luận văn nâng cao vai trò nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp ở việt nam (lấy ví dụ ở tỉnh hải dương) (2) - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn "Nâng cao vai trò Nhà nước trong quản lý
thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam (lấy ví dụ ở tỉnh Hải Dương)" là do
tự bản thân tôi nghiên cứu, sưu tầm tài liệu và xây dựng. Các số liệu trong
luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trích dẫn nguồn cung cấp.
Tôi xin cam đoan và chịu toàn bộ trách nhiệm về tính trung thực cũng
như sự hợp pháp của vấn đề nghiên cứu.
NGƯỜI CAM ĐOAN
Bùi Thanh Hồng
LỜI CẢM ƠN
Thuế đối với doanh nghiệp là vấn đề phức tạp trong lĩnh vực quản lý
Nhà nước, luận văn đòi hỏi phải có sự nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng với số
liệu đầy đủ về thực trạng quản lý thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam nói
chung và tỉnh Hải Dương nói riêng. Đồng thời, cần có cơ sở lý luận vững chắc
làm nền tảng cho những nghiên cứu, ứng dụng thực tế. Vì vậy, luận văn không
thể hoàn thành nếu không có giúp đỡ tận tình của cô giáo PGS, TS. Đào Phương
Liên và các giảng viên Khoa lý luận chính trị - Đại học Kinh tế Quốc dân. Tác
giả xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn và các thầy cô giáo.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các cấp Lãnh đạo và các
đồng nghiệp làm việc tại Cục thuế tỉnh Hải Dương đã tạo điều kiện để tác giả
được tập trung nghiên cứu và xây dựng luận văn, góp một phần nhỏ cho công
cuộc xây dựng và phát triển Cục thuế tỉnh Hải Dương cũng như ngành Thuế
Việt Nam.
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ và
động viên tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
HỌC VIÊN
Bùi Thanh Hồng
Khóa: CH19 (2010-2012)
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Reference source not found
Sơ đồ 2.2: Mô hình phân cấp quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh Hải Dương
Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.1: Số lượng DN đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh của các
năm từ 2006-2011 Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.2. Số thu nộp ngân sách nội địa trên địa bàn tỉnh của các năm
từ năm 2006-201 Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.3: Số nộp NSNN của các DN trên địa bàn tỉnh qua các năm từ
năm 2006-201 Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.1 - Mô hình phân công, phân cấp quản lý thuế tổng quát 43
Hình 1: Minh hoạ các cải cách chủ yếu của cơ quan thuế Error:
Reference source not found
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trước yêu cầu hiện đại công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách
động viên của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển,
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần bình
đẳng công bằng xã hội, phù hợp với nền kinh tế thị trường và chủ động hội
nhập quốc tế, tại Kỳ họp thứ 10 (Khó XI), Quốc hội đã thông qua Luật quản
lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ
01/7/2007. Bước chuyển quan trọng được đề cập trong Luật Quản lý thuế là
đề cao tính tự chủ của người nộp thuế trong quá trình khai thuế, nộp thuế vào
NSNN, đó là cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp.
Nhằm nâng cao vai trò Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh
nghiệp, góp phần làm cho chính sách thuế được thực hiện đúng hơn, đầy đủ
hơn, đạt được kết quả cao hơn. Việc tổ chức thực hiện được cải cách theo
hướng rõ ràng, minh bạch, tạo điều kiện tối đa cho người nộp thuế, nhưng
đồng thời cũng có biện pháp chế tài và trao quyền cho cơ quan thuế để giám
sát, kiểm tra, xử lý nghiêm minh những đối tượng cố tình vi phạm pháp luật,
tạo môi trường lành mạnh, công bằng, góp phần ổn định hơn cả về số thu cho
ngân sách nhà nước, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp

mình. Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vi
hoạt động của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phương
thức tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù
hợp nữa. Ðể có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực
của mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân
phải đóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm ra và hình thành
qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước. Ban đầu những của cải vật chất này được
ii
thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuế được chuyển sang hình thức
tiền tệ. Ðồng thời với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất đối với
dân cư, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó bằng bộ máy cuỡng
chế của Nhà nước.
Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu để thuế
tồn tại và phát triển. Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất
yếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà
nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước.
Thứ hai, luận văn đã nêu nên sự cần thiết và những nhân tố ảnh hưởng đến
nâng cao vai trò Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam:
Một là, nâng cao vai trò Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh
nghiệp nhằm từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thuế
Có thể nói thuế không chỉ là nguồn thu của ngân sách nhà nước mà còn
là công cụ quan trọng điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích
đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát
triển sản xuất, tạo ra môi trường bình đẳng về pháp luật cho sự cạnh tranh
lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế. Trong những năm vừa qua,
nhằm hướng tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành các cuộc cải cách thuế, không ngừng hoàn
thiện và kiện toàn hệ thống quản lý thuế nhằm đảm bảo tính hiệu lực của các

