trờng đại học kinh tế quốc dân
***
Tiểu luận
Kinh tế việt nam
Chủ đề:
Vai trũ ca Doanh nhõn trong tng trng v phỏt
trin kinh t Vit Nam
Sinh viên thực hiện:
TRN TH HNG
GIảng VIÊN Hớng dẫn: Ths. Nguyễn thị vi
Hà Nội - 2010
Lời nói đầu
Hiện nay Việt Nam đang đẩy nhanh nhịp độ CNH-HĐH đất nước, phấn đấu đến
năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để
đạt được mục tiêu đó thì đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp đóng một vai trò rất
quan trọng. Thực tế cho thấy rằng, doanh nhân có một vị trí đặc biệt quan trọng
trong nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP).
Những năm gần đây, hoạt động của doanh nhân đã có bước phát triển đột biến,
góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào
phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế,
tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả
các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo
Nhắc lại một dấu son đáng nhớ và đầy tự hào của giới Doanh nhân Việt Nam:
65 năm trước, ngày 13-10-1945, Bác Hồ kính yêu đã gửi thư cho giới Doanh nhân
động viên họ tham gia cứu quốc, góp phần kiến thiết đất nước vừa giành lại từ tay
thực dân. Xác lập lại vị thế của giới Doanh nhân cũng như những đóng góp to lớn
vào quá trình đi lên của đất nước, năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định
chọn ngày 13-10 hàng năm là Ngày Doanh nhân Việt Nam. 6 năm kể từ khi có
Ngày Doanh nhân Việt Nam, cộng đồng Doanh nhân nước ta không ngừng lớn
mạnh và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong phát triển kinh
tế đất nước.
- Môi trường kinh doanh và tác động của nó đến sự phát triển của doanh nhân
Việt Nam.
1.3: Kinh nghiệm của các nước khác
Hiện nay, châu Á được xem là đầu tàu trong sự phát triển kinh tế thế giới và
Việt Nam là một trong số các quốc gia ở khu vực này có tốc độ phát triển nhanh
và tăng trưởng kinh tế khá cao. Tuy nhiên, so với nhiều nước khác trong khu vực
khoảng cách giữa chúng ta và họ vẫn còn khá xa. Chính vì vậy, mà thành công của
những nền kinh tế đang phát triển trong khu vực và trên thế giới là những bài học
quý báu cho giới doanh nhân Việt Nam - những người có vai trò mang tính quyết
định đến sự phát triển của các doanh nghiệp và nền kinh tế của cả một đất nước.
Để thấy rõ hơn về vai trò của giới doanh nhân ở các nước bạn, tôi sẽ lấy hai ví dụ
điển hình từ hai người bạn láng giềng của Việt Nam đó là Trung Quốc và Thái
Lan.
* Thái Lan là quốc gia trong cùng khu vực Đông Nam Á với Việt Nam, đây
cũng là một trong số các nước được xem là có nền kinh tế phát triển nhất khu vực
này. Trong giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế, với những khó khăn đang đặt ra
cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của đất nước, thì bộ phận giới doanh nhân
Thái Lan đã và đang có những đóng góp tích cực vào sự phục hồi kinh tế của đất
nước “Chùa vàng”. Ở Thái Lan, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMES) đang giữ
vai trò là động lực phục hồi và tăng trưởng kinh tế. Năm 2009, SMES đóng góp
38% vào GDP (khoảng hơn 100 tỷ USD), trong tổng GDP nước này khoảng 275
tỷ USD.
