LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học hỏi, nghiên cứu tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề
tài: “Áp dụng phương pháp lý thuyết tập mờ (fuzzy set theory) đánh giá hiệu quả
quản lý tưới của các mô hình quản lý công trình thuỷ lợi liên xã”.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân
thành tới PGS. TS Trần Chí Trung – Viện Khoa học Thủy Lợi, PGS.TS Trần Viết
Ổn – Phó Hiệu trưởng trường Đại học Thủy Lợi, các thầy cô giáo trong trường đã
đã tận tâm giảng dạy, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức quý
báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Thủy Lợi, Khoa Kỹ
thuật tài nguyên nước, phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học và các thầy cô giáo
trong nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học này.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng vì
điều kiện thời gian không cho phép, nên Luận văn này cũng không thể tránh khỏi
những thiếu sót, tác giả rất mong muốn nhận được các ý kiến đóng góp, chỉ bảo
chân tình của các thầy cô giáo, các chuyên gia thủy lợi, đồng nghiệp và bạn bè để
tác giả bổ sung thêm những kiến thức, áp dụng tốt hơn vào việc đánh giá hiệu quả
các mô hình quản lý công trình thủy lợi, cũng như phục vụ tốt cho công tác chuyên
ngành của bản thân.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả
Ngô Ngọc Truyền
5. Kết quả đạt được của luận văn
5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ TƯỚI
6
1.1 Khái quát về hệ thống tổ chức quản lý tưới.
6
1.2 Tổng quan về các mô hình tổ chức quản lý công trình thủy lợi liên xã.
9
1.3 Tổng quan các kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu quả quản lý tưới.
11
1.4 Các phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý tưới.
17
CHƯƠNG II: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP LÝ THUYẾT TẬP MỜ (FUZZY SET
THEORY) ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TƯỚI
21
2.1 Phân tích lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý tưới
21
2.1.1 Cơ sở khoa học xây dựng các chỉ tiêu dánh giá
19
2.1.2 Đề xuất các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý tưới
26
2.2 Áp dụng phương pháp lý thuyết tập mờ (fuzzy set theory) đánh giá hiệu quả
quản lý tưới
30
2.2.1 Khái niệm cơ bản về lý thuyết tập mờ (fuzzy set theory)
30
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Sơ đồ áp dụng phương pháp Lý thuyết tập mờ xếp hạng hiệu quả
các mô hình quản lý tưới
32
Hình 2.2: Ma trận số liệu X 33
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí hệ thống công trình thủy lợi Ngòi Là 40
Hình 3.2: Bản đồ khu tưới kênh N3-3 43
Hình 3.3: Hiện trạng kênh N3-3 43
Hình 3.4: Bản đồ khu tưới kênh N16 47
Hình 3.5: Hiện trạng tuyến kênh N16 47 CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
BQL: Ban quản lý
CTTL: Công trình thuỷ lợi
FAO: Tổ chức nông lương Quốc tế
HDN: Hội dùng nước
HTX: Hợp tác xã
HTXNLN: Hợp tác xã nông lâm nghiệp
HTXDN: Hợp tác xã dùng nước
HTXNN: Hợp tác xã nông nghiệp
IMT: Chuyển giao quản lý tưới
(Irrigation Management Transfer)
IWMI: Viện quản lý nước quốc tế
KTCTTL: Khai thác công trình thuỷ lợi
PIM: Quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng (Pariticipartory Irrigation
Management)
PTNT: Phát triển nông thôn
QLKTCT: Quản lý khai thác công trình
TCDN: Tổ chức dùng nước
TCHTDN: Tổ chức hợp tác dùng nước
TNHH MTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
lợi, quản lý những công trình có quy mô lớn: công trình đầu mối, kênh chính, kênh
cấp II hoặc đến kênh cấp III tuỳ qui mô công trình. Phần còn lại do các tổ chức của
người dùng nước quản lý.
- Các xã, xóm và hội người dùng nước quản lý cá hệ thống công trình nhỏ, các
hệ thống kênh mương nội đồng và các công trình nhỏ xây dựng ở những địa hình
khó khăn.
