ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỤC ANH
QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP LỚN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Danh mục các bảng i
Danh mục sơ đồ ii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP LỚN 5
1.1. Quản lý thuế 5
1.1.1. Khái niệm thuế và quản lý thuế 5
1.1.2. Mục tiêu quản lý thuế 5
1.1.3. Nguyên tắc quản lý thuế 6
1.1.4. Nội dung của quản lý thuế 7
1.1.5. Các mô hình quản lý thu thuế 9
1.2. Doanh nghiệp 10
1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp 10
1.2.2. Phân loại doanh nghiệp 10
1.2.3. Đặc điểm của doanh nghiệp lớn 13
1.2.4. Vai trò của doanh nghiệp lớn 14
1.3. Tiêu chi đánh giá Quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn, những yếu tố
ảnh hƣởng đến quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn……………………15
1.4. Sự cần thiết phải có mô hình quản lý thuế riêng đối với doanh nghiệp
lớn ở Việt Nam 156
1.5. Những mục tiêu chính trong công tác quản lý thuế đối với các doanh
nghiệp lớn. 18
1.5.1. Đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước: 18
1.5.2. Nâng cao tính tuân thủ của doanh nghiệp lớn. 19
1.5.3. Đảm bảo quản lý tốt các doanh nghiệp lớn có tính chất đặc thù
trong nền kinh tế. 20
1.6. Kinh nghiệm quản lý thuế doanh nghiệp lớn trên thế giới và bài học đối
với Việt Nam 20
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH
3.2.5. Nâng cao chất lượng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế,
làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra thuế 62
3.2.6. Chú trọng ứng dụng Công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 1.1
Tiêu thức xác định Doanh nghiệp vừa và
nhỏ theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP
12
2
Bảng 1.2
Tiêu thức xác định Doanh nghiệp lớn của
một số nƣớc
20
3
các đơn vị trực thuộc Tổng cục Thuế
54
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Thuế là một trong những chính sách kinh tế xã hội hết sức quan trọng
của Đảng và Nhà nƣớc ta, là công cụ điều tiết nền kinh tế phát triển theo định
hƣớng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trƣờng thuận lợi cho sản xuất kinh doanh
phát triển, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội đất nƣớc, góp phần vào tích
luỹ Ngân sách, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, góp phần
đảm bảo công bằng xã hội và hội nhập quốc tế. Luật Quản lý thuế đƣợc Quốc
hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông
qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ 1/7/2007 đã thống nhất những
quy định điều chỉnh việc quản lý các sắc thuế, các khoản thu của ngân sách
Nhà nƣớc vào một văn bản luật, khắc phục sự phân tán trong các Luật khác
nhau trƣớc đó. Sau gần 5 năm thực hiện Luật quản lý thuế, cùng với quá trình
cải cách của hệ thống thuế, quản lý thuế cũng không ngừng cải tiến và hoàn
thiện. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, quản lý thuế luôn là
một hoạt động phức tạp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp lớn, có nhiều hoạt
động kinh doanh đa dạng. Chính vì vây, trong Chiến lƣợc cải cách hệ thống
thuế giai đoạn 2011-2020, cải cách về quản lý thuế đƣợc Nhà nƣớc đƣa ra nhƣ
một mục tiêu trọng tâm với yêu cầu cụ thể là đến năm 2015: Việt Nam là một
ƣơng, nhƣ: "Công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội",
Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của Vũ Thị Toản, Hà Nội, 1996; "Các giải
pháp nhằm tăng cường công tác thanh tra thuế trên địa bàn Hà Nội", Luận văn
thạc sĩ Quản lý kinh tế của Phi Văn Tuấn, Hà Nội, 1997; "Những giải pháp chủ
yếu chống thất thu thuế trên địa bàn Nghệ An trong giai đoạn hiện nay", Luận
văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của Đoàn Hồng Vũ, Hà Nội, 1999.
3
- Ngoài ra, nghiên cứu quản lý thuế nói chung có đề tài: "Nâng cao
hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới", Luận văn thạc
sĩ Kinh tế của Trịnh Hoàng Cơ, Hà Nội, 2004.
