LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ khoa học “Nghiên cứu tổng quan và so sánh phân tích các
phương pháp thiết kế thành phần bê tông khối lớn” được hoàn thành ngoài sự nỗ
lực hết mình của bản thân học viên, còn có sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của
GS.TSKH Nguyễn Thúc Tuyên và các thầy, cô giáo ở bộ môn Vật liệu xây dựng,
Trường Đại học Thủy lợi.
Các kết quả đạt được là một đóng góp nhỏ về mặt khoa học, trong quá trình
nghiên cứu thiết kế thành phần bê tông cho công trình thủy lợi, trong điều kiện thời
gian, trình độ có hạn cũng như các phương tiện thí nghiệm thiếu thốn, nên khó tránh
khỏi thiếu sót. Học viên mong nhận được những sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy,
cô giáo và đồng nghiệp.
Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn GS.TSKH
Nguyễn Thúc Tuyên, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình các kiến
thức khoa học cho Học viên trong suốt thời gian qua.
Qua đây, Học viên cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo
trong bộ môn Vật liệu xây dựng, Khoa Công trình, Phòng Đào tạo Đại học & Sau
đại học – Trường Đại học Thủy lợi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ học viên
trong học tập và hoàn thành luận văn Thạc sĩ này. Nhân đây, học viên cũng tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã ở bên động viên, cổ vũ tinh thần cho học
viên trong suốt thời gian làm luận văn.
Hà nội, ngày tháng năm 2014
Học viên cao học
Lê Anh Đức
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lê Anh Đức, Học viên cao học lớp 20C
11
2.1. Các pha trong cấu trúc bê tông 33
2.2. Cấu trúc của pha hồ xi măng trong bê tông 34
2.3. Cấu trúc của pha cốt liệu trong bê tông 36
2.4. Tỉ lệ cát đá tối ưu 38
CHƯƠNG 3: LỰA CHỌN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THÍ
NGHIỆM 42
3.1. Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu của đề tài. 42
3.1.1.Xi măng PCB30 Hoàng Thạch 42
3.1.2.Cát vàng sông Lô 43
3.1.3.Đá dăm 46
3.1.4.Tro bay Phả Lại 49
3.2. Xác định tỷ lệ C/Đ tối ưu 50
3.3. Các phương pháp nghiên cứu thí nghiệm 55
CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ THÀNH PHẦN BÊ TÔNG KHỐI LỚN VÀ THÍ
NGHIỆM BÊ TÔNG 56
4.1. Thiế kế thành phần bê tông với cường độ mục tiêu 17 Mpa theo phương pháp Mỹ
(ACI 211.1) 56
4.1.1.Thiết kế thành phần bê tông R17, với C/Đ tính toán 57
4.1.2.Thí nghiệm với bê tông mác cơ sở 17 và C/Đ tối ưu 60
4.2. Thiết kế thành phần bê tông M20 dùng phương pháp thể tích tuyệt đối theo giáo
trình VLXD [29]. 63
4.3. Thiết kế thành phần bê tông M20 dùng phương pháp thể tích tuyệt đối theo chỉ dẫn
kỹ thuật [3]. 64
4.4. So sánh thành phần bê tông hai theo 3 phương pháp 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Bảng 3. 5: Thành phần hạt của cát 45
Bảng 3. 6: Khối lượng riêng của đá 47
Bảng 3. 7: Kết quả thí nghiệm khối lượng thể tích xốp của đá 47
Bảng 3. 8: Thành phần hạt của đá 48
Bảng 3. 9: Thành phần hóa học của tro bay Phả Lại 49
Bảng 3. 10: Chỉ số hoạt tính cường độ của tro tuyển Phả Lại 49
Bảng 3. 11: Độ mịn của tro bay Phả Lại 50