Đặc điểm nổi bật của mô hình này là quản lý hệ thống kênh dựa trên cơ sở
ranh giới hành chính nên hoạt động tương đối hiệu quả ở những hệ thống kênh nằm
gọn trong một xã, tuy nhiên còn tồn tại nhiều vấn đề đối với những tuyến kênh cấp
2
2 phục vụ tưới tiêu cho liên xã. Mô hình tổ chức quản lý các công trình thủy lợi liên
xã hiện nay là kém hiệu lực, mối quan hệ giữa Công ty Khai thác công trình thủy lợi
(KTCTTL) và các tổ chức hợp tác dùng nước là chưa hiệu quả, chưa có sự hợp tác
giữa các tổ chức hợp tác dùng nước ở các xã. Các Công ty KTCTL chưa khuyến
khích người dân tham gia tích cực trong việc quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng
công trình thủy lợi. Điều này dẫn đến hiệu quả quản lý tưới thấp ở hầu hết các hệ
ổ chức quản lý còn cồng kềnh, kém hiệu lực,
thống thủy lợi liên xã ở nước ta. T
phạm vi quản lý của các doanh nghiệp thủy nông quá rộng (quản lý khép kín từ đầu
mối tới mặt ruộng, trong điều kiện ruộng đất bị chia nhỏ), tổ chức thủy nông cơ sở
hình thành theo kiểu tự phát hoặc áp đặt, thiếu đồng bộ, cơ chế quản lý vẫn nặng
tính bao cấp, hạn chế vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong vùng hưởng lợi
vào quản lý .v.v. dẫn đến việc khai thác của các công trình thủy lợi chỉ đạt được
khoảng 50 – 60% công suất thiết kế.
Chính phủ đã khởi xướng chuyển giao quản lý tưới từ các công trình thủy lợi
nhỏ cho các tổ chức dùng nước từ đầu những năm 1998. Tuy nhiên, kết quả của quá
trình chuyển giao cho đến nay còn rất khiêm tốn. Trong khi hầu hết các công trình
thủy lợi là liên xã hoặc liên huyện thì việc chuyển giao lại hầu hết chỉ thực hiện cho
những công trình nhỏ nằm gọn trong một xã. Năm 1998, tỉnh Tuyên Quang đã giải
thể công ty thủy nông và thành lập mô hình Ban quản lý công trình thủy lợi để quản
các công trình thủy lợi liên xã, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý các công trình thủy lợi liên xã.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
• Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các công
trình thủy lợi phục vụ tưới cho nhiều xã (liên xã).
• Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu đánh giá hiệu quả quản
lý tưới của 5 mô hình tổ chức quản lý công trình thủy lợi liên xã: Công ty quản lý
Kênh N20 (Hệ thống Bắc Nghệ An), Ban quản lý công trình thủy lợi Ngòi Là
(Tuyên Quang), HTXDN kênh N6 (Hệ thống Bắc Nghệ An), Hiệp hội sử dụng nước
quản lý kênh N3-3 (Hệ thống Kẻ Gỗ- Hà Tĩnh), Hợp tác xã dùng nước quản lý kênh
N16 (Hệ thống Phú Ninh).
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
• Cách tiếp cận
- Đánh giá, so sánh hiệu quả quản lý tưới của các mô hình tổ chức quản lý
công trình thủy lợi liên xã là cần thiết để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý các công trình thủy lợi liên xã.
- Việc so sánh hiệu quả của các hệ thống thủy lợi bằng phương pháp chuyên
gia thông thường để xác định các trọng số cho các chỉ tiêu đánh giá còn lệ thuộc vào
chủ quan của người đánh giá.
- Áp dụng lý thuyết tập mờ (fuzzy set theory) khắc phục được chủ quan của
người đánh giá nhờ việc áp dụng công cụ toán học hiện đại để xác định các trọng số
đối với các chỉ tiêu đánh giá để đánh giá khách quan hiệu quả quản lý tưới.
- Kết quả đánh giá khách quan hiệu quả quản lý tưới là cơ sở khoa học cho
việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tưới, nâng cao hiệu quả quản lý công
trình thủy lợi liên xã.
• Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sau được sử dụng trong nghiên cứu luận văn:
- Áp dụng các phương pháp điều tra, đánh giá có sự tham gia PRA để thu thập
các thông tin, như phương pháp phỏng vấn và sử dụng các phiếu điều tra.
6
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TƯỚI
1.1 Khái quát về hệ thống tổ chức quản lý tưới ở nước ta
Đến nay, cả nước hiện có 110 hệ thống thủy lợi lớn (có diện tích phục vụ lớn
hơn 2.000ha), 6.831 hồ chứa các loại với tổng dung tích trữ nước trên 35,34 tỷ m
3
;
trên 10.000 trạm bơm điện lớn; hàng chục nghìn cống tưới tiêu các loại; trên
254.800 km kênh mương (trong đó có trên 1.000 km kênh trục lớn); khoảng 6.100
km đê sông, trên 2.500 km đê biển và trên 25.800 km bờ bao ở vùng đồng bằng
sông Cửu Long. Trong đó, có 904 hệ thống thủy lợi quy mô vừa và lớn có diện tích
phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên. Hệ thống công trình thủy lợi là cơ sở hạ tầng
quan trọng, phục vụ tưới tiêu cho diện tích cây trồng, góp phần quan trọng làm tăng
năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản, đồng thời góp
phần phòng chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế- xã
hội. Trên phạm vi cả nước đã hình thành một cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật thủy
lợi, bảo đảm tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước cho sinh hoạt,
công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và phát điện; tiêu nước cho các khu dân cư đô thị
và nông thôn, đã khắc phục được đáng kể tình trạng úng, hạn, mở rộng diện tích
gieo trồng, cải tạo đất, thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng. Tổng năng lực
thiết kế tưới của các hệ thống bảo đảm cho khoảng 3,45 triệu ha đất canh tác. Về
+ Công ty xây dựng tham gia quản lý khai thác (2).
Trong số các doanh nghiệp, có 3 công ty quản lý hệ thống thủy lợi liên tỉnh
trực thuộc Bộ NN & PTNT, số còn lại quản lý các hệ thống thủy lợi liên huyện hoặc
trong một huyện trực thuộc UBND tỉnh hoặc huyện. Các công ty khai thác công trình
8
thủy lợi (IMC) tỉnh quản lý các công trình đầu mối, kênh trục chính, kênh cấp 1, 2,
3 thuộc hệ thống thủy lợi có qui mô lớn và vừa. Hiện nay các công ty quản lý 91%
tổng số công trình hiện có phục vụ tưới cho 80% tổng diện tích được tưới.
Thực hiện chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo Luật doanh
nghiệp số 60/2005/QH11 do Quốc Hội khoá XI thông qua ngày 29/11/2005 và
Quyết định 38/2007/QĐ-TTg ngày 20/3/2007 của Chính phủ, một số doanh nghiệp
Nhà nước về quản lý KTCT thủy lợi đã chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần. Tuy nhiên, đến nay một số rất ít tỉnh đang
tiến hành cổ phần hoá IMC, chuyển đổi doanh nghiệp thủy nông thành “Công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên” theo Nghị định 95 của Chính phủ nhằm khẳng
định vai trò của nhà nước đối với dịch vụ thủy nông, tạo ra một tổ chức quản lý thật
sự gắn với trách nhiệm và quyền lợi của người dân và của cả người quản lý.
b) Tổ chức thủy nông cơ sở
Ngoài ra, còn có các Tổ chức Hợp tác dùng nước phối hợp quản lý các công
trình thủy lợi nhỏ và thủy lợi nội đồng. Cả nước hiện có 16.238 Tổ chức Hợp tác
dùng nước, bao gồm các loại hình chủ yếu: (i) Hợp tác xã có làm dịch vụ thủy lợi
(Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông), (ii) Tổ hợp
tác dùng nước (Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác, Tổ, Đội thủy nông); và (iii) Ban quản
lý thủy nông. Trong đó, Hợp tác xã và Tổ hợp tác là hai loại hình chính, chiếm tới
90%.
c) Những tồn tại chính
+ Việc phát huy năng lực thiết kế của các công trình thủy lợi chưa cao
Trong khi có nhiều hệ thống thủy lợi phát huy tốt năng lực, đạt mức cao hơn
so với thiết kế ban đầu, như: hệ thống thủy lợi Núi Cốc (Thái Nguyên), Sông Quao,
Cà Giây (Bình Thuận), thì nhiều hệ thống chưa phát huy hết năng lực so với thiết
Vai trò, trách nhiệm của người hưởng lợi chưa được đề cập đúng mức.
