Tiểu luận triết học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA Giáo viên hướng dẫn: Th.S Trần Huy Quang
Sinh viên : Nguyễn Đam-Ka
Lớp : A8- K2- TCNH- K48
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
1
Tiểu luận triết học
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………………3
Chương I: Lí luận về Nhà nước
I/ Nguồn gốc và bản chất của Nhà nước………….…………………4
II/ Đặc trưng cơ bản của Nhà nước………………………….………6
III/ Chức năng cơ bản của Nhà nước…………………… ………….7
IV/ Các kiểu và hình thức Nhà nước………………………… ……8
V/ Nhà nước vô sản - Tính tất yếu và bản chất.…….………………10
VI/ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột của hệ thống
chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân, là tổ chức thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam.…………………………………………………………………………11
Chương II: Vấn đề xây dựng Nhà nước ở nước ta hiện nay
I/ Tại sao phải nâng cao vai trò của Nhà nước.………………………13
3
Tiểu luận triết học
Chương I:
LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC
I/ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC:
Nguồn gốc và bản chất của Nhà nước là một vấn đề phức tạp, lý luận khoa
học về Nhà nước, về nguồn gốc và bản chất của Nhà nước; chỉ có thể có được
trên cơ sở những quan niệm biện chứng duy vật về sự phát triển xã hội.
1/ Nguồn gốc của Nhà nước:
Xã hội không phải khi nào cũng có Nhà nước. Nhà nước ra đời và tồn tại,
khi trong xã hội mâu thuân giai cấp tiến triển đến mức không thể điều hoà.
Xã hội cộng đồng nguyên thuỷ không có giai cấp, Nhà nước chưa xuất
hiện. Tổ chức đầu tiên của xã hội loài người phù hợp với tình trạng kinh tế còn
thấp kém, lúc bấy giờ là chế độ thị tộc, bộ lạc mà đứng đầu là các tộc trưởng, hội
đồng các tộc trưởng. Họ là những người do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm
trước nhân dân, coi sóc công việc chung và có thể bị bãi miễn nếu nhân dân
không còn tín nhiệm. Trong tay họ không có và không cần một công cụ cưỡng
bức đặc biệt nào. Quyền hành và chức năng của các cơ quan đứng đầu các thị
tộc, bộ lạc không mang tính chất chính trị, đó mới chỉ là các tiền đề của quyền
lực Nhà nước.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ cuối của xã hội nguyên
thuỷ đã làm xuất hiện chế độ tư hữu và xã hội bị phân hoá thành những giai cấp
có lợi ích đối lập nhau. Cơ quan quản lý xã hội trong chế độ thị tộc, bộ lạc trở
nên bất lực và được thay thế bởi sự ra đời của bộ máy mới là Nhà nước.
V.I.Lênin nhấn mạnh: “ Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu
thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào
mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì
Nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: Sự tồn tại của Nhà nước chứng tỏ rằng những
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
4
định.
II/ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC:
Bản chất của Nhà nước được thể hiện ở đặc trưng của nó. Bất kỳ Nhà
nước nào cũng có 3 đặc trưng cơ bản như sau:
1/ Nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định:
Nhà nước được hình thành trên cơ sở phân chia dân cư theo lãnh thổ mà
họ cư trú ( khác với tổ chức thị tộc, bộ lạc thời nguyên thủy được hình thành trên
cơ sở quan hệ huyết thống ). Quyền lực Nhà nước có hiệu lực với mọi thành viên
trong lãnh thổ. Đặc trưng này làm xuất hiện mối quan hệ giữa từng người trong
cộng đồng với Nhà nước. Mỗi Nhà nước được xác định bằng một biên giới quốc
gia nhất định.
2/ Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với
mọi thành viên trong xã hội:
Nhà nước của giai cấp thống trị nào cũng có một bộ máy quyền lực
chuyên nghiệp. Bộ máy quyền lực đó bao gồm các đội vũ trang đặc biệt ( quân
đội, cảnh sát nhà tù, viện kiểm sát ) và bộ máy quản lý hành chính. Nhà nước
thực hiện quyền lực của mình trên cơ sở sức mạnh cưỡng ép của pháp luật và
dùng các thiết chế bạo lực để pháp luật của mình được thực thi trong thực tế.
