QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN - Pdf 27

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN VÀ
VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN
TS. Dương Anh Sơn, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế-Luật, ĐHQG TP.HCM
Hợp đồng là sự thoả thuận, sự thoả thuận này dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng,
có nghĩa là ý chí của các bên được thể hiện một cách tự do, không chịu bất kỳ một sự tác
động nào. Tuy nhiên trong thực tiễn có nhiều trường hợp các bên hoặc một trong các bên
khi đàm phán, ký kết hợp đồng ý chí của họ được hình thành một cách không tự nguyện,
tức là họ không được tự do trong việc thể hiện ý chí của mình hoặc xuất phát từ những ý
niệm không xác thực. Pháp luật gọi các trường hợp này là hợp đồng được ký kết trái
nguyên tắc tự do tự nguyện thoả thuận. Những trường hợp này là: nhầm lẫn, lừa dối và đe
doạ.
Theo quy định của pháp luật của tất cả các nước, nhầm lẫn có thể được coi là căn cứ
để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, tuy nhiên thế nào là nhầm lẫn được xem xét
không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau. Pháp luật của các nước hầu như
không ra khái niệm nhầm lẫn, còn trong khoa học pháp lý, về vấn đề này có nhiều cách
nhìn khác nhau.
Có quan đỉểm cho rằng, nhầm lẫn là những trường hợp hợp đồng được ký kết
nhưng ý chí của một hoặc của các bên được hình thành không đúng vì nhiều lý do khác
nhau. Nhầm lẫn có thể do các bên chưa thoả thuận hết mọi điều khoản của hợp đồng, có
thể do các bên không thể hiện sự cẩn thận cần phải có, cũng có thể do sự tự tin thái quá của
chủ thể hoặc hành vi của người thứ ba
1
. Ý kiến khác cho rằng, nhầm lẫn có nghĩa là hợp
đồng được ký kết không phản ánh ý chí đích thực của các bên, không có khả năng mang lại
kết quả mà các bên hướng đến tại thời điểm ký kết hợp đồng
2
. Có thể nói, nhầm lẫn là khi
ý chí của các bên không giống với ý chí của họ trong giai đoạn thống nhất ý chí mặc dù
không bị đe doạ hoặc lừa dối.
Việc coi nhầm lẫn là căn cứ tuyên bố hợp đồng vô hiệu gặp phải hai vấn đề phức
tạp trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn. Một mặt, trên xuất phát từ thuyết ý chí,

chiếc bình nhưng đã bất cẩn khi thực hiện việc đánh giá? Có quan trọng hay không việc
người mua biết chính xác hoặc đoán biết được đó là bình cổ nhưng đã giấu người bán? Sẽ
như thế nào nếu cả người bán và người mua của hợp đồng ban đầu đều là các chuyên gia
trong lĩnh vực đánh giá đồ cổ? Có ý nghĩa hay không việc người mua, vì tin vào hiệu lực
của hợp đồng đã bỏ ra một khoản tiền lớn để phục hồi chiếc bình với mục đích bán lại,
hoặc đã bán lại cho người khác? Nếu người mua, một cách trung thực cam kết với người
mua rằng, đó là bình dả cổ và yêu cầu người bán thực hiện hợp đồng? Và cuối cùng, nếu
người bán yêu cầu người mua trả lại bình, người mua đồng ý nhưng yêu cầu trả mức chênh
lệch giá?
4
Để trả lời câu hỏi nói trên cần phải xem xét một số điều kiện của sự nhầm lẫn.
1. Phạm vi của nhầm lẫn: Điều 131 BLDS năm 2005 về “giao dịch dân sự vô hiệu do
bị nhầm lẫn” quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của
giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội
dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa
án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn
về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”. Như
vậy theo pháp luật của Việt Nam hiện hành, nhầm lẫn chỉ có thể liên quan đến nội dung của
hợp đồng mà không quy định nhầm lẫn về chủ thể. Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể nội
dung, tuy nhiên có thể hiểu rằng, trong nội dung của hợp đồng có rất nhiều vấn đề, ví dụ, đối
tượng của hợp đồng, tính chất của hàng hoá, công việc. ..
Cách tiếp cận trên trong pháp luật của Việt Nam, có thể nói là tương tự với pháp
luật của nhiều nước. Theo Điều 178 BLDS Liên Bang Nga, hợp đồng được ký kết do bị
nhầm lẫn nghiêm trọng có thể bị toà án tuyên bố vô hiệu khi có sự yêu cầu của bên bị
nhầm lẫn. Nhầm lẫn nghiêm trọng là nhầm lẫn liên quan đến: bản chất của hợp đồng hoặc
tương tự hay liên quan đến những đặc tính của đối tượng làm giảm khả năng đáng kể việc
sử dụng chúng theo mục đích. Nhầm lẫn liên quan đến động cơ của giao dịch không được
coi là có ý nghĩa pháp lý quan trọng.
Khác với pháp luật của Việt Nam và Liên Bang Nga, pháp luật của nhiều nước có quy
định nhầm lẫn về chủ thể, tuy nhiên chỉ trong một số trường hợp hạn chế. Điều 1110 BLDS

