thuật cải tạo ao nuôi tôm thẻ chân trắng nước lợ 60
Bảng 3.6: Chất lượng giống nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm 63
Bảng 3.7: Thời gian nuôi theo các hình thức 64
Bảng 3.8: Hình thức nuôi tôm thẻ chân trắng trên ñịa bàn phường Hà An, thị
xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giai ñoạn 2009 - 2013 65
Bảng 3.9: Các bệnh tôm thường gặp trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng 66
Bảng 3.10: Giá trị trung bình các yếu tố môi trường trong nước cấp khu vực
nghiên cứu giai ñoạn 2009 - 2012 68
Hình 2.2: Sơ ñồ vị trí lấy mẫu vùng nuôi tôm tập trung phường Hà An,
thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh năm 2013. 42
Hình 2.3: Sơ ñồ thu mẫu bùn 44
Hình 3.1: Biến ñộng giá trị trung bình nhiệt ñộ tại khu vực nghiên cứu
giai ñoạn 2009 - 2013 72
Hình 3.2: Sự biến ñộng giá trị trung bình của pH tại khu vực nghiên cứu
giai ñoạn 2009 - 2013 73
Hình 3.3: Biến ñộng giá trị trung bình của DO trong khu vực nghiên cứu
giai ñoạn 2009 - 2013 74
Hình 3.4: Biến ñộng giá trị trung bình của COD và BOD
5
trong khu vực
nghiên cứu năm 2013 75
Hình 3.5: Sự biến ñộng giá trị trung bình NH
4
+
giai ñoạn 2009 - 2013 76
Hình 3.6: Biến ñộng giá trị trung bình của PO
4
3-
tại khu vực nghiên cứu
giai ñoạn 2009 - 2013 77
nuôi công nghiệp lại nảy sinh rất nhiều vấn ñề về môi trường trong ao nuôi, ñặc
biệt là môi trường nước và bùn ñáy.
Chất lượng môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản là một vấn ñề rất
quan trọng, bởi nó không chỉ ảnh hưởng ñến sự tồn tại, phát triển của sinh vật thủy
sinh mà còn ảnh hưởng tới chất lượng các loại thủy sản. Kể từ năm 2000, nuôi
trồng thủy sản nước ta ñã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang
quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh. Có thể nói, hình thức nuôi thâm
canh không ñúng kĩ thuật gây tác ñộng không nhỏ tới chất lượng nước bởi quá
trình nuôi với mật ñộ lớn, sử dụng lượng thức ăn và hóa chất trong ao nuôi nhiều.
ðiều này làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do lượng thức ăn dư thừa
ngày càng nhiều trong ao hồ nuôi, vượt quá khả năng tự làm sạch tự nhiên.
Mặt khác, chất lượng nước và bùn ñáy trong ao nuôi lại có mối quan hệ
mật thiết với nhau. Hầu hết tôm chết là do dịch bệnh (như bệnh ñỏ thân, ñốm
trắng, mòn ñuôi, ) mà các dịch bệnh này phát sinh do chất lượng nước và bùn
ñáy trong ao bị suy thoái, tích lũy nhiều chất ô nhiễm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Phường Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh là một trong những
vùng nuôi tôm tập trung tương ñối lớn của tỉnh Quảng Ninh. Với diện tích nuôi
trồng thủy sản là 342 ha, có tới 156 ha nuôi trồng thủy sản nước lợ, trong ñó nuôi
tôm thẻ chân trắng chiếm 75% diện tích theo hình thức thâm canh. Những năm
gần ñây, hiện tượng môi trường nước bị suy thoái, ô nhiễm và bệnh tôm xảy ra
thường xuyên khiến cho nhiều hộ nuôi tôm bị thất thu hoặc mất trắng. Theo Mai
Văn Tài và cs (2011), năng suất tôm trên ñịa bàn trong những năm gần ñây giảm
sút nghiêm trọng do tôm thẻ chân trắng bị chết gần như toàn bộ vào giai ñoạn
tháng thứ 2 của quá trình nuôi. Một trong những nguyên nhân ñược ñưa ra xem
xét là do ảnh hưởng của chất lượng môi trường sống làm phát sinh dịch bệnh suy
gan tụy cấp trên tôm.
trắng ở khu vực châu Mỹ năm 1980 ñạt 193,000 tấn. Năm 1998 sản lượng ñạt
mức kỷ lục là 191,000 tấn chiếm 23% tổng sản lượng nuôi tôm nuôi trên thế giới.