Các đề tài, bài viết có đề cập ở mức độ nhất định về quản lý thu thuế
đối với doanh nghiệp, nhƣng chƣa có đề tài nào nghiên cứu độc lập, có hệ
thống về lĩnh vực này.
Để thực hiện đề tài, tác giả có tham khảo ý tƣởng trong các công trình
khoa học, bài viết đã công bố, giúp cho việc hệ thống hoá lĩnh vực nghiên cứu
từ khi đổi mới đến nay, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Làm rõ các vấn đề chung về quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn và
kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới về quản lý thuế đối với doanh
nghiệp lớn
- Đánh giá thực trạng quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn ở Việt nam
thời gian qua
- Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế
đối với doanh nghiệp lớn ở Việt nam thời gian tới.
- Trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: Vai trò của Doanh nghiệp lớn đối với
nền kinh tế ? ; Vì sao phải có mô hình quản lý thuế riêng đối với doanh
nghiệp lớn ở Việt Nam ? ; Làm thế nào để quản lý thuế hiệu quả đối với các
doanh nghiệp lớn ?
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP LỚN
1.1. Quản lý thuế
1.1.1. Khái niệm thuế và quản lý thuế
Thuế xuất hiện và tồn tại cùng với sự hình thành và tồn tại của nhà
nƣớc, với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, tiền tệ. Thuế luôn gắn chặt với
sự phát triển của nhà nƣớc, sự thay đổi hình thái tổ chức của nhà nƣớc luôn
kéo theo sự cải biến của hệ thống thuế.
Thuế là một hình thức chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân
và pháp nhân vào Ngân sách Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp
luật quy định nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc và sử dụng cho
mục đích công cộng [1, tr. 15].
Quản lý thuế là một lĩnh vực chuyên ngành thuộc quản lý hành chính
nhà nƣớc, là hoạt động của nhà nƣớc mà cơ quan thuế là đại diện, thông qua
hệ thống bộ máy, chính sách pháp luật thuế và các quy trình quản lý thu để tổ
chức điều hành, động viên một bộ phận thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ
việc chi tiêu hàng hóa, dịch vụ và từ việc lƣu giữ, chuyển dịch tài sản của các
thể nhân và pháp nhân vào Ngân sách nhà nƣớc nhằm trang trải cho các nhu
cầu chi tiêu của nhà nƣớc [1, tr. 20 ; 12].
Có thể hiểu quản lý thuế là quá trình tổ chức thực thi pháp luật thuế của
cơ quan thuế các cấp.
1.1.2. Mục tiêu quản lý thuế
Quản lý thuế là một trong những nội dung quan trọng của công tác
quản lý tài chính nhà nƣớc, nó không thể tách rời với quản lý nhà nƣớc về
kinh tế. Khi nhà nƣớc ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động,
6
cần phải có nguồn ngân sách tài chính để chi, nhà nƣớc đã đặt ra chế độ thuế
phƣơng pháp quản lý thuế đƣợc lựa chọn trên nguyên tắc đảm bảo số thu vào
Ngân sách nhà nƣớc lớn nhất với chi phí thấp nhất, tốn ít công sức, thời gian.
- Nguyên tắc công khai minh bạch: Thu thuế là một hoạt động tài chính
của nhà nƣớc, có tác động lớn đến quá trình thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và
đầu tƣ của các tổ chức kinh tế, dân cƣ. Quản lý thuế phải minh bạch, công
khai thì mới phát huy vai trò kiểm tra, kiểm soát, hạn chế những tiêu cực phát
sinh trong ngành thuế và các đối tƣợng nộp thuế, bảo đảm tính công bằng và
lợi ích hợp pháp của ngƣời nộp thuế.
- Nguyên tắc tập trung thống nhất : Đây là nguyên tắc bao trùm trong
quản lý kinh tế - xã hội của nhà nƣớc, đƣợc thể hiện trên bốn khía cạnh: thống
nhất trong việc xác lập và thực thi quy trình quản lý thuế; thống nhất trong
nghiên cứu và thực thi trong xây dựng dự toán thu thuế; thống nhất cách tổ
chức thu thuế; thống nhất trong việc vận dụng luật thuế và các văn bản dƣới
luật đối với quá trình tổ chức thu thuế.