3/ Nhà nước hình thành hệ thống thuế khoá để duy trì và tăng cường bộ máy cái trị:
Nhà nước tồn tại dựa vào thuế khoá, quốc trái và các hình thức bóc lột
khác. Đó là những chế độ đóng góp có tính chất cưỡng chế để nuôi sống bộ máy
cai trị. Hệ thống thuế khoá, cống nạp như vậy hoàn toàn không có trong hình
thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc. Nó chỉ tồn tại gắn liền với hình thái tổ chức
Nhà nước. Bằng nhiều hình thức khác nhau như vậy, Nhà nước của giai cấp bóc
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
6
Tiểu luận triết học
lột không những là công cụ trấn áp giai cấp mà còn là công cụ thực hiện sự bóc
lột của các giai cấp bị áp bức.
III/ CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC:
thống trong xã hội.
b/ Chức năng đối ngoại:
Chức năng đối ngoại của Nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc
gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các Nhà nước khác
vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích quốc gia, khi lợi ích quốc gia
không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị. Chúng là hai mặt của một thể
thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất chức năng đối
ngoại của Nhà nước; ngược lại tính chất và những nhu cầu của chức năng đối
ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.
IV/ CÁC KIỂU VÀ HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC:
1/ Khái niệm kiểu và hình thức Nhà nước:
Kiểu Nhà nước là khái niệm dùng để chỉ bộ máy thống trị đó thuộc giai
cấp nào, tồn tại trên cơ sở chế độ kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế -
xã hội nào.
Mỗi kiểu Nhà nước lại có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau. Hình
thức Nhà nước là khái niệm là để chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực
hiện quyền lực Nhà nước. Nói cách khác đó là hình thức cầm quyền của giai cấp
thống trị.
Hình thức Nhà nước bị quy định bởi bản chất giai cấp của Nhà nước, bởi
tương quan lực lượng giữa các giai cấp, bởi cơ cấu giai cấp - xã hội, đặc điểm
truyền thống chính trị của đất nước.
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
8
Tiểu luận triết học
2/ Các kiểu và hình thức Nhà nước trong lịch sử:
Tương ứng với ba chế độ xã hội có đối kháng giai cấp trong lịch sử là hình
thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, hình
thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa là ba kiểu Nhà nước: Nhà nước chiếm hữu
nô lệ, Nhà nước phong kiến và Nhà nước tư sản. Tuỳ theo hình thái kinh tế - xã
hội cụ thể của mỗi quốc gia là mỗi kiểu Nhà nước được tổ chức theo những hình
V/ NHÀ NƯỚC VÔ SẢN -TÍNH TẤT YẾU VÀ BẢN CHẤT:
Tổng kết kinh nghiệm lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô
sản và xét địa vị kinh tế của giai cấp đó trong nền sản xuất hiện đại, C.Mác kết
luận: Để đi tới một xã hội không còn giai cấp, giai cấp vô sản phải trở thành một
giai cấp thống trị và nắm lấy quyền lực chính trị để thực hiện sự thống trị chính
trị của mình. Giai cấp vô sản phải đạp tan “ Bộ máy quân phiệt quan liêu ” của
Nhà nước cũ, thay thế Nhà nước của giai cấp bóc lột bằng một Nhà nước kiểu
mới, Nhà nước của giai cấp vô sản. C.Mác khẳng định: “ Giữa xã hội tư bản chủ
nghĩa và xã hội cộng sản là một thời kỳ cải biến từ xã hội nọ sang xã hội kia.
Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và Nhà nước của thời
kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp
vô sản ”.
