HIAST
1
A. LỜI MỞ ĐẦU
Trước những biến động bất thường về thị trường cổ phiếu và trái phiếu, nhiều người cho
rằng thị trường chứng khoán Việt Nam chưa có các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp đứng ra làm
định hướng trong hoạt động đầu tư. Một trong các nhà đầu tư có tổ chức mang tính chuyên
nghiệp cao đó là Quỹ đầutư chứng khoán.
Quỹ đầu tư chứng khoán tham gia thị trường với hai tư cách: tư cách là tổ chức phát hành,
phát hành ra các chứng chỉ quỹ đầu tư để thu hút vốn và tư cách là tổ chức dùng tiền thu hút
được để đầu tư chứng khoán. Và trên thế giới hiện nay có khoản hàng chục nghìn quỹ đầu tư
đang hoạt động cung cấp cho các nhà đầu tư. Nhờ đó mà tỷ trọng tham gia thị trường chứng
khoán của các quỹ ngày càng tăng so với nhà đầu tư cá nhân. Quỹ đầu tư chứng khoán đã thực
sự trở thành một định chế tài chính trung gian ưu việt trên thị trường chứng khoán, làm cho thị
trường phát triển, nhất là trong giai đoạn hình thành vì sự có mặt của nó sẽ tạo ra một thói quen
đầu tư.
Quỹ đầu tư chứng khoán là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ và việc nghiên cứu tìm hiểu
cũng như đề ra các biện pháp thúc đẩy sự ra đời của Quỹ đầu tư để có thể áp dụng vào thực tiễn
là điều rất cần thiết
B. NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm Quỹ đầu tư (QDT)
Khi bắt đầu tham gia thị trường chứng khoán, một trong những khó khăn lớn nhất mà nhà
đầu tư phải vượt qua đó là việc lựa chọn chứng khoán để đầu tư. Việc này được sự trợ giúp bởi
nhà môi giới ( Broker ) hoặc kinh doanh chứng khoán ( Dealer ). Tuy nhiên, dù được tư vấn đến
đâu đi nữa, thì quyền quyết định cuối cùng vẫn là nhà đầu tư, và hiệu quả đầu tư lệ thuộc vào
điều kiện và phẩm chất cá nhân. Thị trường chứng khoán lại tập hợp rất nhiều sản phẩm đa
nghành, thế nên dù nhà đầu tư có tập trung vào một lĩnh vực nào đó thì cũng không thể nào nắm
vững hết những chuyển biến một cách toàn diện được. Vì thế, nhiều nhà đầu tư đã lữa chọn cho
mình một phương tiện để thực hiện đầu tư tốt nhất vào thị trường chứng khoán đó chính là Quỹ
đầu tư.
Quỹ đầu tư chứng khoán là một định chế tài chính trung gian có nhiệm vụ là tập trung
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại hình QDT căn cứ theo các tiêu chí phân loại khác
nhau.
2.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động:
a. Quỹ đầu tư tập thể ( quỹ công chúng ).
Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. Nhà đầu tư có thể là
cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ công chúng cung cấp cho
các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí
đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyện nghiệp của đầu tư mang lại.
b. Quỹ đầu tư cá nhân ( quỹ thành viên ).
Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ đầu tư,
có thể lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do
vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Các nhà đầu tư vào quỹ tư nhân
thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ
2.2 Căn cứ vào cấu trúc huy động vốn
a. Quỹ đóng
Đây là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động
vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ quỹ đầu tư khi nhà đầu tư
có nhu cầu bán lại. Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động
vốn ( hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Các nhà
đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứng chỉ đầu tư của mình thông qua
thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ cố định và không biến đổi trong suốt thời gian
HIAST
3
hoạt động. Hình thức quỹ đóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là quỹ đầu tư VF1 do
công ty VFM huy động vốn và quản lý.
b. Quỹ mở
Khác với quỹ đóng, tổng vốn của quỹ mở biến động theo từng ngày giao dịch do tính
chất đặc thù của nó là nhà đầu tư được quyền bán lại chứng chỉ QDT, và quỹ phải mua lại các
chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch. Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch
mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ và các chứng chỉ quỹ
vừa là những người đánh gia hiệu quả dự án đầu tư, giúp cho nhà đầu tư đánh giá được tính khả
thi của dự án đầu tư.
Doanh nghiệp có khả năng thu hút được vốn với chi phí thấp hơn, góp phần thức đẩy các
doanh nghiệp trong nước phát triển.
Cung cấp các kỹ năng phát tiển thị trường trong nước.