Trung bình hằng năm ở Thái-lan có thêm từ 30 đến 40 nghìn SMES đăng ký
hoạt động. Hiện tại, nước này có gần ba triệu SMES đã đăng ký và đang hoạt động
trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, thu hút số lao động khoảng chín triệu
người (trong tổng số 38 triệu người trong lực lượng lao động của Thái lan). Theo
số liệu thống kê của Osmep, số SMES ở Thái-lan đang tăng nhanh và dự báo có
thể đạt năm triệu SMES trong mười năm tới. SMES đi đầu trong nền kinh tế Thái-
4
lan về việc sản xuất các mặt hàng mới, trong áp dụng công nghệ mới, cũng như
người đi đầu trong xây dựng và phát triển kinh tế hiện nay. Vậy một câu hỏi đặt
ra: Doanh nhân là ai và tại sao họ lại nắm giữ vai trò quan trọng như vậy trong nền
kinh tế đất nước? Để trả lời cho câu hỏi đó chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu thế nào là
doanh nhân và những đóng góp cũng như ảnh hưởng của họ đến phát triển và tăng
trưởng kinh tế Việt Nam.
a. Doanh nhân Việt - Anh là ai?
Nền kinh tế thị trường mới bắt đầu hình thành ở nước ta được hơn 10 năm nay.
Tuy nhiên, xét về mặt hiện tượng thì thực tế đã cho thấy trong xã hội hiện nay đã
hình thành một giới doanh nhân mới và họ đang tạo ra những hoạt động kinh tế có
thật, tạo ra những thành tích, những mối quan hệ thương mại được phát triển rộng
khắp thế giới. Vậy doanh nhân Việt Nam gồm những đối tượng nào? Theo tôi, có
3 nhóm doanh nhân đã, đang hình thành và làm nên diện mạo của doanh nhân Việt
Nam.
*Thứ nhất là những người điều hành, quản lý hoặc sở hữu các DN nhỏ và vừa,
một đối tượng có tốc độ phát triển nhanh về số lượng. Xét theo tiêu chuẩn của
những nhà kinh doanh hiện đại thì đây chưa phải là đội ngũ chuyên nghiệp nhưng
rõ ràng họ đã có những hoạt động kinh doanh thực thụ. Gần đây, do tình trạng lạm
phát mà đối tượng này đang rơi vào một số khó khăn. Số lượng những doanh nhân
này bớt đi do phá sản, song lại tăng lên theo sự vận động, phát triển của nền kinh
tế.
*Thứ hai là đội ngũ khá đông đảo những người đang điều hành các DN nhà
nước. Mặc dù còn có những tranh cãi về việc họ có phải là doanh nhân không
nhưng tôi cho rằng, phải xem họ là doanh nhân vì họ phải chịu trách nhiệm xã hội
6
về đồng vốn mà mình sử dụng, về khối tư liệu sản xuất mà trên thực tế, nó vẫn
đang chiếm một tỷ trọng rất lớn trong đời sống kinh tế Việt Nam.
*Thứ ba là các nhà kinh doanh chuyên nghiệp hoặc bắt đầu có chất lượng
chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế, làm việc cho các DN có vốn đầu tư nước
ngoài, thậm chí có những người đã vươn tới vị trí điều hành tại các DN lớn. Đây là
lực lượng có năng lực chuyên nghiệp tốt nhất nếu xét theo tiêu chuẩn hội nhập ở
các doanh nghiệp, doanh nhân đã ngày càng khẳng định và nâng cao vị thế vai trò
của mình trong phát triển đất nước. Cho đến nay, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước
bao gồm cả kinh tế tập thể chiếm từ 80-90% lượng lao động mới giải quyết việc
làm, cũng như tạo ra động lực phát triển ngày càng quan trọng cho đất nước. Có
thể nói đây là khu vực kinh tế trong tương lai sẽ đóng vai trò quyết định quá trình
đẩy nhanh và nâng cao chất lượng của đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa”.
Nếu như năm 1995 khu vực doanh nghiệp mới chỉ tạo ra được 103,7 nghìn tỷ
đồng, chiếm 45,3% tổng GDP (khu vực còn lại gồm khối hành chính, sự nghiệp,
hộ SXKD cá thể chiếm 54,7%), thì đến năm 2008 khu vực này đã tạo ra 5.315.444
tỷ đồng, chiếm 58% tổng GDP, gấp 51 lần năm 1995.
Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn
của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh
tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương.
Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là DN ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân
tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Sau khi các luật về đăng ký kinh doanh được ban hành và sửa đổi như: Luật
Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Ðầu tư trực tiếp của nước ngoài, Luật Hợp tác xã
và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp đã đi vào cuộc sống, hoạt động trong khu vực
doanh nghiệp có nhiều thay đổi, môi trường thông thoáng hơn, sản xuất kinh
8
doanh sôi động hơn, vai trò của doanh nghiệp được ghi nhận và có nhiều tiến bộ,
nhất là trong các ngành công nghiệp, thương mại, vận tải.
Thực tế đã cho thấy, khu vực tư nhân bao gồm cả những doanh nghiệp mới
được hình thành tương đối dễ dàng, thuận tiện do kết quả của Luật Doanh nghiệp,
lẫn những doanh nghiệp đã thành lập trước đó nhưng bây giờ họ mới có điều kiện
mở mang thêm những ngành nghề mới cho lao động đến từ nhiều địa phương trên
cả nước. Đây chính là thành quả to lớn của Luật Doanh nghiệp và cũng là sự đóng
người, chiếm 12,03%; Vùng Tây Nguyên 211758 người, chiếm 2,6%.
(3) Về vốn
Tổng vốn của doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2008 là 5.730.367 tỷ đồng, gấp
2,3 lần thời điểm 31/12/2005 và gấp gần 4 lần cùng thời điểm năm 2000; trong đó
doanh nghiệp nhà nước chiếm 40,83% tổng vốn doanh nghiệp (2.339.569 tỷ
đồng), gấp 1,7 lần cùng thời điểm năm 2005. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
chiếm 41,83% (2.397.017 tỷ đồng), gấp gần 4 lần cùng thời điểm năm 2005. Ðiều
đáng chú ý là, những năm gần đây, với các chủ trương, chính sách khuyến khích
phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhà nước, đã có tác động tích cực đến
việc huy động mọi nguồn vốn của các tầng lớp dân cư vào sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 17,34% tổng vốn doanh nghiệp
(993781 tỷ đồng), gấp 2 lần cùng thời điểm năm 2005.
Tài chính - tín dụng hiện đang là ngành chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất trong các
ngành kinh tế với 2.128.622 tỷ đồng, chiếm 37,1% tổng vốn doanh nghiệp, gấp 2,3
lần so với thời điểm 31/12/2005. Tiếp đến là các ngành công nghiệp chế biến với
1.190.943 tỷ đồng, chiếm 20,7% tổng vốn doanh nghiệp, gấp 2 lần thời điểm
31/12/2005 và gấp 3,3 lần thời điểm 31/12/2002; ngành xây dựng với 444038 tỷ
đồng, chiếm 7,74% tổng vốn doanh nghiệp, gấp 2,2 lần thời điểm 31/12/2005 và
gấp 3,9 lần thời điểm 31/12/2002
Vùng Ðông Nam bộ chiếm tỷ trọng 39,3%, trong đó TP. Hồ Chí Minh chiếm
tỷ trọng 27,2%, Bình Dương chiếm 3,4%; Vùng Ðồng bằng sông Hồng chiếm
10
26,2%, trong đó Hà Nội 19,1%, Hải Phòng 2,2%; Vùng Ðồng bằng sông Cửu
Long 3,6%; Vùng Duyên hải miền Trung 4,7%; Vùng Trung du và miền núi phía
Bắc 1,7%; vùng Tây Nguyên 1,2%; Vùng Tây Bắc 0,3%.
2.2: Đánh giá vấn đề
Lực lượng doanh nhân Việt Nam trong những năm qua đã từng bước khẳng
định vai trò của mình trong phát triển và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Sự
tăng trưởng nhanh không những về số lượng cũng như quy mô, nguồn vốn sản
của cá thể, hộ gia đình là chính, chiếm từ 85-95% sản lượng toàn ngành. Ðến
nay, hoạt động của loại hình doanh nghiệp có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất
kinh doanh. Tạo sự đa dạng trong sản xuất kinh doanh góp phần làm tăng
doanh thu tăng đóng góp cho ngân sách nhà nước.
