nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và triết học - Pdf 27

1
A. MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, trên bình diện nhận thức, văn nghệ và triết học có quan hệ
khăng khít. Văn nghệ giống triết học ở chỗ muốn nhận thức những vấn đề phổ quát của
tồn tại con người, tìm kiếm con đường giải phóng con người, cắt nghĩa thế giới. Chiến
tranh và hòa bình của L.Tônxtôi, thơ Nguyên Trãi, thơ Nguyễn Du chứa đựng các khái
quát sâu sắc về con người và lịch sử. Sau triết học, văn học là hình thái ý thức xã hội giàu
triết lí nhất. Triết học ảnh hưởng rất lớn đến văn học. Chẳng hạn triết học Nho, Phật, Lão
đối với văn học phương Đông, triết học duy lí đối với chủ nghĩa cổ điển Pháp, chủ nghĩa
thực chứng đối với chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin với văn học hiện thực xã
hội chủ nghĩa, chủ nghĩa hiện sinh với văn học hiện sinh. Nhìn chung triết học duy vật
tiến bộ thường đưa văn học tới khuynh hướng tiến bộ, triết học duy tâm thường dễ đưa
văn học thoát li đời sống.
Những vấn đề cụ thể trong triết học cũng có mối liên hệ chặt chẽ với văn học. Tồn tại
xã hội và ý thức xã hội là một trong những vấn đề cơ bản của triết học. Khi xem xét vấn
đề này ta sẽ thấy được mối liên hệ giữa triết học và văn học rõ ràng hơn. Một mặt, ta thấy
tồn tại xã hội, hay nói cách khác là hiện thực cuộc sống chính là cội nguồn của tác phẩm
văn học. Văn học là một hình thái ý thức xã hội, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời
sống, bày tỏ một quan điểm, một cách nhìn, một tình cảm đối với đời sống . Mặt khác,
văn học cũng như nghệ thuật nói chung, không giống các hình thái ý thức xã hội khác bởi
có những đặc thù riêng mang tính thẩm mĩ về đối tượng, nội dung và phương thức thể
hiện. Đặc biệt, ở tác phẩm văn học chúng ta còn thấy vai trò rất lớn của nhà văn – chủ thể
thẫm mĩ trong quá trình sáng tác văn học.
Vậy ở tiểu luận này, chúng ta sẽ cùng xem xét văn học nghệ thuật với tư cách là một
hình thái ý thức xã hội, và đặc biệt đó là một hình thái ý thức xã hội đặc thù.
2
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỒN TẠI XÃ HỘI – HIỆN THỰC CUỘC SỐNG LÀ CỘI
NGUỒN TÁC PHẨM VĂN HỌC
1. Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực và thời đại.
1.1. Nguồn gốc của văn nghệ

Các học thuyết cổ xưa ở phương Đông cho rằng cái quyết định cho sự thịnh suy của
văn nghệ là do “đạo”, “đức”, “khí”, “lễ”, còn theo học thuyết phương Tây thế kỉ XVIII –
XIX là do “hoàn cảnh”, “môi trường”,”chủng tộc”…. Các học thuyết đó không phân biết
được yếu tố xã hội và tự nhiên, vật chất và ý thức, cái quyết định và cái phát sinh, do đó
không tìm ra nguyên nhân đích thực chi phối sự tồn tại và phát triển của văn nghệ. Phân
biết tồn tại xã hội và ý thức xã hội, xác định tồn tại xã hội là toàn bộ đời sống vật chất
của con người, tách quan hệ sản xuất trong tồn tại xã hội ra như là một cơ sở hạ tầng trên
đó dựng lên một kiến trúc xã hội gồm pháp quyền, chính trị, nhà nước và các hình thái ý
thức xã hội phù hợp với nó, chư nghĩa Mác đã cung cấp một lí luận khoa học để lí giải
nguyên nhân khách quan của sự phát triển văn nghệ cũng như vai trò của nó trong đời
sống.