Bảng 3. 12: Thành phần các mẻ trộn hỗn hợp cát đá 50
Bảng 3. 13: Kết quả thí nghiệm mẻ trộn thứ nhất 51
Bảng 3. 14: Kết quả thí nghiệm mẻ trộn thứ hai 51
Bảng 3. 15: Kết quả thí nghiệm mẻ trộn thứ ba 52
Bảng 3. 16: Kết quả thí nghiệm mẻ trộn thứ tư 52
Bảng 3. 17: Kết quả thí nghiệm mẻ trộn thứ năm 53
Bảng 3. 18: Tổng hợp kết quả thí nghiệm hỗn hợp cát đá 53
Bảng 4. 1: Các cấp phối bê tông với mác cơ sở 17 và C/Đ tính toán 58
Bảng 4. 2: Thành phần của các mẻ trộn bê tông định hướng với mác cơ sở 17 và
C/Đ tính toán 59
Bảng 4. 3: Cường độ của các cấp phối bê tông định hướng với mác cơ cở 17 và
C/Đ tính toán 60
Bảng 4. 4: Các cấp phối bê tông định hướng với mác cơ sở 17 và C/Đ tối ưu 61
Bảng 4. 5: Thành phần của các mẻ trộn bê tông định hướng với mác cơ sở 17 và
C/Đ tối ưu 61
Bảng 4. 6: Cường độ của các cấp phối bê tông định hướng với mác cơ sở 17 và C/Đ
tối ưu 61
Bảng 4. 7: So sánh thành phần bê tông của bê tông đạt R20 với C/Đ tính toán và
C/Đ tối ưu 62
Bảng 4. 8: So sánh cường độ bê tông với cấp phối cơ sở 17 dùng C/Đ tính toán 62
X hoặc XM Xi măng
C Cát
Đ Đá dăm
C/Đ Tỷ lệ cát/đá
C
CD
+
Tỷ lệ cát/(cát+đá), (mức ngậm cát)
N Nước
R
7, 28
(MPa) Cường độ nén ở tuổi 7 và 28 ngày của bê tông
ACI American Concrete Institute (viện bê tông Hoa Kỳ)
D
max
Đường kính lớn nhất của cốt liệu
hcp Hồ xi măng đã đóng rắn
PGK Phụ gia khoáng
TPBT Thành phần bê tông
TPBTKL Thành phần bê tông khối lớn
TKTPBTKL Thiết kế thành phần bê tông khối lớn
W Mác chống thấm
K
t
Hệ số thấm nước
TPH Thành phần hạt
STL Lượng sót tích lũy
LS Lượng lọt sàng
HVCH Học viên cao học
HV Học viên
– Chuyển đổi việc dùng phụ gia khoáng trong bê tông từ tỷ lệ thể tích sang tỷ
lệ khối lượng.
2
– Đánh giá được hiệu quả của tỉ lệ cát/đá tối ưu khi dùng phương pháp thiết
kế thành phần bê tông khối lớn của Mỹ.
V. NỘI DUNG LUẬN VĂN
Luận văn có 4 chương:
Chương 1 – Tổng quan về bê tông khối lớn và các phương pháp thiết kế
thành phần bê tông khối lớn.
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết của đề tài.
Chương 3 – Lựa chọn vật liệu và phương pháp nghiên cứu thí nghiệm.
Chương 4 – Thiết kế thành phần bê tông khối lớn và thí nghiệm bê tông.
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục – gồm 3 phần như sau:
Phụ lục 1: Phương pháp xác định khối lượng thể tích xốp của cốt liệu được đầm
chọc của Mỹ (Xác định khối lượng thể tích và độ rỗng của cốt liệu)
Phụ lục 2: Những hình ảnh thí nghiệm bê tông tại phòng thí nghiệm vật liệu xây
dựng – Trường Đại học Thủy lợi
Phụ lục 3: Bài báo: Xử lý thành phần hạt cốt liệu bê tông không đạt chuẩn –
Thông tin khoa học công nghệ bê tông số 3 – 09/2013, Tạp chí khoa học và công
nghệ, Hội công nghiệp bê tông Việt Nam thuộc Tổng hội xây dựng Việt Nam 3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG KHỐI LỚN VÀ
CÁC PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ THÀNH PHẦN BÊ TÔNG KHỐI LỚN
1.1. Tổng quan về bê tông khối lớn
1.1.1. Định nghĩa bê tông khối lớn
Hình 1. 2: Đập bê tông trọng lực Lòng Sông (Bình Thuận)
1.1.2. Đặc tính của bê tông khối lớn.