Cho ñến năm 2003, sản lượng tôm thẻ chân trắng trên thế giới ñạt khoảng 1 triệu
tấn, từ ñó sản lượng tôm liên tục tăng nhanh qua các năm, ñến năm 2010 sản
lượng tôm ñạt khoảng 2,7 triệu tấn (FAO, 2011). ðến năm 2012 sản lượng tôm
ñạt khoảng 4 triệu tấn. Dự kiến sản lượng tôm thẻ chân trắng ñạt sản lượng
khoảng 6 triệu tấn vào năm 2015 với hình thức nuôi chủ yếu là thâm canh và siêu
thâm canh.
Hình 1.1: Sản lượng tôm thẻ chân trắng trên thế giới
(Nguồn: Châu Tài Tảo, 2010) Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Theo báo cáo tại hội nghị Goal (Global Outlook For Aquaculture
Leadership) diễn ra tại Madrid (Anderson & Valderrama, 2007) cho thấy tốc ñộ
tăng trưởng tôm nuôi thế giới ñang phụ thuộc vào tôm thẻ chân trắng. ðặc biệt
việc phát triển loài tôm này ở Châu Á là nhân tố quyết ñịnh. Giai ñoạn từ năm
2001 – 2006, trong khi tôm sú chỉ duy trì ở một sản lượng nhất ñịnh thì ở Châu Á
tôm thẻ chân trắng ñã nhảy vọt.
Nhiều quốc gia châu Á du nhập tôm thẻ chân trắng vào nuôi và nó nhanh
chóng trở thành một ñối tượng nuôi trồng mới cho năng suất và hiệu quả cao.
Theo thống kê cho thấy, ñến ñầu năm 1996, tôm thẻ chân trắng chính thức ñược
di nhập vào châu Á ở quy mô thương mại và ñược giới thiệu rộng rãi như một
ñối tượng nuôi thương phẩm ở châu Á. Trước hết là Trung Quốc và ðài Loan
vào năm 1996, sau ñó lan nhanh và ñược phát triển ở hầu hết các nước châu Á
khác ở ven biển trong hai năm 2000 – 2001 như Philippin, Indonexia, Việt Nam,
Malayxia và Ấn ðộ.
1.1.2.1. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng là ñối tượng nuôi khá mới mẻ ở Việt Nam, cùng với
làn sóng di nhập tôm thẻ chân trắng vào châu Á. Theo Tổng cục Thủy sản
(2011), tôm thẻ chân trắng ñược ñưa vào Việt Nam năm 2001 và ñược nuôi thử
nghiệm tại 3 công ty: Công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng
Ninh) và công ty Asia Hawaii (Phú Yên).
ðầu tiên, vào ñầu năm 2001, tôm thẻ chân trắng ñã di nhập vào Việt Nam
ñể phục vụ cho việc nuôi thử nghiệm ở một số ñịa phương và một số công ty.
Tôm thẻ chân trắng ñược nhập lần ñầu tiên từ ðài Loan và nuôi thử từ tháng 1
năm 2001, sau ñó tôm bố mẹ và tôm giống ñược nhập từ ðài Loan, Hawaii và
Trung Quốc. ðây là tôm thẻ ngoại lai duy nhất ñược nhập vào Việt Nam. Tôm
ñược nuôi ở một số ñịa phương, có nơi dân nuôi tự phát, có nơi tính cho công ty
TNHH thuê ñất ñể sản xuất giống hay nuôi tôm thịt.
Tháng 4/2001, tôm thẻ chân trắng ñược công ty Duyên Hải – Bạc Liêu
nhập về từ ðài Loan. Sau 125 ngày nuôi, trọng lượng tôm từ 25 – 30 g/con và tỷ
lệ sống ñạt 70% với năng suất trung bình 3 tấn/ha. Trong năm 2002, Công ty ñã
thả nuôi trên 60 ao với mật ñộ 15 – 25 con/m
2
. Kết quả Công ty ñã thu ñược trên
100 tấn tôm thịt với năng suất bình quân 2 - 3 tấn/ha. Sau ñó lan nhanh ra các
tỉnh miền Trung như Phú Yên, Quảng Ngãi, Bình Thuận và một số tỉnh phía
Bắc như Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
Ở các vùng nuôi phía Bắc, nuôi tôm thẻ chân trắng ñược nhập từ Trung
Quốc về nuôi ở Quảng Ninh, Hải Phòng và năng suất nuôi có hộ ñạt 5 – 10
tấn/ha. Năm 2009, Công ty ðầu tư PTXS Hạ Long ñã hợp tác với AHA vủa Mỹ
ñể sản xuất tôm thẻ chân trắng sạch bệnh, kháng Taura ở ñảo Cống Tây (Vân
loại tôm này ở vùng ñất cát ven biển, là nơi có ñộ mặn cao không cần phải pha trộn
nước ngọt cũng như nuôi trong mùa mưa và trong môi trường nước ngọt.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Thứ hai, tôm thẻ chân trắng có ngưỡng ôxy thấp hơn tôm sú và các loại
tôm thẻ khác như tôm lớt, tôm he, khả năng kháng bệnh cao, có thể sống thích
nghi ở các ao có nhiều bùn, nhiều nguyên tố kim loại nặng mà trước ñây nuôi
tôm sú không thích hợp, thường thất bại do phát sinh dịch bệnh.