8
. Để chứng minh cho nhận định của mình tác giả đã sử dụng Bản
án Phúc thẩm
9
. Ông Trường và bà Thu có lập hợp đồng thỏa thuận hợp tác thành lập Công
ty cổ phần đầu tư thẩm mỹ Xuân Trường với ngành nghề kinh doanh gồm mua bán mỹ
phẩm, trang thiết bị y tế, dụng cụ thẩm mỹ, y ngoại tổng quát, đào tạo nghề. Hai tháng sau
khi thành lập giữa các chủ thể phát sinh tranh chấp. Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án đã
tuyên hợp đồng hợp tác giữa ông Trường và bà Thu là vô hiệu do nhầm lẫn (Tòa án đã viện
dẫn Điều 131, BLDS năm 2005). Tòa án cho rằng sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của
bà Thu bởi bà đã nhầm “y ngoại tổng quát” là “phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ”. Tôi cho
rằng, trong vụ việc nói trên, với cách quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Toà án
đã thiếu chính xác trong việc lựa chọn quy định của pháp luật để áp dụng, bởi lẽ: thứ nhất,
pháp luật Việt Nam không quy định nhầm lẫn về chủ thể; thứ hai, trong trường hợp này toà
án hoàn toàn có thể tuyên bố hợp dồng vô hiệu do: i) vi phạm điều kiện về chủ thể, ông
Trường là bác sĩ thì ông biết và buộc phải biết ông ta không có chuyên môn phẫu thuật tạo
hình thẩm mỹ, hoặc; ii) vi phạm điều cấm của pháp luật vì đây là lĩnh vực kinh doanh có
điều kiện. Mặt khác việc áp dụng quy định về nhầm lẫn sẽ dẫn đến rủi ro pháp lý trong
trường hợp Toà án thụ lý vụ án khi đã quá thời hạn 2 năm kể từ ngày ký hợp đồng theo
Khoản 1 Điều 136. Theo quan điểm của tôi, trong vụ việc nói trên sẽ hợp lý và thuyết phục
hơn nếu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Mặc dù
Bản án được tác giả sử dụng thiếu chính xác, tuy nhiên tôi chia sẽ với tác giả, rằng trong
BLDS Việt Nam cần phải bổ sung quy định nhầm lẫn về chủ thể trong một số trường hợp,
khi yếu tố nhân thân là động lực chủ yếu để bên nhầm lẫn ký kết hợp đồng.
2. Tính chất của nhầm lẫn phải nghiêm trọng. Điều 131 BLDS 2005 chỉ quy định nhầm
lẫn sự nhầm lẫn liên quan đến nội dung của giao dịch mà không quy định mức độ, tính chất của
nhầm lẫn. Thật ra pháp luật của nhiều nước không quy định những tiêu chí để xác định một sự
nhầm lẫn nào đó là nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, mà việc xác định này tuỳ thuộc vào
từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cũng như khả năng nhận biết của chủ thể về đối tượng nhầm
lẫn. Tuy nhiên khác với pháp luật Việt Nam, sự thừa nhận án lệ của pháp luật nhiều nước có thể