Đặc tính của bê tông khối lớn là tính chất nhiệt. Phản ứng của xi măng với
nước là phản ứng phát nhiệt. Bê tông là vật liệu dẫn nhiệt kém. Trong bê tông khối
lớn nhiệt không phân tán được nhanh, nên nhiệt độ trong bê tông có thể rất cao,
nhưng nhiệt độ mặt ngoài (nhiệt độ môi trường) lại thấp; do đó có thể phát sinh ứng
suất kéo do sự biến đổi thể tích kết hợp với sự tăng và giảm nhiệt độ trong khối bê
tông. Cần phải có các biện pháp giải quyết thích hợp để hạ thấp nhiệt độ trong bê
tông khối lớn, giảm ứng suất nhiệt và tránh nguy cơ nứt nẻ công trình.
5
Đối với công trình bê tông khối lớn để đồng thời đạt được chất lượng và giá
thành thấp, thường phân ra 2 phần: Phần bên ngoài của khối lớn chịu tác dụng trực
tiếp của môi trường và phần bên trong của khối lớn không tiếp xúc với môi trường.
Ví dụ như đối với đập bê tông thủy lợi, phần bên ngoài chịu tác động của môi
trường nước, yêu cầu chọn cốt liệu tốt, bê tông đặc chắc cường độ cao, chống thấm
tốt để đảm bảo độ bền. Còn bê tông bên trong không chịu tác động của môi trường,
nên yêu cầu chính đối với bê tông là phát nhiệt tối thiểu khi bê tông đông cứng, vì
sự phân bố nhiệt không đều trong khối bê tông gây ra nứt do nhiệt. Mác bê tông ở
phần bên trong không yêu cầu cao, chỉ cần 10 hoặc 15 Mpa và độ chống thấm thấp
W
2,
còn mác bê tông bên ngoài thường bằng 20 hoặc 25 và mác chống thấm W
4
hoặc cao hơn.
1.1.3. Vật liệu dùng để chế tạo bê tông khối lớn.
Để đảm bảo tính ổn định của bê tông khối lớn cần chú ý chọn dùng các vật
liệu thích hợp.
1.1.3.1. Xi măng.
thông trong hỗn hợp bê tông và tăng độ co ngót của bê tông. Các phụ gia đó được
đưa trước vào xi măng hoặc bê tông khi trộn.
Trong bê tông khối lớn thường dùng phụ gia khoáng kèm thêm phụ gia hóa
học như phụ gia hóa dẻo kéo dài thời gian đông kết để làm chậm tốc độ tăng nhiệt
trong bê tông khối lớn.
1.1.3.2. Cốt liệu.
Theo ACI 207.1R - 87 [32], cốt liệu dùng cho bê tông khối lớn chứa các thành
phần có hại và hạt mịn không được vượt quá hàm lượng cho phép được nêu trong
bảng 1.1.
a) Cốt liệu nhỏ (cát)
Có thể dùng cát tự nhiên (cát sông, cát suối…) và cát nghiền từ đá. Trong
trường hợp cát nghiên, phần hạt lọt sàng N
0
200 chủ yếu là bột đá, không phải là đất
sét hoặc diệp thạch như trong cát tự nhiên. Vì vậy đối với cát nghiền, hàm lượng
này cho phép tới 5% đối với bê tông chịu mài mòn và 7% đối với các loại bê tông
khác. Yêu cầu kỹ thuật của cát cũng được qui định trong tiêu chuẩn Việt Nam
(TCVN 7570:2006) [20].
Cũng theo tài liệu Mỹ, cốt liệu nhỏ (cát) dùng cho bê tông khối lớn nói chung
hầu hết lọt qua sàng 4,76mm và thành phần hạt như trong bảng 1.2.
7
Bảng 1. 1: Quy định về hàm lượng tạp chất trong cốt liệu.
Các tạp chất có hại trong cốt liệu
Hàm lượng cho phép
%
1. Đất sét cục và các hạt dễ vỡ 3,0
2. Hạt lọt qua sàng N
0
200 (75µm)
- Đối với bê tông chịu mài mòn
N
0
-50 (0,315mm) 15-35
N
0
-100 (0,16mm) 12-20
Đáy 3-7
Ghi chú: Số trong dấu ngoặc là các sàng Việt Nam có kích thước tương đương
với sàng Mỹ.