Thứ ba, tôm thẻ chân trắng có tốc ñộ sinh trưởng nhanh, nuôi 2 tháng ñã
ñạt cỡ 100 – 110 con/kg, thời gian nuôi ngắn, chỉ 2 – 2,5 tháng có thể thu hoạch
và cho năng suất, sản lượng cao (từ 5 – 22 tấn/ha/vụ). ðiều này cho phép nuôi
tăng vụ, tức một năm nuôi 2 vụ ăn chắc ở những vùng trước ñây chỉ nuôi ñược
một vụ tôm sú như ở các tỉnh phía Bắc.
Thứ tư, thịt tôm thẻ chân trắng thơm ngon, phát triển mạnh cả ở thị trường
trong nước và xuất khẩu.
1.1.2.2. Tình hình môi trường ao nuôi tôm thẻ chân trắng
Vấn ñề môi trường trong các ao nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam cũng
ñã ñược nghiên cứu rải rác trên toàn quốc. ðiển hình là báo cáo quan trắc và
cảnh báo môi trường thủy sản khu vực miền bắc Việt Nam (Mai Văn Tài, 2011).
Báo cáo này cho thấy các yếu tố thuỷ lý, thủy hoá như nhiệt ñộ, pH, ñộ kiềm, ñộ
muối, COD, BOD
5
, NO
2
-
, Fe TS vùng nuôi tôm thẻ chân trắng khu vực miền Bắc
từ năm 2008 - 2012 thường có giá trị nằm trong khoảng cho phép. Hàm lượng
muối dinh dưỡng NH
vụ nuôi. Ngoài ra, một vài ao nuôi ñộ kiềm cao vào ñầu vụ nuôi do hoạt ñộng cải
tạo ao.
- Hàm lượng sắt tổng số (Fe TS) luôn vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép.
Hàm lượng H
2
S cao và có xu hướng tăng dần về cuối vụ nuôi.
- Hàm lượng các kim loại nặng nằm trong giới hạn cho phép trong nuôi
tôm.
- Tảo Silíc ñộc chỉ xuất hiện vào tháng 4, với mật ñộ thấp dưới ngưỡng cho
phép. Vi khuẩn Lam ñộc thường xuất hiện với mật ñộ cao vào tháng 6 - 9. Các loài
tảo ñộc thuộc ngành tảo Giáp xuất hiện quanh năm, các loài tảo giáp ñộc xuất hiện
tại các thuỷ vực quan trắc ñều là những loài có nguồn gốc từ biển nhiệt ñới và á
nhiệt ñới, chúng thích nghi với ñộ muối rộng. Tảo Khuê và tảo Lục thường chiếm
ưu thế trong các ao nuôi vào tháng 4, 5 (tôm nuôi ñược 1 - 2 tháng tuổi), VK Lam
chiếm ưu thế trong ao nuôi vào các tháng 6, 7, 8. Một số loài VK Lam, ñặc biệt
loài Microcystis aeruginosa có thể phát triển mạnh vào thời kỳ cuối vụ nuôi khi mà
dinh dưỡng ñược tích tụ nhiều, cùng với thời tiết nắng nóng, mưa nhiều, ñộ muối
giảm có thể dẫn ñến hiện tượng nở hoa trong ao nuôi, gây hiện tượng thiếu ôxy
trong ao về ñêm và sáng sớm, làm thay ñổi ñộ pH trong ao nuôi.
