Khảo sát sắc phong tại huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An - Pdf 27

MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài.
Ai đi vô nơi đây, xin dừng chân xứ Nghệ
Ai đi ra nơi đây, xin chân dừng xứ Nghệ
Nghe câu hò ví dặm càng lắng lại càng sâu
Như sông Lam chảy chậm đọng bao thuở vui sầu…
Câu mời gọi mà nhạc sĩ Phạm Tuyên viết trong ca khúc “Ai vô xứ
Nghệ” đã gợi lên trong ta những cảm xúc đầu tiên mà sâu lắng về xứ Nghệ -
mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra những nhân tài đất Việt, những
cá nhân kiệt xuất cho bao đời.
Xứ Nghệ không chỉ được biết đến với những địa danh như Phượng
Hoàng Trung Đô, Lam thành sơn, núi Hồng sông Lam… mà xứ Nghệ còn
được mọi người biết đến bởi con người nơi đây thuần phác, đơn giản mà
hiếu học. Từ những thứ thật bình dị như: nhút Thanh Chương, tương Nam
Đàn, con cá gỗ, vại cà muối, những củ khoai lang, ấm nước chè xanh … mà
nơi đây đã có biết bao nhiêu nhân tài kiệt xuất, bao nhiêu anh hùng dân tộc
nổi danh ngàn đời.
Nhắc đến xứ Nghệ người ta còn nhắc đến mảnh đất của những điệu
dân ca ngọt ngào sâu lắng, vùng đất của những lễ hội, hát phường vải, hát ca
trù, hát ví dặm… của những điệu hò say đắm lòng người. Ở nơi đây có hàng
chục lễ hội gắn liền với các danh lam thắng cảnh như lễ hội đền Hoàng
Mười, lễ hội đua thuyền ở Lam thành sơn, lễ hội đền Cuông, lễ hội đền vua
Mai,… những phong tục, những tập quán đẹp đẽ trên mảnh đất này đã hun
đúc lên con người nơi đây có truyền thống hiếu học, anh dũng kiên cường
trong chiến đấu và cần cù trong lao động.

1
Dù hiện nay Nghệ An đang dần vươn mình để hội nhập vào nền kinh
tế của cả nước và nền kinh tế thế giới, nhưng cái “thuần, giản, mà hiếu học”
[5, tr.214] vẫn luôn là tính chất bao đời nay của người dân nơi đây. Từ xa
xưa, các cụ đồ Nghệ đã nuôi chí lớn học cao đỗ đạt để làm rạng danh quê

những văn bản sắc phong trong các dòng họ nhỏ thì hầu như vẫn rất ít người
biết đến. Hiện nay câu lạc bộ Hán – Nôm huyện Hưng Nguyên cũng đang
mở đợt khảo sát tất cả các văn bản hiện có trên địa bàn. Thế nhưng công
việc mới chỉ bắt đầu chưa qua xử lý và công bố. Vì vậy đề tài này có thể coi
là đề tài mới mẻ khi đi sâu khảo sát về các văn bản sắc phong trên địa bàn.
Trong bài viết người viết trên tinh thần kế thừa mốt số tư liệu của
người đi trước nhưng cũng bổ sung vào những phần mà các văn bản còn
thiếu sót, cố gắng đạt tới tính chân thực cao nhất trong giới hạn cho phép.
Tuy nhiên khóa luận này cũng chưa phải là nguồn tư liệu đầy đủ nhất.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Theo thống kê của PGS Ninh Viết Giao trong sách Tục thờ thần và
thần tích Nghệ An (2000) thì trên địa bàn huyện Hưng nguyên có khoảng
trên 150 đền, miếu phủ đình và nhà thờ. Còn theo thống kê của UBND
huyện Hưng Nguyên thì trước đây trên địa bàn huyện có khoảng 250 di tích
nhưng đến 2006 thì trên địa bàn chỉ còn lại 61 di tích. Hầu hết các di tích
này đều đang giữ lại những tư liệu Hán – Nôm quý giá như gia phả, văn tế,
hương ước, hoành phi, câu đối, địa bạ, thần tích, văn bia, sắc phong…Thế
nhưng qua thời gian, điều kiện thời tiết và ý thức bảo quản của mỗi người
dân, mỗi dòng họ mà hiện nay các văn bản Hán – Nôm trên địa bàn bị mai
một mà đặc biệt là những văn bản sắc phong quý giá còn lại rất ít. Vì thế
nên chúng tôi chọn 10 di tích còn giữ lại được những văn bản sắc phong là:
nhà thờ Đinh Bạt Tụy, đình làng Bùi Ngõa, nhà thờ Lê Sĩ Triệt, nhà thờ họ
Nguyễn Trọng, nhà thờ Trạng nguyên Bạch Liêu, nhà thờ họ Ngô, đền thờ