triển kinh tế xã hội của đất nước, và chủ trương chính sách đúng đắn của
Đảng và nhà nước có được thực hiện đúng đắn nghiêm túc không phụ thuộc
vào khâu tổ chức thực hiện đó là quản lý thuế.
iv
Bốn là, nâng cao vai trò Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh
nghiệp nhằm giáo dục ý thức, trách nhiệm cộng đồng cho doanh nghiệp và
công dân. Do đặc điểm thuế là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế
người đóng thuế không phải để nhận lại của nhà nước mà là nghĩa vụ đóng
góp chung chứ không phải tự nguyện. Thuế làm tăng thu cho Nhà nước và
giảm thu nhập của người nộp thuế do đó phải có vai trò nhà nước để đảm
bảo việc thu thuế được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng pháp luật.
Năm là, nâng cao vai trò Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh
nghiệp còn xuất phát từ đòi hỏi của quá trình hội nhập của Việt Nam vào sân
chơi chung của khu vực và thế giới. Hiện nay chúng ta đã hội nhập đầy đủ
toàn diện với kinh tế quốc tế do đó để đảm bảo yêu cầu đòi hỏi về tính phù
hợp với các điều ước và thông lệ quốc tế về chính sách tài chính; đồng thời
tạo điều kiện tối đa cho cho người nộp thuế trong việc kê khai nộp thuế thì đòi
hỏi Nhà nước mà đại diện là cơ quan thuế phải nâng cao vai trò của mình
trong quản lý thuế .
Thứ ba, luận văn đã nêu nội dung, các nhân tố ảnh hưởng và sự cần
thiết phải nâng cao vai trò Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp:
Quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp nói chung và các doanh
nghiệp nói riêng là hoạt động có liên quan đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã
hội của một nước. Ở đâu có hoạt động kinh tế hay có thu nhập đối với một tổ
chức, cá nhân thì ở đó có hoạt động quản lý thu thuế.
Thứ tư, luận văn đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về nâng cao vai
trò Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp.
Thứ năm, luận văn đã khái quát về cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục
thuế tỉnh Hải Dương. Cục Thuế tỉnh Hải Dương được tổ chức thành 14 phòng
và 12 Chi cục thuế thành phố, thị xã, huyện trực thuộc, với tổng số 762 cán

để tuyên truyền, hướng dẫn giúp cho người nộp thuế biết và thực hiện đúng,
tránh sai phạm.
Thường xuyên đối thoại, tiếp xúc với doanh nghiệp để giải quyết kịp
thời các vướng mắc của họ, qua đó tăng cường giáo dục nâng cao hiểu biết về
thuế cho đối tượng nộp thuế .
Quy chế tuyên truyền hỗ trợ được xây dựng nhằm thống nhất và chuẩn
hoá việc hỗ trợ doanh nghiệp, từng bước nâng cao chất lượng công tác tuyên
truyền, hỗ trợ. Thực hiện quy chế chính là hỗ trợ trực tiếp, giúp đỡ các doanh
nghiệp thực hiện việc tự tính, tự khai, tự nộp thuế một cách đầy đủ, chính xác.
Hơn nữa về phía người làm công tác thuế, quy chế này cũng đảm bảo phân
định rõ để thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ trong công tác tuyên truyền,
hỗ trợ tại cấp Tổng cục và cấp Cục thuế, tạo hiệu quả cao.
Thứ hai: Nghiên cứu hoàn thiện và tổ chức thực hiện đồng bộ các qui
trình quản lý thu thuế khoa học, hiệu quả đối với tất cả các khoản thu, sắc thuế.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện tất cả các quy trình nghiệp vụ
quản lý thu cho phù hợp với yêu cầu mới. Ban hành các sổ tay nghiệp vụ quản
lý thuế đối với từng khoản thu, sắc thuế, làm cẩm nang cho cán bộ thuế học
tập và thực hiện quản lý thuế.
Thứ ba: Đẩy mạnh công tác thanh tra, xử lý kịp thời các hành vi gian
lận về thuế, chống thất thu ngân sách, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế
và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp
Một là, kiện toàn lại tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế
- Tăng cường cả về số lượng, chất lượng cán bộ trong lĩnh vực thanh
tra, kiểm tra và trở thành lực lượng chủ yếu của cơ quan thuế. . Cán bộ thanh
tra phải giỏi về nghiệp vụ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt, thái độ làm
việc khách quan, trung thực.
vii
- Sắp xếp phân công lại cán bộ thanh tra kiểm tra ở cơ quan thuế tại các
địa phương để bố trí vào các bộ phận: thanh tra kiểm tra đối tượng nộp thuế ;
thanh tra kiểm tra hoàn thuế; thanh tra kiểm tra nội bộ ngành thuế; kiểm tra