1.1.2.3. Tình hình dịch bệnh ở tôm thẻ chân trắng
Theo Mai Văn Tài và cs (2011), tình hình dịch bệnh ở tôm thẻ chân trắng
trên cả nước diễn biến rất phức tạp. Cụ thể: năm 2004 dịch bệnh trên tôm thẻ
chân trắng ñã xảy ra ở một số nơi như: Quảng Nam (20 ha, có khả năng là bệnh
Taura; thân tôm có màu hồng, riêng ñốt bụng thứ 5 có màu trắng); Ninh Bình (bị
bệnh ñốm trắng). Tại Quảng Ngãi, sau khi nuôi thành công ở vụ 1 và vụ 2, một
số nuôi vụ 3 và ñã ñể tôm bệnh, gây chết hàng loạt trên 80% diện tích nuôi (20
ha) với những triệu chứng như mềm vỏ, thân. Tôm nuôi ở một số nơi có hiện
tượng bị bệnh ñen mang. Chìm xuống ñáy, toàn thân có màu ñỏ hoặc hồng, tỷ lệ
chết cao trong vòng 2 - 3 ngày nhưng không xảy ra trên diện rộng (Bình ðịnh, Bà
Rịa Vũng Tàu). Một số nơi nuôi 2 - 3 vụ, vụ ñầu ñạt kết quả tốt nhưng vụ sau dễ
11 Long An 10
12 Tiền Giang 22
13 Bến Tre 65
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
14 Trà Vinh 3
15 Sóc Trăng 5
16 Bạc Liêu 19
Tổng cộng
2,198
Nguồn: Tổng cục Thủy sản (2011).
Nhìn vào bảng 1.2 ta thấy tỉnh bị thiệt hại nhiều nhất là Khánh Hòa: 1,5 ha
và Quảng Ninh 232 ha, diện tích bị bệnh của 2 tỉnh này chiếm 83,4% tổng diện
tích nuôi tôm thẻ chân trắng bị bệnh trên cả nước.
1.2. Quy trình nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng
1.2.1 Chuẩn bị ao nuôi
ðối với ao mới xây dựng ñưa vào nuôi lần ñầu, cần san bằng nền ñáy,
kiểm tra lại bờ và dùng vôi Ca(OH)
2
ñể vệ sinh, khử chua nền ñáy.
ðối với ao ñã nuôi, sau mỗi vụ nuôi cần làm vệ sinh ñáy ao. Tháo cạn
nước, vớt sạch lớp bùn ñáy lên mặt ao, phơi nắng ñáy ao ñể diệt tạp và mầm bệnh
và dùng vôi Ca(OH)
2
ñể vệ sinh, khử chua nền ñáy.
Sau khi vệ sinh ao nuôi thì tiến hành gây màu nước: Nước sẽ ñược cấp
cho các ao nuôi tôm qua túi lọc (lưới lọc có thể dùng bằng lưới nilon dạng hình
ống mắt lưới 2a = 2mm), ñến ñộ sâu 0,8 – 1 m thì tiến hành gây màu nước.
nuôi). Trong giai ñoạn ñầu (tôm dưới 1 tháng tuổi), thức ăn có kích cỡ rất nhỏ
nên rất dễ bị thổi bay nếu cho ăn khô, do ñó trước khi cho ăn cần trộn với một
phần nước và dùng ca tạt ñều các cạnh ven bờ, cách bờ 1 – 2 m. Từ tháng thứ 2
trở ñi thức ăn có thể cho ăn khô hoặc trộn với các chất bổ sung ñể ráo, rồi rải
cách xa bờ 2 - 3 m, có thể rải thành 2 ñường cho ăn ñể tôm ăn hết thức ăn trong
thời gian ngắn nhất. Trong quá trình nuôi cần cho tôm ăn thêm các chất bổ sung
như: vitamin, prexix-khoáng, chất bổ sung canxi…(liều lượng theo hướng dẫn
của nhà sản xuất).
Quản lý lượng thức ăn cho ăn: Lượng thức ăn cho ăn hàng ngày ngoài quy
ñịnh theo hướng dẫn chung còn phải căn cứ vào lượng thức ăn còn trên sàn cho
ăn ñể ñiều chỉnh cho thích hợp. Nếu trong giờ kiểm tra mà lượng thức ăn trên sàn
hết thì tăng thêm 10% lượng thức ăn vào ngày hôm sau. Ngược lại, nếu 20%
lượng thức ăn còn trên sàn thì giảm 10% lượng thức ăn vào ngày hôm sau.