Theo đó, cơ sở hạ tầng là cái nền tảng, cái quyết định những cái còn lại thuộc kiến
trúc thượng tầng. Và mặt khác, văn học nghệ thuật cũng như các hình thái ý thức xã hội
khác, đều phụ thuộc vào cơ sở đó, được lí giải trên cơ sở đó.
Xét về nội dung, nội dung của văn học đều do cơ sở kinh tế và trình độ sản xuất quy
định.
Chẳng hạn, thời nguyên thủy, do sản xuất thấp kém, tổ chức xã hội trùng với tổ chức
sản xuất, nội dung cơ bản của thần thoại là cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên. Đó là
Nữ Oa và trời trong thần thoại Trung Quốc, là Mộc tinh trong thần thoại Việt Nam.
Xã hội phong kiến trên cơ sở chế độ tư hữu ruộng đất của địa chủ, lãnh chúa, vương hầu,
hoàng đế làm nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa nông nô và địa chủ, giữa các dòng họ trị
vì, giữa tộc người đi xâm lược và tộc người bị xâm lược. Cơ sở xã hội đó đã quy định tư
4
tưởng tôn quân, chọn chủ mà thờ, dẫn đến cuộc đấu ranh giành ngôi chính thống như Sử
kí của Tư Mã Thiên hay Tam quốc chí diễn nghĩa, Đông chu liệt quốc đã miêu tả.
Sự ra đời của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự phát triển của thành thị, công
nghiệp, buôn bán làm nảy sinh nhu cầu giải phóng cá tính chống lại quân quyền, thần
quyền. Quá trình tích lũy tư bản chủ nghĩa mang lại cho văn học những mẩu người keo
kiệt mới, những kẻ cho vay nặng lãi, những nạn nhân của sức mạnh đồng tiền như trong
Tấn trò đời của Bandắc.

phận, một cảm quan của giai cấp”. Và tính giai cấp của nhà văn cũng biểu hiện một cách
phức tạp.
Ta có thể nói tính gia cấp không chỉ xuyên thấm trong các tác phẩm văn học mà còn
trong tiếp nhận và thưởng thức. Trong quá trình này tác phẩm văn học là một hiện tượng
khách quan, vốn dĩ thấm nhuần tư tưởng giai cấp, còn chủ quan ở đây là công chúng bạn
đọc cũng thuộc về một giai cấp nhất định.
Biểu hiện của tính giai cấp trong tác phẩm văn học
Đầu tiên là về đề tài, đề tài mà nhà văn chọn, xét đến cùng đều liên quan đến lập
trường quan điểm giai cấp, bao gồm cả quan điểm mỹ học của họ. Các nhà văn mang
nặng ý thức hệ phong kiến thì thường viết về các đề tài gọi là cao quý, chúng ta thường
thấy xuất hiện trong tác phẩm của họ như “tứ linh” (long, li, quy, phượng), “tứ quý” (mai,
lan, cúc, trúc). Chủ nghĩa cổ điển phục nhà nước phong kiến tập trung ở phương tây,
thường chia đề tài làm hai loại cao quý và thấp hèn. Nhìn rộng ra, giai cấp thống trị
thường không muốn nhìn thẳng vào hiện thực. Các nhà văn phát ngôn cho họ thường lẩn
tránh những vấn đề nón hổi trong xã hội.
Tính giai cấp còn được bộc lộ ở tư tưởng chủ đề. Chính khi giải quyết vấn đề nêu
ra trong tác phẩm, thì tư tưởng tình cảm, máu thịt của nhà văn mới thực sự bị lay động
đến tận gốc rễ. Khái Hưng trong một số tiẻu thuyết có đề cập đến quan hệ giữa nông dân
và địa chủ. Nhưng cái vỏ mị dân không đủ để che đậy sự lừa bịp bên trong. Trong gia
6
đình Khái Hưng đã dựng nên hình ảnh một cặp vợ chồng địa chủ trẻ tuổi đầy lòng từ
thiện, lấy việc chăm lo cải thiện đời sống tá điền làm sự nghiệp và lẽ sống. Đây là một
chủ trương cải lương nhằm đưa ra để đối ứng thậm chí thách thức với con đường cách
mạng mà những người cộng sản Việt Nam vạch ra cho quần chúng nông dân. Ngược lại
Ngô Tất Tố với tiểu thuyết Tắt đèn đã đứng trên lập trường tiểu tư sản tiến bộ, kiên quyết
bênh vực quyền lợi của nông dân, vạch trần những ách đè nén bất công, phơi bày bộ mặt
của giai cấp địa chủ phong kiến.