- Nguyên tắc tuân thủ và phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ hợp
tác kinh tế, đồng thời hội nhập cũng đòi hỏi mỗi quốc gia có những quy định
chuẩn mực về quản lý phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế.
1.1.4. Nội dung của quản lý thuế
- Thiết lập các chính sách thuế và thể chế hóa thành pháp luật thuế.
Nhà nƣớc phải thiết lập hệ thống thuế, không ngừng cải cách , củng cố và
hoàn thiện hệ thống thuế bằng việc ban hành Chính sách thuế, thiết lập các
văn bản pháp luật trong lĩnh vực thuế, xác định mức thuế và ƣu đãi thuế trong
từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.
8
- Tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế. Kiểm soát hoạt động
kê khai, nộp thuế của ngƣời nộp thuế, Cơ quan thuế hƣớng dẫn, giám sát
ngƣời nộp thuế tự giác chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế của mình theo quy
định và ngƣời nộp thuế chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về việc kê khai, nộp
sâu phù hợp nhất cho yêu cầu quản lý của từng nhóm thuế, cơ quan thuế dễ
dàng hơn khi phát hiện những bất hợp lý của từng sắc thuế, từ đó có những
sửa đổi, bổ sung phù hợp và kịp thời.
Hạn chế của mô hình này là chi phí quản lý cao, chức năng bị chồng
chéo giữa các phòng ban, gây khó khăn cho ngƣời nộp thuế do mỗi ngƣời nộp
thuế sẽ phải nộp nhiều sắc thuế khác nhau, do đó phải chịu sự quản lý thuế
của nhiều phòng ban khác nhau.
- Mô hình quản lý thu theo chức năng. Cơ quan thuế tổ chức các bộ phận
chuyên môn hóa với chức năng riêng, thực hiện một nghiệp vụ cụ thể có liên
quan đến tất cả các sắc thuế và tạo thành dây chuyền nhƣ: xử lý tờ khai, theo dõi
việc nộp thuế của đối tƣợng nộp thuế, thanh tra, kiểm tra, thu nợ đọng,…
Mô hình này cho phép cơ quan thuế dễ dàng tổ chức kết hợp các công
việc thích ứng với mọi sự thay đổi của ngƣời nộp thuế, giảm chi phí quản lý,
tạo ra sự kiểm tra chéo giữa các các cán bộ thuế, hạn chế tiêu cực, từ đó hạn
chế nguy cơ gian lận thuế và giảm thất thoát trong việc quản lý thu thuế.
Hạn chế của mô hình này là tính phân đoạn trong quy trình quản lý,
ngƣời nộp thuế mất nhiều thời gian chờ cho việc tổng hợp các thông tin từ các
phòng ban thuế. Khó xác định trách nhiệm của từng bộ phận vào hiệu quả
tổng hợp đạt đƣợc.
10
- Mô hình quản lý thu theo đối tượng nộp thuế. Cơ quan thuế phân chia
các bộ phận chịu trách nhiệm quản lý một hoặc vài nhóm đối tƣợng cụ thể,
dựa trên quy mô hoạt động, hình thức sở hữu, ngành nghề kinh doanh, …
Ƣu điểm của mô hình là ngƣời nộp thuế chỉ chịu sự quản lý của một
phòng ban của cơ quan thuế. Cơ quan thuế có thể cung cấp thông tin kịp thời
về các đối tƣợng nộp thuế.