Nhà nước vô sản là một Nhà nước kiểu mới, bản chất Nhà nước đó là
chuyên chính của nhân dân, là quyền lực của nhân dân. Đây là điểm khác nhau
cơ bản giữa Nhà nước vô sản với Nhà nước của các giai cấp bóc lột. Xét về
phương diện giai cấp, cũng như nền tảng kinh tế, Nhà nước vô sản là Nhà nước
duy nhất có cơ sở khách quan và đòi hỏi sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính
nhân dân. Không đảm bảo sự thống trị chính trị của giai cấp vô sản thì nhân dân
không có quyền lực thực sự, ngược lại, có bảo đảm quyền lực Nhà nước và sự
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
10
Tiểu luận triết học
phát triển, mở rộng dân chủ đối với nhân dân trong Chủ nghĩa xã hội là thống
nhất với nhau.
VI/ NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM LÀ TRỤ CỘT CỦA HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ, LÀ CÔNG CỤ THỰC HIỆN QUYỀN LỰC CỦA NHÂN DÂN, LÀ TỔ
CHỨC THỰC HIỆN QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN LAO ĐỘNG DƯỚI SỰ LÃNH
ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM:
Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, quản lý kinh tế
bằng kế hoạch, các chính sách và những đòn bẩy kinh tế và các công cụ điều tiết
Chương II:
VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA
I/ TẠI SAO PHẢI NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ?
1/ Nâng cao vai trò của Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại:
Đại hội Đảng lần thứ IX đã dự báo: “ Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến
đổi ”. Cụ thể như sau:
Một là, khoa học và công nghệ sẽ có bước phát triển nhảy vọt. Với tốc độ
phát triển như vũ bão hiện nay, khoa học và công nghệ trong thế kỷ XXI chắc
chắn sẽ có nhiều kỳ tích, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, tin học, sinh học,
vật liệu mới, năng lượng, nghiên cứu vũ trụ.
Hai là, kinh tế tri thức ngày càng có vai trò nổi bật trong quá trình phát
triển lực lượng sản xuất. Trong các thế kỷ trước, những yếu tố tạo ra sự phát
triển lực lượng sản xuất là lao động, vốn và công nghệ thì hiện nay thêm một yếu
tố nữa là tri thức và khi nào yếu tố tri thức chiếm đa số trong những yếu tố tạo
nên tăng trưởng, đó là kinh tế tri thức. Sang thế kỷ XXI, lực lượng sản xuất tiếp
tục phát triển trong đó kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật.
Ba là, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng
nhiều nước tham gia. Xu thế này đang bị một số nước phát triển và tập đoàn kinh
tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích
cực, vừa có mặt tiêu cực, có hợp tác vừa có đấu tranh.
- Hiện nay, tổ chức Thương mại quốc tế ( WTO ) có 136 nước tham gia,
25 nước nộp đơn xin tham gia, trong đó có Việt Nam. Trong khuôn khổ WTO
hiện nay chiếm tới 90% thương mại xuất nhập khẩu của thế giới. Nếu nước nào
không tham gia sẽ bị phân biệt đối xử, sẽ bị thiệt hại không nhỏ về lợi ích kinh
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
13
Tiểu luận triết học
tế. Ví dụ: Trung Quốc nếu được tham gia vào WTO thì hàng hoá vào thị trường
Mỹ sẽ có thuế suất bằng không, còn hàng hoá của ta khi chưa tham gia tổ chức
trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ
chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã
hội, trước mắt chúng ta còn rất nhiều công việc khó khăn, bề bộn đòi hỏi sự dẫn
dắt soi đường đúng đắn của Đảng và vai trò tích cực của Nhà nước.
3/ Khắc phục hạn chế vai trò của Nhà nước hiện nay:
Trong thực tế 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng
kể. Đạt được những thành tựu đó, bên cạnh bản lĩnh chính trị vững vàng, đường
lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng và đóng góp to lớn của toàn dân còn phải kể đến
những cố gắng lớn trong việc điều hành, quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, bên
cạnh những thành tựu còn tồn tại không ít những hạn chế trong vai trò của Nhà
nước cần phải được khắc phục ngay. Đó là sự cồng kềnh không cần thiết của bộ
máy Nhà nước; các thủ tục hành chính rườm ra, bất động, cũng như tình trạng
vừa chồng chéo, vừa bỏ sót chức năng nhiệm vụ trong nội bộ cơ quan quyền lực
Nhà nước.