Tính giai cấp còn bộc lộ trong việc xây dựng nhân vật, đặc biệt là nhân vật lí
tưởng. Mỗi giai cấp đều căn cứ vào điều kiện sống và vai trò lịch sử của mình, nêu ra
những yêu cầu cao về tư tưởng và đạo đức cho mẫu người lí tưởng của giai cấp mình.

Đời sống xã hội không ngừng thay đổi, không ngừng biến đổi. Sự ổn định của xã hội
chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân
nó. Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến
đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi; sự biến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn,
nhanh hơn, và điều này cho thấy rõ hơn là sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó
đã trở thành chuyện thường ngày. Mọi cái đều biến đổi và xã hội cũng giống như các hiện
thực khác, không ngừng vận động và thay đổi. Tất cả các xã hội đều ở trong một thực
trạng đứng yên trong sự vận động liên tục. khi đời sống xã hội thayđổi thì nội dung, hiện
thực được phản ánh trong văn học cũng có sự thay đổi.
Nền văn học Trung Đại ( thế kỉ XX – XIX) sự thống trị của xã hội phong kiến, nền
kinh tế còn lạc hậu, chịu ảnh hưởng chủ yếu là văn hóa từ Trung Quốc, do nước ta nhiều
năm bị phương Bắc đô hộ, nhân dân ta chịu sự áp bức cùng kiệt, đặc biệt là người phụ nữ
sống trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, không phải vô cớ mà nhiều tác phẩm
văn học ra đời trong thời kì này lại trở thành kiệt tác, là tiếng kêu oán thán cho than phận
người phụ nữ như Chinh Phụ Ngâm, Cung oán Ngâm, Truyện Kiều của Nguyễn Du hay
những bài thơ của “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương…
Những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy người phụ nào vào cảnh cô đơn, phải xa
chồng: “Xanh kia thăm thẳm tầng mây
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này”
Hay đó là người phụ nữ sống trong cảnh chồng chung:
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”
Đó là tiếng kêu đứt ruột của người phụ nữ:
“Đau đớn thay phận đàn bà
9
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, tương truyền bài văn tế này ra
đời sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước
âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng
triệu linh hồn, ông đã cho thấy được thực trạng đất nước lúc bấy giờ.

cho Phật giáo mà lại đi xây hàng dãy nhà xâm; những anh làm chủ ba bốn tiệm khiêu vũ
mà đánh con gái hộc máu về tội ăn mặc tân thời; những anh vừa là chủ hiệu xe đám ma,
và là chủ dược phong, bán tem cho Hội Bài trừ bệnh lao, mà lại bán cả thuốc lào mốc,
v.v Tóm lại, tất cả những người tự xưng là “thượng lưu” nhưng kỳ thực chỉ biết có đồng
tiền và danh hão, dùng mọi cách đầu cơ, mọi ngón bịp bợm. Theo tác giả thì đó là “những
mẫu” hàng đặc biệt của công giới và thương giới". Ai từng sống ở Hà Nội lâu năm, nhất
là vào khoảng 1930-1939, chắc có thể tìm thấy ở những nét sơ sài trên, một con người có
thật, bằng xương bằng thịt, đã làm giàu một cách trắng trợn như thế và cũng đã trở nên
những tai to mặt lớn của xã hội đương thời.