8
Tuy nhiên theo tiêu chuẩn Mỹ nếu thông qua thí nghiệm, thấy rằng thành phần
cát khác với bảng 1.2, nhưng cũng chứng tỏ đạt yêu cầu, thì vẫn dùng được.
Trong tài liệu của Mỹ cũng qui định các tạp chất có hại trong cát dùng trong
bê tông khối lớn dùng cho đập không vượt quá các giới hạn như sau:
− Vật liệu lọt sàng N
0
200 không lớn hơn 30%;
− Vật liệu nhẹ không lớn hơn 2%;
− Đất sét cục không lớn hơn 10%;
− Tổng lượng các chất có hại khác (như mica, hạt có màng bao bọc, các hạt dài
dẹt, mềm, đất mùn …) không lớn hơn 2%.
Thành phần hạt của cát trong bê tông khối lớn dùng cho đập được quy định
trong bảng 1.3 [32].
Bảng 1. 3: Thành phần hạt của cát dùng cho đập bê tông khối lớn.
Loại sàng
% sót riêng
(theo khối lượng)
% sót tích lũy
(theo khối lượng)
% lọt sàng
khả năng giảm lượng dùng xi măng trong bê tông và từ đó giảm lượng nhiệt thủy
hóa. Tuy nhiên kích thước danh nghĩa lớn nhất của đá không được lớn hơn 1/4 kích
thước nhỏ của kết cấu. Điều này thường không xảy ra đối với bê tông khối lớn.
Ngoài ra D
max
cũng không lớn hơn 2/3 khoảng cách giữa các thanh cốt thép.
Hàm lượng tạp chất và hạt mịn (lọt sàng N
0
200) của cốt liệu được qui định
như trong bảng 1.4 [32].
Bảng 1. 4: Hàm lượng tạp chất trong cốt liệu lớn.
Các tạp chất trong cốt liệu lớn % (theo khối lượng)
Vật liệu lọt sàng N
0
200 không lớn hơn 0,5
Vật liệu nhẹ không lớn hơn 2,0
Đất sét cục không lớn hơn 0,5
Các tạp chất khác không lớn hơn 1,0
Nên dùng cốt liệu lớn có kích thước danh nghĩa tối ưu để đảm bảo cường độ
thiết kế và các vấn đề khác như phối liệu, trộn, chuyên chở, đổ và đầm bê tông. Cỡ
hạt 150mm được coi là kích thước lớn nhất thực dụng. Theo tài liệu [2], nên sử
dụng cốt liệu nhiều cỡ, cỡ lớn nhất có thể tới 120mm thì càng tốt (tùy điều kiện máy
trộn và kích thước khối đổ). Mặc dù cốt liệu lớn tự nhiên (sỏi) có yêu cầu nước
dùng cho bê tông ít hơn, nhưng thường hiếm và vận chuyển từ xa, nên không đạt
hiệu quả kinh thế bằng việc sử dụng cốt liệu nghiền. Đá nghiền được phân thành
nhiều cỡ : 150 - 80, 80 - 40, 40 - 20, 20 - 5mm; thành phần hạt của các cỡ đó được
qui định như trong bảng 1.5 [32].
10
Tính dễ đổ của hỗn hợp bê tông thường được cải thiện bằng cách giảm tỉ lệ
các hạt quá lớn. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng tỉ lệ % của các cỡ hạt trong cốt liệu có
Cỡ lớn
80 - 40mm
Cỡ vừa
40 - 20mm
Cỡ nhỏ
20 - 10mm
10 - 5mm
150 20 - 30 20 - 32 20 - 30 12 - 20 8 - 15
80
20 - 40
20 - 40
15 - 25
10 - 15
40 40 - 55
30 - 35
15 - 25
20
30 - 70
20 - 45
11
Một số nơi dùng cấp phối "gián đoạn" trong bê tông khối lớn. Đây là cấp phối
thiếu một hay nhiều hơn một kích cỡ. Cấp phối gián đoạn chỉ dùng đạt hiệu quả
kinh tế ở nơi có sẵn loại cốt liệu tự nhiên có cấp phối gián đoạn. Nếu tạo ra cốt liệu
Bê tông khối lớn thường không yêu cầu cường độ cao và không yêu cầu chịu
ứng suất lớn ban đầu. Mác bê tông khối lớn thường được xác định ở tuổi dài ngày
(90 ngày, 1 năm, 2 năm), tùy theo kết cấu và công trình được xây dựng trong thời
gian lâu dài như thế nào. Mẫu kiểm tra cường độ nén phải có kích thước tiêu chuẩn.