Quản lý môi trường nước ao nuôi: Việc quản lý chất lượng nước ao nuôi
thông qua theo dõi ñiều kiện thủy lý, thủy hóa của ao nuôi hàng ngày, hàng tuần.
Bảng 1.3: Kiểm tra các yếu tố môi trường trong ao nuôi
Yếu tố môi trường Thời gian kiểm tra Hàng ngày Hàng tuần
pH 6 và 15h x (sau cơn mưa)
ðộ muối 9 - 10h x (sau cơn mưa)
Ôxy 6 và 15h xHọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
ðộ kiềm 9 - 10h x
Amôni 9-10h x
Nitrit 9-10h x
của thời tiết ñến môi trường ao nuôi và quản lý ñược những thay ñổi ñó là cực kỳ
quan trọng cho sự thành công của vụ nuôi.
Tôm nước lợ ñược nuôi trồng phổ biến trong khoảng thời gian từ tháng 4
– tháng 7. Thời gian này thường xảy ra những trận mưa lớn, kèm bão hoặc những
ngày nắng nóng kéo dài. Mưa lớn làm các yếu tố môi trường trong ao nuôi bị
thay ñổi rất nhiều, ñặc biệt là các thông số quan trọng như: Nhiệt ñộ nước, ñộ
pH, ñộ mặn và ñộ kiềm (Nguyễn Thị Là, 2012).
ðối với nghề nuôi tôm nước lợ thì ñộ mặn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn ñến
sinh trưởng và phát triển của tôm. Cụ thể là khi xảy ra mưa lớn, ñộ mặn của các
ao nuôi bị giảm ñi ñột ngột. ðộ mặn giảm ñột ngột sẽ ảnh hưởng không tốt ñến
sức khoẻ của tôm nuôi do phải ñiều chỉnh áp suất thẩm thấu dẫn ñến tôm bị sốc
và dễ bị cảm nhiễm vi khuẩn gây bệnh trong ao nuôi. Nếu ñộ mặn xuống quá
thấp, vượt ra khỏi khả năng chịu ñựng làm cho tôm bị sốc, chết hoặc chậm lớn.
Sự thay ñổi môi trường sau mưa ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho các khí ñộc giải
phóng ra môi trường nước, qua ñó làm giảm hàm lượng ôxy hòa tan trong ao
nuôi. Ngoài ra, sau mỗi trận mưa thì pH, nhiệt ñộ, ñộ mặn, ôxy hoà tan trong ao
nuôi giảm rõ rệt, gây phân tầng nước trong ao nuôi. Tôm sẽ tìm ñến khu vực bùn
dơ, bị ảnh hưởng bởi khí ñộc H
2
S, bơi lội lờ ñờ và sức khoẻ yếu ñi. Tôm dễ mẫn
cảm hơn với các vi khuẩn và virus gây bệnh, dẫn ñến tôm chết.
Những ngày nắng nóng kéo dài, nhiệt ñộ không khí tăng làm nhiệt ñộ
nước ao cũng tăng theo. Khi nhiệt ñộ nước cao hơn 32
o
C, tôm ăn rất nhiều.
Limsuwan và cs (2012) ñã quan sát thấy khi tôm ăn quá mạnh và bài tiết nhanh
thì khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn giảm. Bên cạnh ñó, một số tôm di
chuyển nhanh cũng tiêu tốn nhiều năng lượng ñáng ra dành cho tăng trưởng.
Trong trường hợp này, chất hữu cơ trong ao nuôi sẽ tăng lên và trở thành nguồn
thời tiết. Hoặc nuôi tôm theo hình thức quảng canh, hoàn toàn phụ thuộc vào ñiều
kiện tự nhiên, do ñó thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng quyết ñịnh ñến năng suất và
chất lượng tôm.
Nghiên cứu của Kennedy & Sinh (Nguyễn Nhựt Cầu và Nguyễn Thị
Trâm, 2012) ñã nhận xét rằng: tác ñộng của thời tiết, khí hậu là rất quan trọng,
ảnh hưởng mạnh tới chất lượng môi trường ao nuôi, từ ñó tác ñộng ñến sản lượng
cũng như giá tôm thương phẩm trên thị trường.
1.3.1.2. Sinh vật
Cá thể sinh vật và sản phẩm thải trong quá trình trao ñổi chất của nó gây
ảnh hưởng ñáng kể ñến chất lượng môi trường ao nuôi. ðặc biệt là những loài
thực vật phù du và ñộng vật phù du.