Trong các tiệm hút của Hàng Buồm, hay trong các nhà hát ả đầu phố Khâm Thiên,
Vũ Trọng Phụng lại có dịp cho chúng ta biết một hạng người khác, hạng người truỵ lạc.
Không kể Vạn tóc mai, đứa con hoang của Nghị Hách, xỏ lá, xỏ xiên, nói xấu bố với nhà
báo để “làm tiền” bố, có đủ mặt “các nhân viên làng bẹp, những thiếu phụ mặt bự những
phấn, môi tái nhợt, tóc búi, cổ đeo kiềng, mặc áo tân thời cổ bánh bẻ”; những tên lính da
trắng, da đen; một mụ đầm già. Rồi những ông giáo, ông cử nhân Tây học hẳn hoi, bề
ngoài đạo mạo, nghiêm nghị, nhưng đến đây thì giở đủ trò đểu cáng. Tác giả Giông tố
dùng ngòi bút phóng sự của mình để tả cuộc đời bẩn thỉu dâm đãng của thành phố Hà Nội
dưới thời Pháp thuộc.
11
Đã hết đâu! Ngoài những cảnh “lầm than” công khai, còn những cảnh “lầm than” kín đáo
hơn. Một bà nhà “tử tế” ngoài bốn mươi, chuyên môn nhảy đồng bóng và nằm với anh
cung văn; một cô thiếu nữ tân thời hẹn hò với trai trong khách sạn.
Còn chốn quan trường thì như thế nào? Một ông quan thuộc địa “cáo già” dùng
những lời nói ngọt ngào, những hành động khôn khéo để phỉnh dân, bóc lột dân cho dễ:
một ông tuần và một ông quan huyện chuyên bênh vực những người có của. Dám nói đến
các quan Tây, trong các cuốn tiểu thuyết, thì trước đây, có lẽ chỉ Vũ Trọng Phụng mới có
gan ấy. Đọc những đoạn tác giả tả Nghị Hách, gặp quan sứ, hoặc đoạn các quan Tây đến
dự buổi tiệc của Nghị Hách sau cuộc phát chẩn, chúng ta thấy cái cười mỉa mai của tác
giả dưới những câu giả đò ngây thơ. Ngoài những quan cai trị đương chức, đương quyền,
lại có những ông quan cai trị đã về hưu, nhưng để ý việc doanh thương từ lâu, và hiện

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên ngôn
độc lập nhưng nền độc lập đứng trước những thách thức to lớn. Cũng như bối cảnh xã hội
lúc ấy, văn học vừa diễn ra xu hướng hội tụ, vừa tiếp tục sự phân hóa của các khuynh
hướng văn học
.
Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ năm 1946 đã mở đầu cuộc chiến
tranh kéo dài 9 năm với Pháp. Trong thời kỳ này, văn học đã được xây dựng để phục vụ
cho cuộc chiến đấu của người Việt Nam mà hạt nhân là Việt Minh. Văn hóa được định
hướng theo phương châm do Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định từĐề cương văn hóa
Việt Nam năm 1943 là Dân tộc - Khoa học - Đại chúng còn đối với văn học thì làm cho
xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng. Trong kháng chiến chống Pháp, khẩu
hiệu Kháng chiến hóa văn hóa - Văn hóa hóa kháng chiến của Hồ Chí Minh cũng phản
ánh mục tiêu và đi kèm với nó là phương pháp chi phối văn hóa nói chung và văn học nói
riêng trong giai đoạn ấy. Về phong cách, để có thể kháng chiến hóa văn hóa, văn học phải
nhằm đến đối tượng quần chúng đông đảo mà chủ yếu là nông dân và do vậy văn học giai
đoạn này được hướng đến phong cách hiện thực, đại chúng.
13
Trong các tác phẩm văn học thời kì này chúng ta sẽ bắt gặp những người lính vệ quân,
những người nông dân quả cảm, kiên cường sẵn sàng hi sinh vì cuộc cách mạng dân tộc.