dùng cho nguyên liệu PO (da thuộc). Có ý kiến cho rằng, trong trường hợp này hợp đồng
không thể vô hiệu do nhầm lẫn
11
. Tôi cho rằng, mặc dù cả hai bên có sự nhầm lẫn PO và
PU, tuy nhiên sự nhầm lẫn này không không có ý nghĩa pháp lý bởi không liên quan đến
bản chất, đặc tính của hàng hoá là đối tượng của hợp đồng và cả hai bên đều biết nguyên
liệu PO không tồn tại trên thị trường 30 năm và không có thực. Việc nhầm lẫn này không
phải là lý do chủ yếu để các bên ký kết hợp đồng.Mặc dù các bên đã thừa nhận có sự nhầm
lẫn về tên gọi PO và PU nhưng không theo tôi ở đây đã có sự không thống nhất giữa ý chí
chung của các bên với ngôn từ được sử dụng trong hợp đồng. Chình vì vạy nên có thể nói
Quyết định của Toà án vi phạm Điều 409 BLDS 2005 về giải thích hợp đồng, theo đó
trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ của hợp đồng
thì cần phải dựa vào chí chí chung của các bên.
3. Một vấn đề nữa cần phải được xem xét một cách thận trọng dưới góc độ pháp lý
khi xác định nhầm lẫn là có cần thiết phải xác định lỗi của một bên là nguyên nhân dẫn đến
sự nhầm lẫn của bên kia hay không. Vấn đề này được xem xét không giống nhau trong
pháp luật của các nước khác nhau. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành
12
, nhầm lẫn phải do
hành vi lỗi vô ý của một bên gây ra. Điều đó có thể hiểu rằng, nếu không có lỗi của một
bên thì không có sự nhầm lẫn hay nhầm lẫn (nếu có) sẽ không có ý nghĩa pháp lý và không
thể là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
13
. Cũng có thể hiểu rằng, các
nhà làm luật Việt Nam không loại trừ nhầm lẫn không phải do lỗi bên kia, tuy nhiên họ chỉ
cho rằng, nhầm lẫn do lỗi của bên kia mới có thể có ý nghĩa pháp lý và có thể được coi là
điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Khác với pháp luật của Việt Nam, pháp luật của hầu hết các nước không xem xét lỗi
của một bên là điều kiện của nhầm lẫn mà chỉ quan tâm đến mức độ nhận thức của chủ thể
bị coi là có sự nhầm lẫn tại thời điểm ký kết hợp đồng. Ví dụ, Điều 1110 BLDS Pháp, Điều

Nam, việc gây ra nhầm lẫn ở đây có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không
hành động, trực tiếp hay ngầm hiểu; iii) bên kia biết hay không thể không biết về sự nhầm
lẫn nhưng vẫn để đối tác tiếp tục nhầm lẫn trái với những tiêu chuẩn về thiện chí và trung
thực trong thương mại thông thường.Trường hợp này có thể hiểu rằng, một bên biết bên
kia nhầm lẫn nhưng đã không hành động một cách trung thực thì bên bị nhầm lẫn có thể
yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu. Trong ví dụ trên, nếu người mua biết rõ ràng rằng, chiếc
bình là bình cổ và cũng biết chắc chắn rằng người bán không biết điều đó thì người bán có
thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên các điều kiện nói trên mới chỉ là điều
kiện cần. Hợp đồng chỉ có thể bị tuyên bố vô hiệu khi có thêm điều kiện đủ, đó là bên
không bị nhầm lẫn đã không hành động một cách hợp lý vào thời điểm hợp đồng vô hiệu
bằng cách dựa vào các điều khoản của hợp đồng. Điều này có nghĩa mặc dù biết và buộc
phải biết hợp đồng vô hiệu nhưng vẫn thực hiện hợp đồng. Điều 4:103 Bộ nguyên tắc luật
hợp đồng châu Âu cho phép một bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu (nếu các điều
kiện khác hội đủ) khi: (i) nhầm lẫn được gây ra do thông tin của bên kia cung cấp, (ii) bên
kia biết hoặc phải biết có nhầm lẫn nhưng đã để cho nạn nhân nhầm lẫn trái với nguyên tắc
thiện chí, (iii) hoặc bên kia cũng có cùng nhầm lẫn.
Khoản 2 Điều 131 BLDS 2005 quy định, trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho
bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ
luật này. Có lẽ vì quy định này nằm trong Điều 131 BLDS dưới tên gọi “Giao dịch dân sự vô
hiệu do bị nhầm lẫn ” nên có tác giả cho rằng, BLDS năm 2005 dự liệu hai trường hợp nhầm
lẫn của một bên: nhầm lẫn do lỗi vô ý hay cố ý của bên kia và thực tế cho thấy hai loại nhầm
lẫn này hoàn toàn có thể tồn tại.
15
Ở đây tôi cho rằng, tác giả đã có sự hiểu chưa thấu đáo ý tứ
của nhà làm luật khi xây dựng Khoản 2 Điều 131 BLDS. Tôi cho rằng, BLDS không coi nhầm
lẫn là do lỗi cố ý của một bên mà bằng khoản 2 chỉ nhấn mạnh rằng, nếu một bên có lỗi cố ý
làm cho bên kia hiểu sai về nội dung của giao dịch thì bị coi là lừa dối. Thật vậy khi một bên có
hành vi cố ý làm cho bên kia hiểu sai về nội dung cả hợp đồng tức là trong hành vi đó bao gồm
các thủ đoạn gian dối. Một bên cố ý làm cho bên kia hiểu sai bởi lẽ biết rằng, nếu không như
vậy thì bên kia hiểu đúng về nội dung của hợp đồng thì sẽ không bao giờ ký. Tôi cho rằng, việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status