3
Thánh Vương Bạch Đế, đền thờ đức thánh Khổng Lồ, nhà thờ họ Hoàng ,
đền Xuân Hòa.
Sắc phong tại các di tích trên là đối tượng mà đề tài nghiên cứu, còn
10 nhà thờ và đền thờ trên là phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4. Phương pháp nghiên cứu.

mạng Xô Viết - Nghệ Tĩnh, là quê hương của nhiều nhân vật lịch sử nổi
tiếng. Hưng Nguyên đã mang trong mình những nét truyền thống văn hóa
lâu đời đẹp đẽ và phong phú của vùng đất Nghệ - Tĩnh nói riêng và cả dân
tộc Việt Nam nói chung. Không những thế, nó còn mang trong mình cái nét
riêng huyền diệu của một vùng quê nghèo xứ Nghệ.
Với tọa độ: 18
0
48’ đến 18
0
34’ vĩ bắc và 105
0
33’ đến 105
0
42’5” kinh
đông. Phía tây giáp với Nam Đàn, phía bắc giáp với Nghi Lộc, phía đông
giáp với thành phố Vinh và Nghi Xuân (Hà Tĩnh), phía nam giáp với Đức
Thọ (Hà Tĩnh). Huyện Hưng Nguyên nằm ở trung tâm xứ Nghệ, có vị trí
cửa ngõ phía Tây thành phố Vinh, nằm trên quốc lộ 46 đi lên quê hương
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lên cửa khẩu Thanh Thủy, nơi có đường sắt Bắc –
Nam đi qua, có dòng sông Lam xanh mát bao vòng từ xã Hưng Lĩnh đến xã

5
Hưng Lợi. Vị trí này đã giúp cho Hưng Nguyên thuận tiện trong việc giao
lưu văn hóa, kinh tế, chính trị với các vùng trong cả nước.
Là một vùng đồng bằng rộng lớn với diện tích đất tự nhiên là 16
398,57 ha, đây là vùng đất đai tương đối màu mỡ, dân cư đông đúc, điều
kiện tự nhiên thuận lợi vì có dòng sông Lam bao bọc, bồi đắp phù sa và có
đê 42 ngăn lũ. Địa hình của Hưng Nguyên thấp trũng, thấp dần từ tây sang
đông, độ cao trung bình của vùng là từ 1,5 đến 2 m, nơi cao nhất là 3m và
nơi thấp nhất là 0,6m. Ở đây ảnh hưởng bởi khí hậu nhiệt ẩm gió mùa và khí