Nội dung văn học giai đoạn này không còn là xã hội với những chiêu trò lố lăng nữa, mà
đó là xã hội của một đất nước đang bước vào cuộc chiến vĩ đại giành tự do, độc lập.
Đó có thể là những người lính từ làng quê nghèo khó:
“ Quê hương anh nước mặn, đồng chua,
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Sẵn sàng đối mặt với bao gian khổ và tất nhiên cả sự hy sinh:
“Tây Tiến binh đoàn không mọc tóc,
Quân xanh màu lá giữ oai hùm”
Hay “Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Hay đó có thể là những người mẹ tuyệt vời:

kiệt, nhân hậu, hiền lành những tính cách ấy được tái hiện trong những hoàn cảnh, môi
15
trường cụ thể, trong cuộc đời và số phận riêng biệt, cá lẻ. Nếu như đạo đức học quan tâm
tới thói tham lam ích kỉ của con người như là những nét đạo đức phi chuẩn mực nói
chung thì văn học cũng chú ý tới sự keo kiệt của con người thông qua một cuộc đời, một
số phận, một tình huống cá biệt (Đến chết vẫn còn hà tiện, Ăn cá gỗ, Lão hà tiện) với
những ý nghĩ, việc làm, tình cảm của họ.
Thứ hai, con người trong văn học được tái hiện trong tính toàn vẹn, cảm tính và sinh
động. Ví dụ như hình ảnh chị Trần Thị Lí chẳng hạn. Báo chí đã từng nêu tấm gương anh
dũng, kiên trinh, sắt son của chị đối với cách mạng, dù chị đã phải trải qua bao tra tấn tù
đày, như là hình ảnh những con người anh hùng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, sự
nghiệp chính trị của dân tộc. Còn đối với nhà thơ Tố Hữu, người nghệ sĩ, tấm gương anh
hùng ấy được tái hiện trong từng chi tiết đời sống cụ thể, sinh động, vừa thực, vừa hư:
Em là ai, cô gái hay nàng tiên? Em có tuổi hay không có tuổi, Mái tóc em đây hay là mây
là suối, Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông, Thịt da em hay là sắt là đồng?
Thứ ba, con người trong văn học không được nhìn nhận một cách khách quan tuyệt
đối như trong các ngành khoa học khác, mà được miêu tả dưới một quan niệm về đời
sống, một lí tưởng, một tình cảm thẩm mĩ nhất định, một cảm hứng mãnh liệt của nhà
văn. Con người trong văn học do đó còn được trình bày theo những quy luật thẩm mĩ
nhất định. Ví như hình tượng những nhân vật tạo dựng thế giới đều mang nét dáng kì vĩ:
Nữ Oa, Lạc Long Quân, Thần Trụ Trời ). Hơn nữa các nhân vật còn được tái hiện trong
mối cảm tình (phủ nhận và khẳng định) của tác giả. Đây là một điều mà các ngành khoa
học khác hoàn toàn tối kị.
1.1.2. Đặc trưng nội dung
Nội dung của văn học cũng chính là cuộc sống, nhưng là cuộc sống đã được ý thức,
được chọn lọc, đánh giá theo một tư tưởng, quan điểm, cảm hứng về đời sống và thẩm mĩ
nhất định.
16
1.2. Hình tượng nghệ thuật
Là một phương thức biểu đạt nhận thức, tư tưởng, tình cảm một cách đặc thù của

một quan hệ. Chúng liên kết với nhau, tạo thành một hình tượng toàn vẹn, hiện lên rõ nét
trong tâm trí người đọc. Chẳng hạn, cánh buồm lẻ loi đơn độc tan biến vào bầu không
cùng dòng sông cuồn cuộn chảy ngang trời đã diễn tả được nỗi buồn và sự cô đơn của
con người trong cảnh biệt li trong thơ Lí Bạch. Hêghen gọi các chi tiết trong tác phẩm là
những ‘con mắt’, qua đó chẳng những thấy được thế giới nghệ thuật mà còn thấy được
‘một tâm hồn tự do trong cái vô hạn’ của tác giả. Như vậy, tạo hình là để biểu hiện, và
muốn biểu hiện phải nhờ tạo hình.