- Các loại hình kinh tế trong doanh nghiệp phát triển đa dạng gồm nhiều thành
phần, trong đó doanh nghiệp nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
chiếm tỷ trọng lớn, các loại hình doanh nghiệp tư nhân tuy còn nhỏ nhưng phát
triển nhanh và rộng khắp ở các ngành và các địa phương trong cả nước, loại hình
kinh tế tập thể đang được khôi phục và có bước phát triển mới.
- Doanh nghiệp phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa
phương đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp,
thủy sản và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng
suất thấp, thu nhập không cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh
nghiệp, nhất là công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn.
*Một thành tựu nữa phải kể đến đó là doanh nghiệp phát triển đã giúp giải
quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động
Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp tăng nhanh đã giải quyết được
nhiều việc làm với thu nhập cao hơn cho người lao động. Lao động ở khu vực
doanh nghiệp có thu nhập cao hơn nhiều so với khu vực cá thể và hộ gia đình. Lao
động hiện đang làm việc trong khối doanh nghiệp năm 2000 chiếm 11,3% tổng số
12
lao động toàn xã hội hiện đang tham gia làm việc và tăng lên 16% trong năm
2003. Tuy chiếm tỷ trọng không cao trong tổng lao động toàn xã hội, nhưng lao
động của khu vực doanh nghiệp lại là lực lượng chủ yếu tạo ra nguồn thu cho ngân
sách Nhà nước và đóng góp lớn cho tăng trưởng GDP. Thu nhập cao và tăng
nhanh của lao động khối doanh nghiệp góp phần cải thiện và nâng cao mức sống
chung của toàn xã hội và tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ
nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp.
*Hiệu quả kinh tế có những tiến bộ mang tính đột phá quan trọng
Do chất lượng của nhiều loại hàng hoá và dịch vụ được nâng lên rõ rệt, mặt
triển mạnh.
Những ngành kinh tế mà doanh nghiệp chiếm giữ vai trò quan trọng như Công
nghiệp, Vận tải, Bưu chính viễn thông, Thương nghiệp, đều có chuyển biến tích
cực về hiệu quả kinh doanh, giảm được thua lỗ và số doanh nghiệp kinh doanh có
lãi tăng nhanh.
*Tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Với sự đa dạng về chủng loại sản phẩm hàng hóa cũng như chất lượng ngày
được nâng cao, các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam đã và đang tạo dựng
được sức cạnh tranh ở thị trường nội địa cũng như nước ngoài. Việt Nam đã có
nhiều mặt hàng xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản
làm tăng kim ngạch xuất khẩu và quảng bá thương hiệu Việt đến khu vực quốc tế.
Ở thị trường trong nước, nếu như trước đây tâm lí người tiêu dùng thường chuộng
hàng ngoại hơn hàng nội thì nay tâm lí đó đã có hướng chuyển biến. Các mặt hàng
sản phẩm trong nước như: Hàng may mặc, đồ dùng gia đình, các sản phẩm dinh
dưỡng của các doanh nghiệp Việt Nam đã tạo dựng được tên tuổi và cạnh tranh
với các sản phẩm của các nhà sản xuất nước ngoài. Có thể kể đến một số tên tuổi
của các mặt hàng có thương hiệu ở nước ta hiện nay như May 10, Vinamilk,
Viettien
14
b. Hạn chế còn tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì giới doanh nhân Việt Nam vẫn còn
tồn tại những yếu kém, hạn chế trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
như: Thiếu thông tin, năng lực còn hạn chế, hiệu quả kinh doanh chưa cao
* Xét về quy mô phát triển, tốc độ xuất hiện các năng lực của đội ngũ doanh
nhân Việt Nam thì chúng ta rất đáng tự hào nhưng xét về chất lượng, do những
điều kiện mới, do hệ thống đào tạo còn hạn chế nên tính chuyên nghiệp của đội
ngũ này chưa cao (thiếu kinh nghiệm quản lí, bị động trong cạnh tranh và hội
nhập), sự tôn trọng các quan hệ có tính chất hợp đồng chưa đạt được chuẩn. Nhiều
người vội cho rằng, doanh nhân VN đã thể hiện được bản lĩnh của mình, đặc biệt
trong cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua. Tuy nhiên, nhìn nhận nghiêm túc thì
thấp, trong đó vốn cố định càng thấp hơn (bình quân 8,8 tỷ đồng/1 doanh nghiệp),
nên khả năng trang bị kỹ thuật công nghệ tiên tiến là rất hạn chế, mức trang bị tài
sản cố định cho 1 lao động ở mức rất thấp, bình quân 119 triệu đồng/1 lao động
(khoảng 7,5 ngàn USD), trong đó cao nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài 247 triệu đồng, doanh nghiệp nhà nước 137 triệu đồng, thấp nhất là ngoài
quốc doanh 43 triệu đồng.