Lỵ Châu, Minh Châu. Đời Tùy (581 – 618) năm Khai Hoàng thứ 8 (588)
Tùy Văn Đế, đổi Đức Châu làm Hoan Châu, Lỵ Châu đổi thành Tri Châu,
năm Đại Nghiệp thứ 3 (603) cho cả Hoan Châu, Tri Châu, Minh Châu nhập
vào Nhất Nam. Đến nhà Đường (618 – 907) lúc đầu vẫn gọi cả xứ Nghệ là
Hoan Châu, sau tách một phần bắc của Hoan Châu đặt là Diễn Châu. Diễn
Châu đặt từ năm Trịnh Quán thứ nhất (627) nhưng được một thời gian ngắn
lại bỏ Diễn Châu cho nhập vào Hoan Châu, rồi đến 122 năm sau, năm
Quảng Đức thứ 2 đời Đường Đại Tông (763 – 780) chia lại Hoan Châu và
đặt lại Diễn Châu, đó là đất 3 huyện Diễn, Yên, Quỳnh hiện nay và cả phủ
Quỳ Châu cũ. Hoan Châu là vùng từ Cầu Cấm trở vào Đèo Ngang, theo GS
Đào Duy Anh thì trị sở của nó là vùng núi Lam Thành thuộc huyện Hưng
Nguyên ngày nay. Hưng Nguyên lúc đó thuộc huyện Cửu Đức một trong
bốn huyện của Hoan Châu (Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường, Hoài
Hoan). Trải qua một thời kỳ lịch sử từ Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền, Đinh,
Tiền Lê, đều đã bỏ hẳn chế độ quận huyện.
Đời Lý năm Thiên Thành thứ 3 (1030) vua Lý Thái Tông đổi Hoan
Châu là châu Nghệ An, địa danh Nghệ An có từ đó. Theo sử sách nước ta
đời Lý đã chia nước ta ra làm 24 lộ trong đó có lộ Nghệ An và lộ Diễn
Châu, không thấy nhắc đến các đơn vị hành chính dưới lộ nên ta chưa rõ địa
danh Hưng Nguyên thời đó là gì và địa vực ra sao.
Đời nhà Trần - Hồ, Trần Thái Tông đã đổi 24 lộ đời Lý thành 12 lộ
với tên gọi là phủ lộ. Năm Quang Thái thứ 10 (1397), Hồ Quý Ly làm Phụ
Chính Thái Sư, sửa đổi chế độ hành chính đã đổi lộ phủ sang trấn như đổi
lộ phủ Nghệ An thành trấn Lâm An, Diễn Châu thành trấn Vọng Giang.

7
Điều đáng chú ý là phủ lộ Nghệ An mà sau này trấn Lâm An có huyện
Thượng Lộ mà theo nhiều nhà nghiên cứu thì đó là Hưng Nguyên hiện nay,
huyện Thượng Lộ thuộc đời Minh đổi thành Lộ Bình.
Năm 1428, khi khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã hoàn toàn

thôn), Văn Viên (10 xã thôn). Từ đó, Hưng Nguyên đã có nhiều lần thay đổi
về địa giới và đơn vị hành chính, mãi đến ngày 15/9/1998 theo nghị định số
73/1998 NĐ – CP của Chính Phủ thị trấn Hưng Nguyên được thành lập lại
(2)
và từ đó đến nay Hưng Nguyên có 23 đơn vị hành chính với 22 xã và 1 thị
trấn.
1.3. Văn hóa tín ngưỡng và nền giáo dục cổ.
1.3.1. Văn hóa tín ngưỡng.
1.3.1.1. Thờ phụng tổ tiên.
Mở đầu mỗi cuốn Gia Phả của một số dòng họ, để răn dạy con cháu
về việc phụng thờ, tôn trọng và kính cẩn với tổ tiên, yêu quý ngồn gốc của
mình, các dòng họ đã viết:
“千 流 萬 派, 水 同 一 原
千 柯 萬 葉, 木 同 一 根”
Phiên âm:
Thiên lưu vạn phái, thủy đồng nhất nguyên,
Thiên kha vạn diệp, mộc đồng nhất căn.
Chú thích:
(1)
Tài liệu được lưu hành tại thư viện Huế, người biên soạn không ghi rõ năm nào, theo chủ
trương của cơ quan nào, Ninh Viết Giao đoán nó có thể ra đời vào khoảng năm 1935 – 1940.