1.2.3. Tính quy ước và sáng tạo của hình tượng
Trong các chi tiết tạo hình luôn có sự mã hóa các tư tưởng, cảm xúc xã hội, thẩm mĩ.
Mỗi thời kì văn học dân tộc, đều có cách mã hóa khác nhau tạo thành ngôn ngữ nghệ
thuật riêng của từng thời kì. Chẳng hạn, nếu như trong văn học dân gian Việt Nam,
thuyền tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, trôi dạt, vô định, thì ở phương Tây xưa,
thuyền lại tượng trưng cho sự phiêu du của linh hồn sang thế giới bên kia. Từ đó ta thấy
nguồn gốc phương Tây của hình ảnh thuyền hồn trong bài 14 tháng 7 của Tố Hữu hoặc
trong câu thơ của Huy Cận: Hiu hiu gió đẩy thuyền lên biển trời, Chở hồn lên tận chơi
vơi. Như vậy,
18
hình tượng có sự vận động qua lịch sử, các kí hiệu thẩm mĩ có khác nhau qua từng thời
kì. Muốn hiểu hình tượng nghệ thuật, đòi hỏi phải có sự giải mã các kí hiệu nghệ thuật, kí
hiệu thẩm mĩ.
Nhưng bản chất của kí hiệu lại có xu hướng cố định hóa, trở thành công thức, dễ rơi
vào sáo mòn. Vì vậy kí hiệu phải luôn được đổi mới, cắt nghĩa mới, sáng tạo kí hiệu mới.
Một trong những cách làm cho hình tượng luôn mới là cấu trúc lại các kí hiệu thẩm mĩ
quen thuộc, làm cho nó có thêm những ý nghĩa mới. Cũng hình tượng thuyền và bến như
trong ca dao xưa, nhưng trong bài thơ Lòng anh làm bến thu của Chế Lan Viên: Buổi
sáng em xa chi, Cho chiều mùa thu đến, Để lòng anh hóa bến, Nghe thuyền em ra đi,
chúng lại mang những ý nghĩa mới mẻ về vị trí, phẩm chất, biểu tượng.
1.2.4. Hình tượng chứa đựng tình cảm xã hội và lí tưởng thẩm mĩ
Hình tượng không phải là sự sao chép nguyên xi đời sống hiện thực mà còn mang sẵn
quan niệm, đánh giá về thế giới, chứa đựng một tư tưởng nhân sinh. Nỗi khát khao bắt

cảm chỉ nằm trong tiền đề sáng tác, còn trong văn học, tình cảm nằm ngay trong thành
phẩm sáng tạo.
Lỗ Tấn đã từng nói: “gặp những cái hay và đáng yêu thì họ ôm choàng lấy, nếu
gặp điều trái đáng giận thì họ sẽ bác bỏ Phải kịch liệt công kích cái sai như đã từng nhiệt
liệt chủ trương cái đúng. Ôm chặt người yêu thế nào thì phải nghiến chặt kẻ thù như thế,
như Écquyn nghiến chặt người khổng lồ Ăngtê, anh ta nhất định làm đứt gân xương kẻ
thù mới thôi”.
Trí tưởng tượng phong phú cũng là tư chất nghệ sĩ nổi bật ở nhà văn. Gorki từng
nhấn mạnh tưởng tương là một trong những biện pháp quan trọng nhất để nhà văn xây
dựng nên hình tượng. Chính nhờ tưởng tượng mà nhà văn mới sống cuộc đời của hàng
20
trăm hàng ngàn nhân vật khác nhau. Banzac cảm nhận được sự rách rưới của nhân vật
trên lưng của chính mình và như mình đang đi đôi giày thủng của họ. Sự hòa nhập vào
nhân vật đến mức có khi nhà văn quên cả bản thân mình. Khi Phlôbe viết đến chỗ bà
Bôvải uống thuốc độc tự tử thì chính ông cũng cảm thấy trong miệng có mùi thạch tín và
rất buồn nôn.