Hạn chế của mô hình là dễ dẫn đến têu cực, thất thoát thuế do mỗi mỗi
đối tƣợng nộp thuế chỉ chịu sự quản lý của một phòng, ban quản lý. Yêu cầu
mỗi cán bộ quản lý thuế phải có trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải
56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa có hiệu lực thi hành từ ngày 20/8/2009 thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ
sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia
thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn, tổng nguồn vốn
tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh
nghiệp hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên),
cụ thể nhƣ sau:
12
Bảng 1.1: Tiêu thức xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Nghị định
56/2009/NĐ-CP
Quy mô
Khu vực
Doanh
nghiệp
siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Số lao
động
Tổng
nguồn vốn
Số lao
động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy
III. Thƣơng
mại và dịch vụ
10 ngƣời
trở xuống
10 tỉ đồng
trở xuống
từ trên 10
ngƣời đến
50 ngƣời
từ trên 10 tỉ
đồng đến 50
tỉ đồng
từ trên 50
ngƣời đến
100 ngƣời
(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP)
Căn cứ theo quy định trên, Doanh nghiệp lớn là những doanh nghiệp có
quy mô nhƣ sau :
- Đối với lĩnh vực thƣơng mại và dịch vụ, Doanh nghiệp lớn là Doanh
nghiệp có tổng nguồn vốn trên 50 tỉ đồng và số lao động trên 100 ngƣời
- Đối với lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp và xây dựng,
Doanh nghiệp lớn là Doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 100 tỉ đồng và
số lao động trên 300 ngƣời.
Ngày 19/4/2010, Bộ Tài chính ký quyết định số 856/QĐ-BTC quy định
danh sách doanh nghiệp thuộc diện Tổng cục Thuế trực tiếp tổ chức công tác
quản lý thuế. Đây là một bộ phận chủ yếu trong số các doanh nghiệp lớn ở
13
Việt nam. Theo quyết định này, vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn thuộc
Tổng cục Thuế tham gia quản lý thuế đối với 35 Tổng công ty, tập đoàn gồm
sách nhà nƣớc thông qua thuế, phí và góp phần tạo ra tích lũy cho nền kinh tế
quốc gia. Có thể nói, đối với nhiều quốc gia đang phát triển, đóng góp của
doanh nghiệp lớn vào tổng thu nhập quốc dân và Ngân sách nhà nƣớc là rất
lớn. Ngay cả với nhiều nƣớc công nghiệp phát triển, tỉ lệ đóng góp của Doanh
nghiệp lớn vào tổng thu nhập quốc dân cũng khá lớn. Theo thống kê của Vụ
Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn, với 415 Doanh nghiệp lớn ở Việt Nam, chịu
sự quản lý thuế của Tổng cục Thuế trong năm 2009 và 2010 đóng góp khoảng
36% tổng thu Ngân sách nhà nƣớc/năm (bao gồm cả số thu từ dầu thô).
- Góp phần định hướng phát triển hệ thống doanh nghiệp. Doanh
nghiệp lớn huy động đƣợc các nguồn lực vật chất, lao động và vốn trong xã
hội vào quá trình sản xuất kinh doanh, hình thành nên những công ty hiện đại,
có quy mô lớn, góp phần định hƣớng phát triển hệ thống doanh nghiệp.
Doanh nghiệp lớn có ý nghĩa quan trọng đối với các nƣớc công nghiệp hóa, là
giải pháp để bảo vệ sản xuất trong nƣớc, cạnh tranh với các công ty nƣớc
ngoài. Với sự hỗ trợ của nhà nƣớc và những định hƣớng phát triển đúng đắn,
các Doanh nghiệp lớn có thể mở rộng thị trƣờng ra thế giới.
- Tạo điều kiện nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới
vào sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp lớn với tiềm lực về tài chính và nhân
lực, với quy mô hoạt động lớn, là môi trƣờng có thể đáp ứng và tạo điều kiện
cho việc nghiên cứu, ứng dụng, triển khai tiến bộ khoa học công nghệ vào sản
xuất kinh doanh.
- Tạo ra nhiều việc làm cho xã hội. Doanh nghiệp lớn cần bộ máy tổ
chức tốt, hệ thống chi nhánh trên địa bàn rộng, góp phần tạo nhiều cơ hội việc
làm cho ngƣời lao động. Theo kết quả tổng hợp của Vụ quản lý thuế Doanh
15
nghiệp lớn, số lƣợng lao động đang làm việc tại 415 Doanh nghiệp lớn trong
năm 2010 khoảng 1,2 triệu lao động. Năng suất lao động bình quân đạt
khoảng 1.800 tỉ đồng/ngƣời/năm. Thu nhập bình quân của ngƣời lao động đạt
7.1 triệu đồng/ngƣời/tháng.
chức nhiều hội nghị, đối thoại trả lời những vƣớng mắc về cơ chế, chính sách
trong quá trình thực thi pháp luật thuế.