9
(2)
Trước đó thị trấn của Hưng Nguyên là thị trấn Thái Lão (thành lập ngày13/11/1986) đến
ngày 17/12/1993 theo nghị quyết 99 CP của chính phủ: “Giải thể thị trấn Thái Lão thuộc huyện
Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An"
Dịch nghĩa:
Nghìn muôn dòng nước cũng từ một nguồn,
Nghìn muôn cành lá cũng từ một gốc.

Thành hoàng của người Việt là những vị thần bảo hộ cho thôn làng
nơi có lũy tre làng bao quanh chứ không phải là nơi có thành quách như
Trung Quốc, chính vì thế mà người Việt gọi là thần Thành hoàng làng.
Ở Hưng Nguyên, những vị Thành hoàng được thờ cúng không phải
chỉ là những người khai canh lập làng, mà trong đó còn có cả những thần “là
anh hùng dân tộc (Lê Lợi), có thần là Hoàng đế lừng danh (Lê Thánh Tông),
có thần là danh thần lương tướng (Lê Khôi, Đinh Bạt Tụy, …), có thần là
Nghĩa sĩ (Nguyễn Biểu), có thần đỗ đạt cao (Ngô Quang Tổ, Thái Tất Tiên,
…), có những thần là tổ sư nghề nghiệp vừa khai canh lập làng như Già
Xuân, Già Hiếu, Già Rằng”… [4, tr. 500], Điều này đã chứng tỏ rằng nhân
dân Hưng Nguyên rất kính trọng, yêu mến, sùng bái những người tài giỏi có
công lập ấp lập làng, những người có công chiến đấu bảo vệ làng xã, đất
nước, những con người học giỏi tài ba… Những vị thần này được nhân dân
gọi với những tên gọi như Bản cảnh Thành hoàng, Đương cảnh Thành
hoàng, Bản thổ Thành hoàng.
Việc thờ Thành hoàng là để nhân dân nhớ lại lịch sử. Bởi Thành
Hoàng là tượng trưng cho lịch sử, phong tục cùng đạo đức, hy vọng của cả
làng. Thành hoàng là một thứ quyền uy siêu việt, là sợi dây, mối liên hệ siêu
hình để gắn kết cả làng, khiến cho cả làng thành một cộng đồng có tổ chức
và hệ thống chặt chẽ.
Ở Hưng Nguyên, trong tín ngưỡng của mỗi người dân, của làng xã
Thành hoàng dù là nhiên thần, thiên thần hay nhân thần thì cũng đều biểu thị
lòng tôn kính, tin tưởng và luôn thành tâm cầu nguyện đối với cái linh
thiêng, cao cả. Theo PGS Ninh Viết Giao thì toàn bộ Thành hoàng ở Hưng

11
Nguyên đều là phúc thần và đều là âm phù cho những cá nhân trong cộng
đồng làng. Thành hoàng chính là nơi tụ hợp tâm linh của cư dân cộng đồng
làng xã ở Hưng Nguyên cũng như của cả cư dân Việt.
1.3.2. Nền giáo dục cổ.