Ðáng lưu ý là các ngành kinh tế quốc dân cần trang bị tài sản cố định cho lao
động cao hơn để có được kỹ thuật tiên tiến thì lại có mức trang bị thấp hơn bình
quân chung như: ngành nông lâm nghiệp 109 triệu đồng/lao động, công nghiệp
chế biến 79 triệu đồng, hoạt động khoa học công nghệ 43 triệu đồng/lao động,
xây dựng 37 triệu đồng, vận tải đường bộ 48 triệu đồng. Trong khi một số ngành
kinh doanh khác lại có mức trang bị cao như: hoạt động tài chính tín dụng 997
triệu đồng/lao động, hoạt động trung gian tài chính 1,04 tỷ đồng/lao động.
Tóm lại quy mô nhỏ, phân tán đi kèm với thủ công lạc hậu là hạn chế bất
cập lớn nhất của doanh nghiệp nước ta, từ đó chi phối đến nhiều yếu kém khác
như: Sức cạnh tranh thấp, hiệu quả kinh doanh không cao, lao động thiếu tính ổn
định và bền vững lâu dài.
16
*Các yếu tố sản xuất kinh doanh không được đáp ứng đầy đủ
Nguồn lực lao động của nước ta dồi dào, lực lượng lao động trẻ lớn và giá lao
động không cao. Song thực tế đã cho thấy không ít doanh nghiệp vẫn thiếu lao
động có tay nghề cao, lao động có kỹ thuật được đào tạo hệ thống, đây cũng chính
là điểm hạn chế về chính sách hỗ trợ đào tạo chất lượng nguồn nhân lực của doanh
nghiệp.
Vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn thấp. Thực
trạng đó ngoài nguyên nhân do tiềm lực của các nhà đầu tư chưa mạnh, nhưng có
nguyên nhân quan trọng là thị trường vốn chưa hoàn chỉnh, chưa đủ sức đáp ứng
nhu cầu vốn cho doanh nghiệp.
Có thể nói doanh nghiệp Việt Nam rất lúng túng trong việc tìm kiếm các dịch
vụ hỗ trợ kỹ thuật công nghệ, dịch vụ cung cấp thông tin về thị trường, giá cả, môi
Có thể thấy rằng, tổng kết một cách khái quát về nguyên nhân của những yếu
kém hạn chế còn tồn tại của doanh nhân Việt Nam là những nguyên nhân chủ yếu
sau:
*Thứ nhất, do năng lực chất lượng của đội ngũ doanh nhân còn thiếu tính
chuyên nghiệp. Điều này có thể thấy rõ trong phương thức quản lí và điều hành
doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nhân là người đứng đầu một
doanh nghiệp, chính vì thế năng lực của người lãnh đạo sẽ quyết định yếu tố thành
công của một doanh nghiệp. Vì vậy, một nền kinh tế muốn phát triển và tăng
trưởng được rất cần đến đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có đủ trình độ năng lực
quản lí để điều hành và phát triển hệ thống doanh nghiệp.
*Thứ hai, Việt Nam chưa thực sự tạo được sân chơi bình đẳng cho các khu vực
doanh nghiệp của nền kinh tế nhiều thành phần. Thực tế cho thấy, dường như nhà
nước ta còn dành quá nhiều ưu tiên cho khu vực doanh nghiệp nhà nước mặc dù
khu vực này hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Trong khi đó, khu vực kinh tế tư
nhân và có vốn đầu tư nước ngoài chưa thực sự nhận được sự quan tâm đúng mức.