Theo tiêu chuẩn Mỹ, dùng mẫu chuẩn hình trụ có đường kính 150mm và chiều cao
300mm với Dmax của cốt liệu không quá 37,5mm; nếu cốt liệu lớn hơn, thì sàng
ướt qua sàng 37,5mm để lấy phần bê tông lọt sàng đem đúc mẫu. Theo tiêu chuẩn
Việt Nam dùng mẫu hình lập phương và kích thước mẫu chuẩn là 150x150x150mm
hoặc mẫu có kích thước lớn hơn. Điều quan trọng là phải làm các thí nghiệm liên
quan ở tuổi bê tông qui định để so sánh cường độ mẫu có kích thước tiêu chuẩn đúc
bằng bê tông đã sàng ướt với cường độ mẫu bê tông có kích thước thích hợp đúc
bằng bê tông không sàng ướt, và tìm hệ số tính đổi cường độ giữa 2 loại mẫu này.
Nói chung khuôn phải có kích thước nhỏ nhất bằng hay lớn hơn 3 lần đường kính
danh nghĩa lớn nhất của cốt liệu lớn (Dmax).
Bê tông chịu nén tốt, thì cũng chịu kéo tốt hơn; nhưng giữa 2 loại cường độ
này không có quan hệ tuyến tính. Biểu thức biểu thị quan hệ giữa cường độ nén và
cường độ kéo có thể như sau: R
k
= 32R
n
2/3
, trong đó: R
k
và R
n
được tính bằng Pa
(1Pa = 10
-6
Mpa).
1.1.4.2. Độ thấm nước.
2
.g/ft cột nước.
13
1.1.4.3. Độ bền
Độ bền của bê tông thể hiện khả năng chống được tác động của điều kiện làm
việc như thời tiết, tác động của các nhân tố hóa học và tác nhân mài mòn…
a) Hiện tượng khô ẩm liên tiếp (vùng bê tông tiếp xúc với mực nước lên xuống) làm
cho bê tông co nở nhiều lần, có thể gây nứt nẻ, làm suy yếu bê tông.
b) Sự ăn mòn hóa học (phá hoại) đối với bê tông nói chung có thể xảy ra do 4
nguyên nhân chính sau đây:
Phản ứng hóa học giữa các thành phần của bê tông.
Bê tông tiếp xúc với nước có axít.
Bê tông tiếp xúc với nước chứa sun phát.
Vôi tiết ra khỏi bê tông do tác dụng với nước mềm.
Trong bê tông khối lớn chỉ có tác dụng đầu tiên được xem là nguyên nhân
quan trọng. Phản ứng kiềm - Silic là phản ứng hóa học giữa kiềm (Na
2
O & K
2
O)
trong xi măng và SiO
2
có tính phản ứng có trong cốt liệu, tạo ra hợp chất mới, nở
thể tích gây nứt bê tông, do đó không nên dùng cốt liệu chứa SiO
2
có tính phản ứng.
Khi phải dùng một loại cốt liệu chứa các thành phần có tính phản ứng, thì dùng xi
măng có hàm lượng kiềm (Na
2
O & K
b) Hệ số Poisson:
Hệ số Poisson có xu hướng nằm trong khoảng 0,16 - 0,22 và tăng ít theo thời
gian bảo dưỡng. Chỉ tiêu này giống môđun đàn hồi, bị ảnh hưởng bởi cốt liệu, hồ xi
măng và có tỉ lệ thuận tương đối với 2 yếu tố đó.