Phó bảng).
1. Đinh Bạt Tụy, đậu Đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ tam danh chế khoa
Giáp Dần niên hiệu Thuận Bình thứ 6 (1554) vua Lê Trung Tông. Làm quan
đến chức Thượng Thư bộ Binh, tước Khê Quận Công.
2. Lê Giám, đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu
Hồng Đức thứ 9 (1478) vua Lê Thánh Tông. Làm quan Hữu Hình Thị Lang
ở bộ Lại.
3. Ngô Quang Tổ, đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên
hiệu Đoan Khánh thứ 4 (1508) vua Lê Uy Mục. Làm quan đến Hiến sát sứ.
4. Thái Tất Tiên, đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ đồng xuất thân khoa
Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466) vua Lê Thánh Tông. Làm
quan đến chức Tham chính.
5. Nguyễn Quang Thiện, đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Giáp Thìn
niên hiệu Cảnh Trị 2 (1664) vua Lê Huyền Tông. Làm đến chức Giám sát
ngự sử.
6. Dương Trí Dụng, đậu Đệ nhất giáp chế khoa Ất Dậu niên hiệu
Chính Trị thứ 8 (1565). Làm quan đến Hộ bộ Hữu thị lang, Binh bộ Tả thị
lang, Tham chính sứ trấn Sơn Nam.
7. Lê Văn Thông, đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Quý Mùi niên
hiệu Quang Hưng thứ 6 (1583) vua Lê Thế Tông. Làm quan đến Binh khoa
cấp sự trung.
8. Ngô Trạch, đậu Phó bảng khoa Kỷ Mão niên hiệu Tự Đức thứ
32 (1879). Làm quan đến Đốc học Thanh Hóa.

13
9. Hoàng Nghĩa Vĩ, đậu Hương cống năm Cảnh Hưng thứ 37, đậu
Tiến sĩ năm Cảnh Hưng thứ 45 (1784). Con đường hoạn lộ chưa rõ.
10. Ngô Đình Hy, đậu Tiến sĩ đời Lê, chưa rõ khoa nào, đời nào và
con đường hoạn lộ ra sao.
Trên đây là danh sách Tiến sĩ và Phó bảng tại đất Hưng Nguyên, trên

niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 10 (1829) quy định:

15
- Quan nhất phẩm: dùng thứ giấy rắc vàng hạng nhất, cao 1 thước 4
tấc, dài 4 thước 5 tấc, mặt vẽ rồng to mây kín, rồng nhiễu 4 mặt, mặt sau vẽ
tứ linh.
- Quan nhị, tam phẩm: dùng giấy rắc bạc mạ vàng hạng nhì, cao 1
thước 3 tấc, dài 4 thước, mặt giấy vẽ rồng to mây kín, 4 chung quanh vẽ liên
vân, mặt sau vẽ lân, phượng.
- Quan tứ, ngũ phẩm: dùng thứ giấy rắc bạc mạ vàng hạng ba, cao 1
thước 3 tấc, dài 3 thước 5 tấc, mặt giấy vẽ rồng to mây thưa, 4 chung quanh
vẽ hoa văn hoa dây, mặt sau vẽ cổ đồ.
- Quan lục, thất phẩm: dùng giấy rắc bạc hạng bốn, cao 1 thước 2 tấc,
dài 3 thước 2 tấc, mặt giấy vẽ long vân, 4 chung quanh vẽ hoa văn liên đằng.
- Quan bát, cửu phẩm: dùng thứ giấy rắc bạc hạng năm, cao 1 thước 2
tấc, dài 3 thước 1 tấc, mặt giấy vẽ giao long và mây, 4 chung quanh vẽ hoa
văn liên đằng.
Đến năm thứ 13 (1832) vua Minh Mệnh lại quy định: “ … quan nhất
phẩm nguyên dùng giấy hạng nhất, quan nhị phẩm nguyên dùng giấy hạng
nhì, quan tam phẩm nay nên dùng giấy hạng ba, quan tứ phẩm nên dùng
giấy hạng tư, quan ngũ phẩm và chánh lục phẩm như đồng tri phủ kinh diên
tri huyện, tòng lục phẩm như các huyện tri huyện, đều dùng giấy hạng năm”
[7, tập 3, tr. 48, 49]
2.1.2. Hiện trạng sắc phong tại huyện Hưng Nguyên.
Theo kết quả điền dã tại 10 nhà thờ, đền thờ trên địa bàn huyện người
nghiên cứu đã sưu tầm được 111 đạo sắc phong trong đó có 31 đạo là sắc
phong cho thần, 70 đạo là sắc phong cho nhân vật. Sắc phong có niên đại
sớm nhất là sắc phong có niên đại Thuận Bình năm thứ 7 (1555), sắc phong
muộn nhất là sắc phong niên đại Bảo Đại năm thứ 18 (1943). Theo khảo sát
từng di tích cho thấy, hiện tại nhà thờ Đinh Bạt Tụy còn giữ lại 36 đạo sắc