18
Điều đó được thể hiện rõ qua những khó khăn mà các doanh nghiệp ở các khu vực
này thường gặp phải hiện nay, đó là: khó khăn về vốn, các chính sách hỗ trợ phát
triển cho doanh nghiệp khu vực này.
Có thể thấy rằng, ở Việt Nam việc tiếp cận với nguồn vốn của các doanh
nghiệp vẫn còn gặp nhiều rào cản và khó khăn trong các thủ tục hành chính và các
chính sách lãi suất cho vay của hệ thống các ngân hàng. Tình trạng độc quyền
trong một số ngành kinh tế mũi nhọn của doanh nghiệp nhà nước như: Bưu chính
viễn thông, điện lực, hàng không cũng đã tạo ra rào cản cho doanh nghiệp các
khu vực khác khi quyết định tham gia vào thị trường này. Đây cũng chính là
những yếu tố còn bất cập trong môi trường kinh doanh của Việt Nam.
Phần III. Một số giải pháp
Từ những hạn chế cũng như nguyên nhân của nó đã đề cập ở phần trên, tôi xin
đưa ra một số những giải pháp nhằm hạn chế và định hướng giải quyết cho các
vấn đề còn đang tồn tại của lực lượng doanh nhân Việt Nam trong phát triển kinh
cơ sở đào tạo những nhà kinh doanh, những nhà quản lý kinh tế chuyên nghiệp là
một việc cấp bách cần phải làm ngay.
Thiết nghĩ, trong giai đoạn hiện nay, Chính phủ làm hai việc đó là đủ. Phải
thẳng thắn thừa nhận rằng, kinh doanh chưa chuyên nghiệp phản ánh trình độ của
nền kinh tế, đồng thời phản ánh cả tình trạng chưa chuyên nghiệp của điều hành
môi trường vĩ mô. Cho nên, để có đội ngũ kinh doanh chuyên nghiệp, trước tiên
chúng ta phải xây dựng một đội ngũ điều hành môi trường vĩ mô chuyên nghiệp.
Như vậy, chúng ta không thể sốt ruột để mong có đội ngũ doanh nhân chuyên
nghiệp trong một sớm một chiều được. Chất lượng của đội ngũ doanh nhân sẽ tăng
lên cùng với chất lượng của hệ thống chính sách vĩ mô, của hệ thống pháp luật,
cũng như chất lượng của người tiêu dùng. Nếu không có đội ngũ tiêu dùng thông
thái thì chúng ta cũng không thể đòi hỏi được một hệ thống sản xuất, phân phối
chuyên nghiệp.
20
Có một thực tế đã cho thấy, hiện nay ở nhiều quốc gia trên thế giới khối các
doanh nghiệp tư nhân đã và đang phát triển nhanh chóng dần trở thành trụ cột cho
nền kinh tế đất nước. Ở Việt Nam cần có những chính sách hỗ trợ và đầu tư hợp lí
cho các doanh nghiệp tư nhân để họ có thể phát triển và trở thành tác nhân thúc
đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế. Vẫn biết rằng cơ hội một phần là do bản thân
Doanh nghiệp tự tìm kiếm và tiếp nhận, nhưng vai trò của Chính phủ, của những
nhà lập chính sách là vô cùng cần thiết để tạo hành lang “thông thoáng” cho khối
DN tư nhân quy mô lớn phát triển. Khi nào giải quyết triệt để các bài toán về
chính sách hỗ trợ phát triển, chính sách ưu đãi, nhân sự, quản trị công ty, độc
quyền và cạnh tranh, lúc đó con đường trở thành doanh nghiệp đầu tàu của nền
kinh tế mới có thể rộng mở đối với các DN tư nhân lớn.
Kết luận
Bước vào thời kì xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, doanh nhân Việt Nam đã trở thành lực lượng tiên phong góp
phần quan trọng làm giàu cho đất nước. Ngày nay cùng với sự phát triển và đi lên
của đất nước vai trò của doanh nhân cũng ngày được nâng cao và giữ một vai trò