1.1.4.5. Tính biến dạng
a) Từ biến:
Từ biến của bê tông là biến dạng dẻo có khả năng hồi phục một phần. Nó xảy
ra khi bê tông chịu tải và có liên quan đến môđun đàn hồi của bê tông. Bê tông có
môđun đàn hồi lớn, thường có từ biến nhỏ. Hồ xi măng có ảnh hưởng ban đầu đối
với từ biến; với bê tông chứa cùng loại cốt liệu, giá trị của từ biến liên quan chặt chẽ
với hàm lượng xi măng và tỉ lệ N/X của bê tông.
b) Sự biến đổi thể tích:
Biến đổi thể tích sinh ra do biến đổi độ ẩm, biến đổi nhiệt do phản ứng hóa
học sinh ra trong bê tông và do ứng suất phát sinh khi bê tông chịu tải. Khi biến đổi
thể tích quá nhiều, sẽ phát sinh vết nứt. Vết nứt sinh ra trong bê tông là do co nhiều,
cường độ chịu kéo của bê tông không đảm bảo hoặc do khả năng biến dạng khi chịu
kéo của bê tông kém. Vết nứt có thể làm yếu bê tông, ảnh hưởng đến khả năng chịu
tải, độ bền, cũng như hình thái bề mặt của bê tông.
c) Độ co khô.
Độ co khô nằm trong khoảng từ 0,02% của độ dài bê tông nghèo độ sụt thấp
dùng cốt liệu tốt, đến lớn hơn 0,10% đối với bê tông giàu xi măng hoặc bê tông
dùng cốt liệu xấu, nhiều nước trộn [32]. Các nhân tố ảnh hưởng đến độ co khô là :
hàm lượng xi măng, thành phần khoáng của nó và hàm lượng cốt liệu. Việc pha phụ
gia khoáng thường làm tăng độ co khô, ngoại trù trường hợp giảm yêu cầu nước.
d) Sự biến đổi thể tích tự thân là độ co do các phản ứng hóa học xảy ra trong hồ xi
măng trong bê tông không liên quan với lượng nước trong bê tông. Bê tông dùng
puzơlan đôi khi có độ co tự thân lớn hơn bê tông dùng xi măng pooclăng [32]. Sự
biến đổi thể tích tự thân thuần túy có thể nằm trong khoảng từ 0 -150.10
-6
mm
2
97 110 116 124 135
2 CaO.SiO
2
13 25 40 47 55
3CaO.Al
2
O
3
1411 158 204 221 244
4 CaO.Al
2
O
3
.Fe
2
O
3
42 60 90 99 244
16
Các loại xi măng khác nhau cho nhiệt thủy hóa khác nhau như trong bảng 1.9.
Bảng 1. 9: Nhiệt thủy hóa của các loại xi măng theo thời gian.
Lượng phát nhiệt (Kcal/kg)
3 ngày
7 ngày
28 ngày
Xi măng có cường độ sớm 102 108 114
Xi măng thường 79 86 91
Xi măng tỏa nhiệt trung bình 63 74 82
lần lượt là hệ số kinh nghiệm đặc trưng cho sự tỏa nhiệt
của 1% các khoáng C
3
S, C
2
S, C
3
A và C
4
AF và được cho trong bảng 1.10.
C
3
S, C
2
S, C
3
A, C
4
AF: hàm lượng các khoáng chính trong xi măng được tính
bằng % khối lượng xi măng.
Bảng 1.10: Hệ số của công thức tính nhiệt thủy hóa của xi măng pooclăng.
Thời gian thủy hóa, ngày a
t
b
t
c
t
d
t
3 0,929 0,159 1,517 -0,119
) bằng nhiệt độ trong bê tông lúc đổ (T
P
) cộng với nhiệt độ do sự phát nhiệt
lớn của xi măng (T
r
). Từ nhiệt độ (T
P
) đến (T
max
) là thời kỳ tăng nhiệt. Sau khi đạt
đến (T
max
) thì nhiệt độ trong bê tông sẽ giảm dần tới (T
f
); giai đoạn này là thời kỳ
giảm nhiệt. Cuối cùng nhiệt độ bê tông ổn định, đó là thời kỳ ổn định.
Hình 1. 4: Quá trình thay đổi nhiệt trong BT khối lớn
Đơn vị nhiệt lượng pháp định là 1Kcal = 4186,8 J.
Nhiệt độ bê tông khi đổ T
p
và nhiệt độ của bê tông sau khi trộn T
b
có quan hệ
như sau: T
p
= T
b
+ ∆t;