17
Niên hiệu Thời kỳ nắm quyền số sắc phong
Vĩnh Khánh (Lê Duy Phương) 1729 – 1732 2 đạo
Cảnh Hưng (Lê Hiển Tông) 1740 – 1786 8 đạo
Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) 1793 – 1801 4 đạo
Gia Long (Nguyễn Thế Tổ) 1802 – 1819 1 đạo
Minh Mệnh (Nguyễn Thánh Tổ) 1820 – 1840 2 đạo
Thiệu Trị (Nguyễn Hiến Tổ) 1841 – 1847 3 đạo
Tự Đức (Nguyễn Dực Tông) 1848 – 1883 10 đạo
Đồng Khánh (Nguyễn Cảnh Tông) 1886 – 1888 7 đạo
Thành Thái (Nguyễn Thành Thái) 1889 – 1907 10 đạo
Duy Tân (Nguyễn Duy Tân) 1907 – 1916 10 đạo
Khải Định (Nguyễn Hoằng Tông) 1916 – 1925 8 đạo
Bảo Đại (Nguyễn Bảo Đại) 1925 -1945 2 đạo
Từ kết quả trên người nghiên cứu có thể đưa ra một số đánh giá sau:
- Hiện nay trên địa bàn huyện Hưng Nguyên có 61 di tích, nhưng chỉ
còn lại số ít các di tích giữ lại được những bản sắc phong quý giá này.
Nguyên nhân dẫn đến sự việc đó là do bị đánh cắp, do chiến tranh, thiên tai,
và do cách bảo quản của nhân dân. Những sắc phong còn lại thì cũng đã hư
hỏng rất nhiều. Có những đền thờ như đền thờ Thánh Vương Bạch Đế, đền
thờ đức thánh Khổng Lồ, nhà thờ Trạng Nguyên Bạch Liêu thì hầu hết các
đạo sắc đã hư hỏng rất nặng, có những đạo không còn đọc được chữ. Bên
cạnh đó, tại một số di tích, nhà thờ đền thờ họ tài liệu sử về các vị được thờ
phụng không còn hoặc người lưu giữ không có mặt tại địa phương. Chính
vì thế, quá trình khảo, cứu để thực hiện đề tài của người nghiên cứu đã gặp
nhiều khó khăn và hạn chế.
- Qua quá trình khảo sát thực tế, người nghiên cứu nhận thấy hầu hết
tất cả những bản sắc phong trên địa bàn huyện Hưng Nguyên đều được cất
giữ trong những tráp gỗ hình chữ nhật, một số nhà thờ lại cất giữ trong một

19 tháng 3 (1645) đã ban sắc cho Mai Lĩnh Hầu Đinh Bạt Tuấn, con trưởng
của ngài.