1.4. Sự cần thiết phải có mô hình quản lý thuế riêng đối với doanh nghiệp
lớn ở Việt Nam
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nƣớc. Từ các khoản thuế
thu đƣợc, nhà nƣớc dùng vào việc đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo ra hàng
hóa công cộng phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội nhƣ đƣờng sá, cầu cống,
trƣờng học, bệnh viện, … Tuy nhiên, thuế lại là vấn đề nhạy cảm, nhất là các
sắc thuế trực thu. Các doanh nghiệp lớn thƣờng có các chi nhánh và công ty
con hoạt động rộng khắp trong và ngoài nƣớc, trong các ngành kinh tế mạnh,
có tiềm năng thu lớn, có tƣ vấn chuyên môn về kế toán và thuế, có lƣu giữ sổ
sách kế toán. Các doanh nghiệp lớn cũng nhƣ các doanh nghiệp khác, đều là
đối tƣợng nộp thuế, coi thuế là một loại hình chi phí cần phải đƣợc giảm
thiểu thông qua việc không tuân thủ nghĩa vụ thuế trong các giao dịch phức
tạp với lƣợng thuế lớn, tìm cách lách các quy định luật pháp ở mọi cấp độ
kinh doanh. Vì vậy, việc phát hiện và ngăn chặn vấn đề này là nhiệm vụ cấp
bách của cơ quan quản lý thuế.
Các Doanh nghiệp lớn có tác động lớn tới số thu Ngân sách nhà nƣớc,
có khối lƣợng và giá trị giao dịch lớn, tác động thƣờng xuyên tới niềm tin và
tính tuân thủ của cộng đồng. Họ sử dụng những hệ thống cấu trúc, hoạt động
và giao dịch phức tạp, trong môi trƣờng toàn cầu thay đổi nhanh chóng. Do
17
vậy, cơ quan quản lý thuế cần phải nắm bắt đƣợc những thay đổi đó để kịp
thời xử lý.
Công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp hiện nay đã có những
quy trình quản lý cụ thể, chính sách thuế đã thống nhất áp dụng chung cho tất
cả các loại hình doanh nghiệp, không có quy định riêng đối với doanh nghiệp
lớn nhƣng trong thực tế, các doanh nghiệp có quy mô khác nhau sẽ có độ rủi
ro và tổ chức hoạt động khác nhau, những tình huống và vấn đề thuế nảy sinh
trong bảng. So sánh bảng xếp hạng V1000 với bảng xếp hạng VNR500-Top
500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam có thể thấy hầu hết các doanh nghiệp
VNR500 cũng lọt vào bảng xếp hạng V1000. Đại đa số Top 100 doanh
nghiệp thuộc bảng V1000 cũng chính là những doanh nghiệp thuộc bảng xếp
hạng VNR500. Điều này đã khẳng định, nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc
nhiều vào các doanh nghiệp lớn hay các Doanh nghiệp lớn đã và đang giữ vai
trò chiến lƣợc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam, các Doanh nghiệp lớn với tỉ lệ đóng góp cao trong
Ngân sách nhà nƣớc ảnh hƣởng lớn đến việc đảm bảo nguồn thu. Hơn nữa,
các Doanh nghiệp lớn có quy mô sản xuất lớn, đa dạng về loại hình và địa
điểm kinh doanh, nhiều nghiệp vụ tài chính kế toán phát sinh, cần có bộ phận
chuyên biệt để đánh giá, phân loại, hƣớng dẫn và kiểm soát, tránh rủi ro thất
thu thuế, nâng cao tính tuân thủ của các Doanh nghiệp lớn, đảm bảo thu thuế
đúng thời hạn.
1.5. Những mục tiêu chính trong công tác quản lý thuế đối với các doanh
nghiệp lớn.
1.5.1. Đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước:
Nhà nƣớc muốn tồn tại và phát triển cần phải có nguồn vật chất chi
tiêu cho việc thực hiện các nhiệm vụ của mình. Nguồn vật chất ấy có thể hình