HIAST
4
Đối với các nhà đầu tư
Giúp các nhà đầu tư riêng lẻ đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi ích
- Tính thanh khoản: Các nhà đầu tư vào QDT có thể bán chứng chỉ đầu tư hoặc cổ
phiếu đang nắm giữ vào bất kỳ lúc nào cho chính QDT (trong truong hop quỹ mở ) hoặc trên thị
trường thứ cấp (trong trường hợp quỹ đóng) để thu hồi vốn. Chứng khoán của QDT là một trong
những tài sản có lỏng cao trên thị trường (giá bán thay đổi phụ thuộc vào thay đổi của tổng gia
trị tài sản danh mục của QDT phát hành ra cổ phiếu).
- Đa dạng hoá đầu tư: Bằng việc sử dụng tiền thu được từ những nhà đầu tư phân
tán vào các danh mục các chứng khoán, các quỹ đầu tư và làm tăng cơ hội thu nhập cho các
khoản đầu tư.
- Dễ tiếp cân và lựa chọn: Do loại hình QDT là loại hình cho các nhà đầu tư các
nhân nên một khi hình thành các quỹ đầu tư luôn tạo những điều kiện thuận lợi cho dân chúng dễ
tiếp cận và giao dịch ( thông tin được cung cấp qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo
kinh tế, internet…). Tuỳ theo mục đích và sở thích, họ có thể đầu tư vào danh mục cổ phiếu, trái
phiếu, danh mục các công cụ của thị trường tiền tệ với hàng chục loạ quỹ khác nhau.
- Tiết kiệm chi phí đầu tư: Nếu các nhà đầu tư tham gia vào QDT thì chi phí giao
dịch và nghiên cứu trên một đồng vốn giảm đi rất nhiều do khả năng tiếp cận với các dự án dễ
dàng hơn và do QDT được coi là các nhà đầu tư lớn nên có khả năng nhận được những ưu đãi về
chi phí giao dịch.
- Tăng cường tính chuyên nghiệp cho việc đầu tư: Các công ty quản lý quỹ có các
nhà quản lý ra quyết định đầu tư dựa các nghiên cứu hoạt động của từng công ty mà họ quan tâm
và đối với từng loại chứng khoán cụ thể trong những điều kiện nhất định.
Đối với thị trường chứng khoán
pháp luật và điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán.
- Thực hiện hoạt động thu, chi, thanh toán và chuyển giao tiền, chứng khoán liên
quan đến hoạt động cảu quỹ theo yêu cấu hợp pháp của công ty quản lý quỹ.
- Tính toán giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV) và công bố ra công chúng.
- Giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công bố thông tin công ty quản lý quỹ.
- Báo cáo UBCKNN khi phát hiện công ty quản lý quỹ vi phạm pháp luật hoặc điều
lệ QDT chứng khoán.
- Định kỳ cùng công ty quản lý quỹ đối chiếu sổ kế toán, báo cáo tài chính và hoạt
động giao dịch của quỹ.
- Làm đại lý chuyển nhượng cho quỹ.
- Quản lý thông tin nhà đầu tư của quỹ.
4.3 Công ty kiểm toán.
Thực hiện hoạt động kiểm toán định kỳ cho quỹ đầu tư. Công ty kiểm toán được bộ tài
chính cho phép kiểm toán công ty niêm yết.
4.4 Công ty luật.
Tư vấn cho công ty những vấn đề liên quan đến pháp lý.
5. Nguyên tắc hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.
5.1 Nguyên tắc huy động vốn.
Việc huy động vốn cảu Quỹ đầu tư thông qua phát hành chứng khoán. Tuy nhiên các quỹ
chỉ được phát hành một số loại chứng khoán nhất định để tạo thuận lợi cho việc quản lý của quỹ
cũng như hoạt động đầu tư của những nhà đầu tư. Tài sản của Quỹ đầu tư chủ yếu đầu tư vào
chứng khoán chứ không phải trực tiếp đem vào đầu tư mở rộng sản xuất. Quỹ không thể phát
hành trái phiếu, tức là đi vay để đầu tư vào chứng khoán vì như thế sẽ tạo nên môi trường chứng
khoán ảo Do vậy, nguyên tắc chung là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu (mô hình công ty) và chứng
HIAST
6
chỉ hưởng lợi (quỹ dạng tín thác). Ngoài ra, quỹ không được phép phát hành trái phiếu hay đi
vay vốn để đầu tư. Quỹ chỉ được phép vay vốn ngắn hạn để trang trải chi phí tạm thời khi quỹ
chưa có khả năng thu hồi vốn.