Nhà văn là người có thói quen và năng khiếu quan sát tinh tế. Trí tưởng tượng nhà
văn có phong phú đến đâu cũng không thể phong phú bằng bản thân thực tế. Bản chất
con người và cuộc sống không phải lúc nào cũng bộc lộ rõ ràng qau những hiện tượng dễ
thấy. Chỉ có quan sát kĩ lưỡng nhà văn mới có thể phát hiện được những ý nghĩa sâu xa
trong từng chi tiết cùng những diễn biến đa dạng của nó. Các nhà văn lớn thường không
từ bỏ bất cứ một cơ hội nào có thể quan sát được những ngóc ngách đời sống. L.Tônxtôi
thường đi tàu hỏa với vé hạng bét để tiếp xúc được với những người nông dân.
Nhà văn là người có trí nhớ tốt. Nhà văn thuộc lòng những ấn tượng sinh động,
những chi tiết, những dấu hiệu cụ thể do mình đã từng quan sát, tưởng tượng, xúc động
đã từng đem lại. Banzac có thể nhớ rành rọt họ tên, lai lịch, hành động, ngôn ngữ, cử chỉ
của mấy nghìn nhân vật trong tiểu thuyết của mình. Gớt có thể nhắc lại rành rọt nội dung
một tác phẩm dang dở từ hơn ba mươi năm trước…
Nhà văn cũng thường bộc lộ cá tính rõ nét nhất trong lĩnh vực của mình. Bởi vì
văn học làm giàu cho xã hội không phải bằng số lượng của cải như sản xuất vật chất.

Nghệ sĩ mang một hệ thần kinh nhạy bén, trước một hiện tượng thẩm mĩ thường xúc
động mãnh liệt, dẫn đến khát khao bày tỏ những nhận thức, kinh nghiệm, ấn tượng, cảm
xúc của chính mình. Điều đó có được do bản chất giàu tình cảm của người nghệ sĩ. Tình
cảm là thái độ của con người trước hiện thực. Niềm kính phục, trân trọng cái cao cả, niềm
22
rung động trước cái đẹp, nỗi đau của những bi kịch, tiếng cười đối với cái thấp kém, xấu
xa, phi chuẩn mực là sự trả lời bằng tinh thần của con người đối với đời sống.
Phẩm chất giàu tình cảm khiến nghệ sĩ dễ rung động trước mọi sự kiện, biến cố, từ
quá khứ đến hiện tại. Nghệ sĩ có thể xúc động trước những sự kiện lớn lao của đất nước,
dân tộc, nhưng cũng động lòng trắc ẩn, chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn qua nhiều hiện
tượng đời sống và những số phận nhỏ bé bình dị. Tấm lòng dễ rung động trước hiện thực
ấy sẽ là động cơ, cội nguồn của sáng tạo. Mà tình cảm của nghệ sĩ thường được nâng lên
đến mức mãnh liệt. Mộng Liên Đường chủ nhân đã đánh giá mức độ tình cảm này trong
Truyện Kiều: “Lời văn tả ra hình như máu chẩy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ
giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột Nếu không
phải có cái con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có
cái bút lực ấy”.