19
Các niên hiệu như Vĩnh Tộ thứ 8, ngày 18 tháng 12 (1626); niên hiệu
Phúc Thái thứ 3, ngày 19 tháng 3 (1645); niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5, ngày
15 tháng 12 (1709); niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 15, ngày 8 tháng 4 (1720);
niên hiệu Cảnh Hưng thứ 46, ngày 17 tháng 9 (1785) đã lần lượt phong sắc
cho con cháu, hậu duệ của ngài.
Niên hiệu Duy Tân thứ 3, ngày 11 tháng 8 (1909) đã tăng sắc phong
hợp thần cho 4 vị thần của thôn Đông, xã Bùi Ngõa, huyện Hưng Nguyên,
trong đó có ngài Đinh Bạt Tụy và con trai ngày là Đinh Bạt Tuấn.
Những đạo sắc còn lại là do các đời vua phong tặng cho Tướng Công
Đinh Bạt Tụy để ca ngợi công lao và tưởng nhớ tới ngài.
- Tại đình làng Bùi Ngõa có 5 đạo sắc thờ nhân vật. Tất cả các đạo
sắc này đều là sắc phong cho dòng họ Đinh Bạt Tụy
(1)
. Cụ thể là:
Niên hiệu Quang Hưng thứ 10, ngày 5 tháng 11 (1587); niên hiệu
Cảnh Hưng thứ 44, ngày 16 tháng 7 (1783); niên hiệu Tự Đức thứ 3, ngày
15 tháng 11 (1850) đã phong sắc cho Tướng Công Đinh Bạt Tụy.
Niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 8, ngày 18 tháng 12 (1626) phong sắc cho
Đinh Bạt Sĩ.
Niên hiệu Đức Long nguyên niên, ngày 6 tháng 5 (1629) phong sắc
cho Đinh Bạt Tuấn.
- Tại nhà thờ dòng họ Lê Sĩ có 7 đạo sắc thì đều là sắc phong cho các
nhân vật trong dòng họ. Đó là sắc phong cho thủy tổ Lê Sĩ Triệt, cho Lê Sĩ
Cẩn (con trưởng Lê Sĩ Triệt), hai vị này đều đậu Tiến sĩ ở đời nhà Lê và có
công lớn trong công cuộc xây dựng đất nước, dẹp giặc ngoại xâm.
Chú thích:

Niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 8, ngày 24 tháng 7 (1626) cấp sắc cho Hoàng
Thanh Mai.
Niên hiệu Đức Long thứ 7, ngày 24 tháng 10 (1635); niên hiệu Thịnh
Đức thứ 5 ngày 25 tháng 7 (1657);niên hiệu Cảnh Trị thứ 3, ngày 6 tháng 12
(1665) đã cấp sắc tặng cho Hoàng Đăng Bạt.

21
Niên hiệu Cảnh Trị thứ 3, ngày 6 tháng 12 (1665); niên hiệu Vĩnh Trị
thứ 9, ngày 23 tháng 12 (1684) đã cấp sắc cho Hoàng Đăng Tướng.
Qua khảo sát chung ta có thể thấy sắc phong nhân vật ở Hưng Nguyên
hầu hết là sắc phong cho các nhân vật học tài đỗ đạt ra làm quan giúp nước,
duy chỉ có sắc ở nhà thờ Đinh Bạt Tụy là có sắc phong cho người thân thích
trong gia đình ông.
2.2.2. Sắc phong thần.
Trên địa bàn huyện Hưng Nguyên qua khảo sát người nghiên cứu
được tiếp xúc với 31 đạo sắc phong cho các vị thần. Trong đó có phong cho
Bản cảnh Thành Hoàng, Cao Sơn Cao Các, Liễu Hạnh Công Chúa, Song
Đồng Ngọc Nữ,… cụ thể như:
- Đình Bùi Ngõa thờ Bản cảnh Thành hoàng, Cao Sơn Cao Các, nữ
thần Bạch Y Công Chúa, Công chúa Liễu Hạnh.
- Đền Xuân Hòa thờ Cao Sơn Cao Các, Bản cảnh Thành hoàng.
- Đền thờ đức thánh Khổng Lồ thờ Lam Giang thần.
- Đền Thánh Vương Bạch đế thờ Thánh Vương Bạch đế và Bản cảnh
Thành hoàng.
- Nhà thờ họ Ngô thờ Lam Thành Thần Nữ .
2.3. Hình thức sắc phong tại huyện Hưng Nguyên.
2.3.1. Hoa văn trang trí.
Để thể hiện sự uy nghi của triều đại mình, khi mỗi một triều đại giành
được ngôi báu, có ngày lễ lớn đều thực hiện hình thức ban cấp sắc cho các
vị thần và các vị quan đã có công giúp đỡ đất nước, bảo vệ nhân dân.