5.2 Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ
đầu tư đánh giá đúng về thực trạng của các khoản đầu tư, khả năng chuyê môn của những người
quản lý quỹ để có thể quyết định đầu tư đúng đắn. Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ các quy
định của cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo sự thống nhất dễ hiểu cho các nhà đầu tư.
5.5 Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ
Hầu hết các nước đều ngăn cấm các giao dịch giữa các chủ thể có liên quan tới quỹ. Giao
dịch giữa các chủ thể có liên quan tới tài sản của quỹ giữa một bên là QDT và một bên là chủ thể
khác như công ty quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản giám sát, người bảo lãnh phát hành , nhà tư
vấn, mà việc giao dịch này có khả năng ảnh hưởng đến lợi ích của người đầu tư hiện tại của
quỹ. Các trường hợp được coi là giao dịch liên quan như:
HIAST
7
- Việc mua bán tài sản của quỹ với người có liên quan (nhân viên, người quản lý,
đối tác, người làm thuê, cổ đông, ).
- Các khoản vay nợ cãu quỹ với chủ thể liên quan.
- Một người có liên quan hành động như một đại lý đối với tài sản của quỹ trong
việc mua bán chứng chỉ quỹ đầu tư.
- Người có liên quan cam kết với người thứ ba tham gia giao dịch với quỹ.
Nói chung mỗi nước lại có quy định cụ thể riêng để ngăn chặn hiện tượng này để đảm
bảo hoạt động của quỹ được lành mạnh, công bằng bảo vệ lợi ích của tất cả người đầu tư.
6. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của quỹ đầu tư
6.1 Giá trị các tài sản thuần của quỹ - NAV – Net Asset Value
Là hiệu số giữa tổng gia trị tài sản và các khoản đầu tư của quỹ với giá trị các khoản nợ
phải trả của quỹ. Nó bao gồm tiền mặt, các chứng chỉ hoặc các tài sản khác tương đương có giá
trị với tiền mặt, các chứng khoán do quỹ nắm giữ được tính theo giá thị trường.
6.2 Lợi suất
Lợi suất được tình bằng tổng lợi nhuận chia mỗi cổ phần cho giá trên mỗi cổ phần.
6.3 Tổng lợi nhuận
Đối với cổ phiếu, có ba bộ phận cấu thành nên tổng lợi nhuận là: cổ tức tử khoản thu
nhập ròng, phân phối các khoản thu nhập ròng được thừa nhận và sự tăng hoặc giảm trong gia trị
ròng. Tổng thu nhập của quỹ là một trong các chỉ tiêu quan trong đánh giá hoạt động của một
Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường mới được hình thành và phát triển
cách đây không lâu nên môi trường đầu tư đang trong giai đoạn hoàn thiện đặc biệt là vấn đề
hành lang pháp lý cho nhà đầu tư. Do vậy, quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hầu hết là quỹ
đóng: Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam – VFMVF1, Quỹ đầu tư Doanh nghiệp hàng đầu Việt
Nam – VFMVF4, Quỹ đầu tư Cân bằng Prudential – PRUBF1, Quỹ đầu tư Tăng trưởng
Manulife – MAFPF1…
Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam – VFMVF1 có vốn điều lệ là 100,000,000,000đ
được cấp phép thành lập và phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư ra công công chúng vào ngày
24/3/2004 bởi Uỷ ban chứng khoán nhà nước căn cứ theo Nghị định 144-2003/NĐ-CP ngày
28/11/2003 về chứng khoán và TTCK và các văn bản pháp lý có liên quan. Quỹ đầu tư VF1 là
một quỹ đóng và hoạt động với tư cách pháp lý trên cơ sở của Nghị định về chứng khoán và
TTCK và các hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành. Trong thời gian 90 ngày kể từ ngày Quỹ
đầu tư VF1 được UBCKNN cấp phép, công ty quản lý quỹ VFM với tư cách là đại diện phát
hành của Quỹ đầu tư VF1 sẽ tiến hành việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng.
Công ty bắt đầu niêm yết với mã VFMVF1 ngày 8/11/2004 trên sàn giao dịch chứng
khoán Tp.Hồ Chí Minh. Kiểm toán độc lập: công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam.
Nghành nghề kinh doanh:
- Ngành nghề chế biến nông lâm thuỷ sản.