Trực giác
Là khả năng nhận thức trực tiếp, không bằng suy luận của lí tính. Nói cách khác,
đó là việc tiếp nhận thế giới bằng trực cảm, qua những phán đoán cảm tính, trực tiếp,
nhanh nhạy, không có suy lí, phân tích, không thể hoặc rất khó chứng minh. Vì sao một
tiếng kêu vang lạnh cả trời, nụ tầm xuân nở ra xanh biếc, khi chia tay mắt đựng đầy
hoàng hôn? Ta chỉ gặp những liên hệ rất xa xôi mờ nhạt trong những kết cấu hình tượng
ấy. Trực giác nghệ thuật, do đó, là khả năng nhanh nhạy trong việc nắm bắt các bản chất
và quy luật đời sống và thể hiện nó bằng các hiện tượng nghệ thuật độc đáo. Với trực giác
thẩm mĩ, các nhà văn tạo được những hình ảnh và viết được những câu thơ câu văn đặc
sắc, đầy hình ảnh, đầy cảm giác, vừa lung linh huyền ảo, vừa phi lí vừa mông lung song
cũng đầy sức quyến rũ: gươm mài bóng trăng (Đặng Dung), hai sắc hoa tigôn (TTKH),
cuộc chia li màu đỏ (Nguyễn Mỹ),…
Tưởng tượng

24
rụng (Ônga Bécgôn) là một cấu tứ đẹp: trái tim nhậy cảm, dễ bị tổn thương tương đồng
với hàng cây mùa lá rụng. Bài thơ trên đỉnh Côn Sơn của Trần Đăng Khoa cũng vậy:
đứng trên núi, vướng hương đồng, chiều ở nhà, lồng lộng gió núi. Hai nơi hoán đổi cho
nhau, nơi này gợi nhớ nơi kia. Nhưng cũng có khi tứ chỉ là một ý nhỏ, được cấu trúc
trong một âm thanh, một hình ảnh đẹp: Mộng anh hường tìm môi em bói đỏ, Giàn trầu
già, khua những át cơ rơi (Lê Đạt).
Trong cấu tứ, các mẫu gốc, các môtíp thần thoại, các kí ức tuổi thơ có tác động rất
mạnh. Mẫu gốc là những kí ức tập thể của nhân loại hay dân tộc tồn tại trong vô thức cá
nhân. Nó cung cấp những chủ đề, những mẫu hình tư duy mà người đời sau sử dụng một
cách vô thức. Chẳng hạn các cuộc lên trời, xuống địa ngục, bé lọ lem bị hành hạ, cùng
một bọc trứng nở ra Một nhà nghiên cứu Mỹ cho thấy mẫu gốc Narkios, một chàng trai
trẻ đẹp trong thần thoại Hi Lạp, được mọi người yêu nhưng chẳng yêu ai cả, mà chỉ yêu
chính mình, đã đi vào rất nhiều sáng tác của Sêkhốp như Quyết đấu, Chim hải âu Trong
một truyện Từ Thức gặp tiên, Nguyễn Dữ đã sử dụng không biết bao nhiêu mẫu gốc
trong kho tiên thoại Trung Quốc. Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, đã sử
dụng rất nhiều mẫu gốc của chuyện dân gian và truyện dã sử Trung Quốc. Việc sử dụng
mẫu gốc cũng rất quan trọng, dễ có được những rung cảm thẩm mĩ mang đặc điểm truyền
thống, dân tộc. Trong thơ Tố Hữu, ta gặp rất nhiều những hình ảnh quen thuộc về kí ức
tuổi thơ: mây gió hiu hiu, chiều lặng lặng, mái nhì man mác nước sông Hương, xanh biếc
lòng sông những bóng thông Các trang văn của L. Tônxtôi, Tuốcghênhiép, Gorki,
Kôrôlencô, Bunhin đều mang đậm những kí ức tuổi thơ như những điểm sáng trong
tâm hồn, làm phong phú thêm hình tượng.
Tiếp đến là năng lực xây dựng hình tượng nghệ thuật. Đối với nghệ sĩ, đó là năng lực
tạo hình, làm cho cuộc sống được tái hiện sinh động như thật. Đến mức, như Gorki kể
chuyện, ông đã từng giơ trang sách ra trước mắt để xem có ai giữa những dòng chữ đó
không. Hình tượng đó vừa mô tả được hình dáng, màu sắc, vừa thể hiện được thần khí,
linh hồn, nhịpđiệu, không khí, sự vận động của sự vật. Bài ca mùa thu của Véclen như
tiếng thở dài nức nở của cây đàn vĩ cầm. Ở đây đòi hỏi năng lực lựa chọn chi tiết, tổ chức
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status