đầu sắc những đám mây tụ lại thành hình chữ thọ, trên nền sắc có những
đường nhỏ lượn sóng theo thân rồng được kết từ những chuỗi chấm tròn
nhỏ. Niên hiệu được đài lên cao ngang với chữ sắc đầu tiên. Ấn được đóng
giữa chữ thứ hai của niên hiệu.

23
- Niên hiêu Cảnh Trị: nền giấy màu vàng sẫm, vẽ long đằng hồi thủ,
rồng ẩn hiện giữa những đám mây, rồng đầu nhỏ mắt to chân dẫm mây,
những đám mây bằng những vòng tròn lớn đậm được vẽ theo thân rồng uốn
lượn, phía đầu sắc những chuỗi hạt tròn nhỏ kết thành những vòng xoáy lớn,
những chuỗi hạt nhỏ cũng được phân bố trên toàn nên sắc. Nền sắc có rắc
ngân nhũ nhưng nhìn nhã, không nổi bật. Còn niên hiệu và ấn thì cũng viết
như sắc thời Thịnh Đức.
- Niên hiệu Chính Hòa: nền giấy vàng tươi, rắc ngân nhũ, vẽ long
đằng hồi thủ, rồng đầu nhỏ mắt nhỏ đang hướng về quả cầu mây được năm
chấm tròn kết thành. Bốn góc của sắc có bốn vòng tròn lớn được những đám
mây kết thành. Nền sắc có những chuỗi hạt nhỏ tạo thành những đường gợn
sóng. Sắc viết đài chữ “Khâm”, “Đại”, niên hiệu cũng được đài lên. Ấn đóng
vào giữa chữ thứ hai của niên hiệu.
- Niên hiệu Vĩnh Thịnh: màu sắc và hoa văn trang trí cũng như sắc
thời Chính Hòa. Viết đài chữ “Đại”, “Nguyên”, “Tiên”.
- Niên hiệu Vĩnh Khánh: nền vàng tươi, có rắc ngân nhũ, vẽ long
đằng hồi thủ, đầu rồng nhỏ hướng về quả cầu mây được kết thành từ năm
vòng tròn nhỏ, ở bốn góc, các hình tròn nhỏ chụm lại thành bốn vòng tròn
lớn, rồng uốn lượn trên nền sáng rõ rệt, nền sắc có những chuỗi hạt nhỏ uốn
lượn theo thân rồng. Ấn được đóng ngay giữa chữ thứ hai của niên hiệu, viết
đài chữ “Tự”.
- Niên hiệu Cảnh Hưng: nền sắc vàng tươi có khi là màu sẫm, có rắc
ngân nhũ, sắc vẽ long đằng hồi thủ, đầu rồng hướng về chữ thọ, đầu rồng to
mắt dữ, bốn góc của sắc có bốn chữ thọ vuông lớn, hầu hết sắc không có

mà còn có một chữ thọ ngay dưới thân rồng, đối diện với chữ thọ đầu rồng
đang hướng về.
- Niên hiệu Duy Tân: nền sắc vàng có rắc ngân nhũ, vẽ long đằng hồi
thủ, đầu rồng đang hướng về chữ thọ, bốn góc của sắc có bốn chữ thọ hoa
văn ở bốn góc được trang trí tinh tế sắc nét, trong mỗi chữ thọ đều có cánh
chim phượng, có những sắc ngân nhũ được rắc kín cả mặt sắc nhìn đậm nét,

25

Trích đoạn Sắc phong nhà thờ Đinh Bạt Tụy 1 Đinh Bạt Tụy và nhà thờ họ Đinh.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status