- Ngành tài chính ngân hàng
- Ngành du lịch và khách sạn
- Ngành giáo dục y tế
- Ngành tiêu dùng
- Ngành vận tải hàng hoá
- Ngành tiện ích công cộng
- Bất động sản
- Các công cụ thị trường tiền tệ
Quỹ đầu tư doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam – VFMVF4 có vốn điều lệ
806,460,000,000đ được Uỳ ban chứng khoán Nhà nước cấp phép phát hành chứng khoán lần đầu
ra công chúng theo guấy phép số 04/UBCK-GCN vào ngày 18 /12/2007 và được UBCK Nhà
nước cấp giấy chứng nhận đăng ký lập Quỹ số 11/UBCK-GCN vào ngày 28/2/2008.
Kể từ ngày các Quỹ đầy tư hoạt động tại Việt Nam vào những ngày đầu những năm 90
đến nay đã được hơn chục năm nhưng kết quả mà các quỹ đem lại không như mong đợi ban đầu.
Thậm chí, ngay cả Quỹ đầu tư nước ngoài có thế mạnh về vốn và kinh nghiệm quản lý cũng chỉ
gặp lỗ hay may mắn hơn là hoà vốn. Một tín hiệu đáng mừng cho thị trường chứng khoán Việt
Nam là sự xuất hiện của công ty quản lý quỹ VietFund. Điều đó chứng tỏ môi trường đầu tư đã
được cải thiện, cơ hội đầu tư không ít. Tuy nhiên bên cạnh đó thách thức đối với các Quỹ đầu tư
còn nhiều.
2.1 Những khó khăn trong việc hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán Việt
Nam.
Thách thức lớn nhất đối với QDT là tình minh bạch. Bởi vì đa số các công ty không đáp
ứng được các yêu cầu về sự minh bạch, mà lại giấu giếm về tình hình tài chính của họ. Công
khai thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản quan trọng trong đầu tư. Việc công bố kịp
thởi, chính xác, đầy đủ và trung thực các thông tin sẽ giúp cho các nhà đầu tư có được nguồn dữ
liệu tin cậy phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của các công ty để đưa ra
quyết định đầu tư đúng đắn, hạn chế rủi ro, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngoài
những hạn chế về tình minh bạch thì các công ty tham gia và chuẩn bị tham gia thị trường hiện
HIAST
10
nay hầu hết có quy mô nhỏ, cơ cấu điều hành chưa cặt chẽ, và thường không được định giá chính
xác.
Một vấn đề khác gây trở ngại cho các quỹ đầu tư vào công ty tư nhân là các công ty
thường có quy mô nhỏ vì khu vực Doanh nghiệp tại Việt Nam còn mới. Nhiều nước Đông Nam
Á khác có các công ty tư nhân thành lập từ rất lâu, cò tại Việt Nam doanh nghiệp tư nhân chỉ
mới thành lập từ thập niên 90 nên ngay cả các công ty lớn thì vẫn nhỏ so với tiêu chuẩn khu vực.
Hiện tại, pháp luật không cho phép các doanh nghiệp Việt Nam được ra thị trường chứng
khoán nước ngoài. Những ràng buộc như thế khiến cho các QDT không dám thực thi hết những
chức năng của nó. Chính vì vậy, thị trường huy động vốn của Việt Nam còn nhiều điều phải làm
để chinh phục lòng tin của nhà đầu tư.
Thị trường chứng khoán hiện tại quy mô còn nhỏ, hàng hoá chứng khoán còn ít. Khối
lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán qua các phiên giao dịch còn thấp, hàng hoá chưa
HIAST
11
Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách ủng hộ Quỹ đầu tư chứng khoán. Các bộ
ngành đã phối hợp để ban hành quy chế hoạt động cho sự hoạt động của các quỹ, đặc biệt là các
cải cách pháp luật, chính sách ưu đãi đầu tư.
Bên cạnh đó chính phủ đang có nhiều chính sách để thu hút nguồn vốn từ tất cả các thành
phần kinh tế cũng như các chính sách nhằm tự do hoá khả năng làm ăn và đầu tư đối với các nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Điều đó tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài được phép
tham gia góp vốn vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế chứ không bị hạn chế như
trước đây.
Từ ngày 20/07/2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã
chính thức được khai trương. Về cơ bản, bước đầu đã thu hút được sự tham gia của các tầng lớp
dân cư đến việc thực hiện đầu tư chứng khoán. Đồng thời, sự ra đời của thị trường chứng khoán
Việt Nam đã giúp cho Quỹ đẩy mạnh đầu tư vào các công ty cổ phần và giúp các doanh nghiệp
này được niêm yết và giao dịch tại Trung tâm chứng khoán, qua đó giúp các quỹ dễ dàng tháo lui
vốn thông qua chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán.