thuế ; Chương trình quản lý hoá đơn, ấn chỉ thuế thống nhất trên mạng máy
tính toàn ngành, hệ thống trao đổi thông tin thu nộp thuế giữa Kho Bạc và
Thuế, Các chương trình này sẽ đáp ứng được việc hỗ trợ cung cấp thông tin
về chính sách, thủ tục thu nộp thuế kịp thời cho đối tượng nộp thuế , cung cấp
thông tin về tình trạng kê khai thuế, kịp thời phát hiện những trường hợp
ngừng kê khai hoặc kê khai chưa đúng để giúp cho công tác thanh tra, kiểm
tra của cơ quan thuế đạt hiệu quả cao hơn.
Năm là, Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các cấp, các ngành
trong việc quản lý đối tượng nộp thuế bắt đầu có hiệu quả.
Sự phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh đã tạo thuận lợi cho việc
đưa hầu hết số đối tượng kinh doanh được cấp đăng ký vào quản lý thu thuế,
được cấp mã số thuế.
Cơ quan thuế chủ động phối hợp với cơ quan chức năng trong việc quản lý
thu thuế.
Phối hợp với các ngành liên quan, các địa phương đẩy mạnh các biện
pháp đấu tranh chống gian lận thương mại, trốn thuế, lậu thuế
Thứ bảy, từ kết quả phân tích thực trạng về vai trò Nhà nước trong
quản lý thuế đối với doanh nghiệp ở tỉnh Hải Dương, luận văn cũng đã đánh
giá chung và chỉ ra những thành tựu đạt được; những hạn chế và nguyên nhân
của những hạn chế.
Thứ tám, luận văn nêu ra những khó khăn và thuận lợi vai trò Nhà
nước trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp ở tỉnh Hải Dương
Thứ chín, luận văn nêu phương hướng nâng cao vai trò Nhà nước
trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp ở tỉnh Hải Dương
Thứ mười, luận văn góp phần đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng
cao vai trò Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp ở tỉnh Hải Dương
ix
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước yêu cầu hiện đại công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách

là dưới góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục đích nghiên cứu
Công trình góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản vai trò
Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp, trên cơ sở đó, công trình
phân tích thực trạng quản lý thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải
Dương, từ đó đề xuất các phương hướng giải pháp nhằm nâng cao vai trò Nhà
nước trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Vai trò Nhà nước trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp.
- Về lý luận: Những vấn đề lý luận chung về vai trò Nhà nước trong
quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ở Việt nam.
- Về thực tiễn: Luận văn khảo sát thực tiễn và lấy số liệu để minh hoạ
qua số liệu của Tổng cục Thuế và các cơ quan hữu quan trên địa bàn tỉnh Hải
Dương.
5. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác-Lê nin. Sử dụng phương pháp khảo sát, thu thập dữ liệu kết
hợp với các phương pháp chuyên gia, phân tích, so sánh, để rút ra các kết luận
có căn cứ khoa học.
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học và hệ thống hoá những vấn đề lý luận
và thực tiễn, luận văn có những đóng góp sau:
2
- Trên cơ sở chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước
về thuế qua các thời kỳ từ năm 2007 đến nay, luận văn nêu bật vai trò quan
trọng của thuế và quản lý thuế đối với phát triển kinh tế xã hội.
- Luận văn làm rõ những vấn đề cơ bản vai trò Nhà nước trong quản lý
thuế, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao vai trò Nhà nước trong
quản lý thuế.
- Từ những nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm của các địa phương trong

Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của
nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều
kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi
cho hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà
nước tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của
mình. Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vi
hoạt động của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phương
thức tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù
hợp nữa. Ðể có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực
của mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân
phải đóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm ra và hình thành
4
qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước. Ban đầu những của cải vật chất này được
thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuế được chuyển sang hình thức
tiền tệ. Ðồng thời với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất đối với
dân cư, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó bằng bộ máy cuỡng
chế của Nhà nước.
Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu để thuế
tồn tại và phát triển. Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất
yếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà
nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước.
Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành.
ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành
qũy ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế
- xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ
quan lập pháp. Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các
nước. Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy định:
cấm mọi sự thu thuế để dựng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không được
Quốc hội chấp thuận. ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuế

toàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với đời sống xã hội, không
đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân.
Ở nước ta trước cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước, Luật thuế chỉ
áp dụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập
thể và cá thể. Ðể thực hiện chế độ thu ngân sách Nhà nước phù hợp với cơ
chế thị trường, phát huy vai trò của các hình thức thu ngân sách Nhà nước,
cuộc cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước được thực hiện trên cơ sở Nghị
quyết Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ IV năm 1989. Kết quả của cuộc cải cách
6
này đưa đến việc áp dụng thống nhất chế độ thu thuế đối với tất cả các thành
phần kinh tế, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức kinh doanh. Từ đây
thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước và thuế
chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước.
Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách
Nhà nước và đời sống xã hội. Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế,
Nhà nước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thành nên
qũy ngân sách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước đặt ra
thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp
luật không chỉ quy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền,
nghĩa vụ của các chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế.
Pháp luật thuế là sự thể chế hoá các chính sách kinh tế - xã hội cuả Nhà nước.
Chính vì vậy pháp luật thuế là nhân tố quyết định ý nghĩa kinh tế - xã hội của
thuế và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong
những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động
kinh tế, thuế đóng vai trị hết sức quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh
tế - xã hội. Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập

Ðiều 26 Hiến pháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế
quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách. Là một bộ phận của hệ thống
pháp luật Việt Nam, pháp luật thuế đóng vai trị là công cụ điều tiết vĩ mô của
Nhà nước. Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước
8
thể chế hoá và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu
nhập và tiêu dùng xã hội.
Ðiều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của
Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy định của
pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất,
miễn giảm thuế Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền
kinh tế. Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chổ pháp luật thuế là
công cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh
doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội. Dựa vào công cụ
thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng.
Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can
thiệp đến cung - cầu của nền kinh tế. Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh
cung - cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định
và tăng trưởng kinh tế. Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác
động tích cực đến cung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền
kinh tế thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật thuê,ỳ Nhà nước tác
động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội. Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối
với một số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng,
thuế xuất nhập khẩu đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại
hàng hóa đó.
Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và
khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy
định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng

10
thực hiện việc điều tiết thu nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên
trong xã hội. Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ
thống thuế, vế thuế suất đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập
trong xã hội.
Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm
pháp luật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thống
thuế và thuế suất Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung đó không làm triệt
tiêu vai trò của pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong
điều kiện nền kinh tế thị trường.
1.1.2. Quản lý Nhà nước về thuế đối với doanh nghiệp.
1.1.2.1. Quan niệm quản lý Nhà nước về Thuế đối với doanh nghiệp
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Vì vậy, để tiếp cận
khái niệm quản lý thuế, trước hết, cần tiếp cận khái niệm quản lý.
Theo từ điển Tiếng Việt, quản lý là "Tổ chức và điều khiển các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định".
Theo các tác giả Giáo trình khoa học quản lý của Học viện Chính trị
Quốc gia thì "Quản lý là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối
hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn".
Theo các tác giả Giáo trình Quản lý hành chính Nhà nước thì "Quản lý
là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích, đúng với ý chí
và phù hợp với qui luật khách quan".
Như vậy, khi nói đến quản lý là nói đến hoạt động của con người trong
việc thực hiện các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm
soát và thúc đẩy hoạt động của những con người trong tổ chức đó nhằm thực
hiện những mục tiêu đã định.
11

Trích đoạn Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế có liên quan đến thuế quan. Kinh nghiệm của Anh. Kinh nghiệm của Nhật Bản. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam và Hải Dương về hoàn thiện công tác quản lý thuế. KHÁI QUÁT TèNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP Ở TỈNH HẢI DƯƠNG.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status