II/ CẢI CÁCH THỂ CHẾ VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC:
Bước sang thế kỷ XXI, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng đòi
hỏi phải xây dựng, kiện toàn bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm cho Nhà nước ta mãi mãi giữ bản chất cách
mạng, bản chất giai cấp, thực sự là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân. Vì lẽ đó, Đại hội IX của Đảng khẳng định cần phải: “ Đẩy mạnh
cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp
chế ”.
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
15
Tiểu luận triết học
1/Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của
Quốc hội:
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực
cao nhất ở nước ta, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Để phát
huy vai trò, vị trí của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, Quốc hội phải được
Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Chính phủ giữ quyền hành pháp, tức là Chính phủ có chức năng
thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; đảm bảo hiệu lực của bộ
máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành
Hiến pháp, pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của
nhân dân.
Trước hết, cần phải tập trung điều chỉnh chức năng và phương thức hoạt
động của Chính phủ theo hướng tăng cường quản lý vĩ mô các lĩnh vực hoạt
động của toàn xã hội bằng hệ thống pháp luật và hệ thống chính sách hoàn chỉnh,
đồng bộ, giảm khối lượng xử lý các vụ việc cụ thể. Hoạt động của Chính phủ tập
trung vào việc xây dựng thể chế, chỉ đạo và kiểm tra việc xây dựng các văn bản
quy phạm pháp luật, hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển tổng thể nền
kinh tế quốc dân, giải quyết những vấn đề quan trọng mang tính liên ngành, liên
vùng đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ và cơ quan ngang bộ cũng
được điều chỉnh theo hướng bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bao quát tất cả các
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
17
Tiểu luận triết học
thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước, cung cấp dịch vụ công. Sắp xếp, tinh
gọn các cơ quan thuộc Chính phủ, bộ máy giúp việc Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ; cơ cấu bộ máy và biến chế các bộ, cơ quan ngang bộ. Phân định rõ
ràng chức năng, thẩm quyền quản lý hành chính Nhà nước với nhiệm vụ cung
cấp dịch vụ công để bố trị bộ máy và phương thức hoạt động phù hợp.
Tổ chức, bộ máy chính quyền địa phương được cải cách, kiện toàn theo
nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, không có quyền lực Nhà nước ở
pháp luật, trong đó Toà án nhân dân là nơi biểu hiện tập trung của quyền tư
pháp, sử dụng công khai các kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa,
giám định tư pháp thông qua các thủ tục tố tụng theo luật định để đưa ra phán
quyết cuối cùng, thể hiện quyền lực Nhà nước.
- Tiếp tục cải cách, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ
quan tư pháp theo nguyên tắc nâng cao tinh thần trách nhiệm, làm tốt các công
tác điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử, không để xảy ra các trường hợp oan
sai.
- Viện Kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát chung mà
tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đảm bảo mọi
hành vi phạm tội đều bị phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đặc biệt là tội
phạm an ninh quốc gia và tội phạm tham nhũng.
- Sắp xếp lại hệ thống Toà án nhân dân, phân định thẩm quyền một cách
hợp lý theo nguyên tắc tổ chức Toà án theo cấp xét xử, tăng cường thẩm phán ở
những địa bàn trọng điểm, quy định rõ tiểu chuẩn, trách nhiệm và thẩm quyền
của Hội thẩm nhân dân. Toà án nhân dân tối cao làm nhiệm vụ hướng dẫn áp
dụng pháp luật và thực hiện công tác giám sát xét xử các bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật.
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
19
Tiểu luận triết học
- Tổ chức lại các cơ quan điều tra theo nguyên tắc gọn đầu mối, có sự chỉ
đạo tập trung thống nhất. Kiện toàn cơ quan thi hành án và thành lập cảnh sát tư
pháp. Cải cách và kiện toàn các cơ quan bổ trợ tư pháp, cơ quan quản lý hành
chính tư pháp.
Xây dựng kiện toàn đội ngũ cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật trong
sạch, có phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ.
Nguy n am Ka Anh8 K2 TCNH K48ễ Đ
20
Tiểu luận triết học