Hàng hoá chứng khoán có xu hướng ngày càng phong phú. Công tác cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước đang được tiếp tục đẩy mạnh.
Với việc thực hiện Luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sự ra đời của
nhiều công ty cổ phần mới. Chính phủ thường xuyên phát hành trái phiếu để huy động vốn cbo
việc phát triển kinh tế xã hội. Các ngân hàng thương mại đã và đang phát hành trái phiếu huy
động vốn cho hoạt động kinh doanh cững như là những yếu tố góp phần làm phong phú thêm
hàng hoá cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
Với những điều kiện trên cho thấy trong những năm sắp tới hàng hoá chứng khoán sẽ đa
dạng về chủng loại và sẽ tăng thêm nhiều về số lượng, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát
triển của Quỹ đầu tư chứng khoán. Với sự thành công của đường lối kinh tế, ngay từ những năm
đầu của thập kỷ 90, Việt Nam đã là nơi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và được coi là thị
trường mới đầy tiềm năng. Do vậy, một số Quỹ đầu tư Việt Nam của nước ngoài đã sớm thành
lập và có mặt hoạt động tại Việt Nam. Điều đó đã góp phần tạo ra một yếu tố thúc đẩy sự ra đời
các Quỹ đầu tư trong nước của Việt Nam.
Các quỹ đầu tư cần năng động hơn đề có thể tận dụng được hết các cơ hội đầu tư, nâng
cao lợi nhuận cho Quỹ, nâng cao giá trị tài sản ròng NAV thông qua điều chỉnh danh mục đầu tư
một cách linh hoạt (các Quỹ đầu tư có thể thực hiện thanh khoản các chứng khoán đã đạt được
múc lợi nhuận kỳ vọng); năng động hơn trong việc tìm kiếm các cơ hội giao dịch trên sàn để biến
lợi nhuận trên sổ sách thành lợi nhuận thực, có thể chia cổ tức cho nhà đầu tư vào cuối nam tài
chính; phấn đấu duy trì mức tăng trưởng NAV tối thiểu 15% trở lên; và duy trì tỷ lệ cổ tức của
năm sau bằng hoặc cao hơn tỷ kệ chia cổ tức năm trước.
Ngành nghề đầu tư và loại hình Quỹ đầu tư.
Các quỹ đầu tư cần tập trung tái đầu tư vào các ngành nghề mũi nhọn, tiềm năng được
Nhà nước ưu tiên phát triển trong thời gian tới đây như: tài chính-ngân hàng, dược phẩm y tế, địa
ốc, giáo dục, viễn thông, điện lực, dầu khí… Các nhóm ngành khác là : nông- lâm- thuỷ hải sản,
vận tải hàng hoá, cơ sở hạ tầng, thương mại dịch vụ… cũng là những ngành có tiềm năng phát
triển và cần được đầu tư, duy trì với tỷ trọng hợp lý đảm bảo đem lại sự tăng trưởng ổn đọng cho
danh mục đầu của các Quỹ đầu tư. Tuy nhiên, các ngành nghề này có thể thay đôi tuỳ theo chiến
lược đầu tư từng giai đoạn.
Trong tình hình hiện nay, để có thể huyu động vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong và
ngoài nước một cách dễ dàng, việc lựa chọn loại hình quỹ đầu tư cũng là một yếu tố quan trọng,
ví dụ như các Quỹ đầu tư theo ngành: quỹ đầu tư cổ phiếu ngành điện, quỹ đầu tư cổ phiếu ngành
dầu khí…
Tuy nhiên trong điều kiện cổ phần hoá chưa được tiến hành rộng khắp ở các ngành, thậm
chí, trong từng ngành chỉ có vài ba doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá như hiện nay thỉ việc giới
hạn quỹ đầu tư theo từng ngành sẽ gây thêm khó khăn cho sự lựa chọn công ty và cổ phiếu đầu tư
trong trường hợp có ít hoặc không có cổ phiếu của công ty để lựa chọn. Vì vậy, thay vì hình
thành các quỹ đầu tư chuyên biệt theo ngành, chúng ta nên từng bước thành lập các quỹ đầu tư
quỹ cố phiếu, quỹ trái phiếu, quỹ tổng hợp và quỹ thị trường tiền tệ.
Tóm lại:
Từ thực tiễn mang lại và những yêu cầu cấp thiết của nên kinh tế thị trường thì ta cần có
những giải pháp thích hợp để thúc đẩy Quỹ đầu tư:
HIAST
13