- Một số mô hình tổ chức được thành lập theo kiểu áp đặt từ trên xuống nên
chưa làm tốt vai trò cầu nối, hoạt động kém hiệu quả, bền vững.
10
- Cơ chế huy động người dân tham gia quản lý khai thác chưa được đẩy mạnh,
nhiều công trình phân cấp cho xã nhưng không có chủ quản lý.
1.2 Tổng quan về các mô hình tổ chức quản lý các công trình thủy lợi liên xã
Chính phủ đã khởi xướng chuyển giao quản lý tưới từ các công trình thủy lợi
nhỏ cho các tổ chức dùng nước từ đầu những năm 1998. Tuy nhiên, kết quả của quá
trình chuyển giao cho đến nay còn rất khiêm tốn. Trong khi hầu hết các công trình
thủy lợi là liên xã hoặc liên huyện thì việc chuyển giao lại hầu hết chỉ thực hiện cho
ác mô hình
những công trình nhỏ nằm gọn trong một xã. C quản lý công trình thủy
lợi liên xã là mô hình chuyên khâu về thủy nông quản lý công trình thủy lợi liên xã
dưới các hình thức phổ biến là Ban quản lý công trình thủy lợi ở tỉnh Tuyên Quang
và Hợp tác xã dùng nước ở một số tỉnh do các dự án quốc tế hỗ trợ.
Mô hình Ban quản lý công trình thủy lợi Ngòi Là là công trình thủy lợi lớn
nhất của tỉnh Tuyên Quang, cung cấp nước tưới cho 392 ha thuộc 4 xã Ỷ La, Trung
Môn, Hưng Thành và Kim Phú, trong đó 2 xã Ỷ La và Trung Môn thuộc huyện và 2
xã Hung Thành và Kim Phú thuộc thị xã Tuyên Quang. Tử năm 1996, theo chính
sách đổi mới hệ thống quản lý thủy nông của tỉnh Tuyên Quang, Công ty thủy nông
được giải thể và mô hình Ban quản lý công trình thủy lợi (CTTL) Ngòi Là được
thành lập để quản lý hồ Ngòi Là. Ban quản lý CTTL Ngòi Là là mô hình đồng trách
nhiệm giữa Ban quản lý và Hợp tác xã nông lâm nghiệp (HTXNLN) quản lý hồ
Ngòi Là là công trình thủy lợi liên xã, liên huyện.
Loại hình Hợp tác xã dùng nước là mô hình chuyên khâu thủy nông có cơ cấu
tổ chức, hoạt động theo quy định của luật Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, tài
khoản và con dấu. Loại hình này ít phổ biến (chiếm dưới 5% tổng số Hợp tác xã
làm dịch vụ thủy lợi của cả nước) chủ yếu phổ biến ở một số tỉnh có dự án đầu tư từ
nguồn vốn ODA hoặc tài trợ của tổ chức phi chính phủ (NGO) như Thanh Hóa,
trong khi các yếu tố đầu vào chủ yếu là nước tưới, đất và tài chính.
Cho đến nay, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về xây dựng, kiểm
nghiệm hệ thống chỉ tiêu đánh hiệu quả hoạt động của hệ thống thủy nông, cũng
như hiệu quả quản lý của mô hình tổ chức quản lý. Các nghiên cứu cũng đề xuất hệ
thống chỉ tiêu đánh giá so sánh hiệu quả giữa các công trình thủy lợi được quản lý
bởi các mô hình quản lý khác nhau.
Trần Chí Trung (2005) phân tích hiệu quả hoạt động của 3 mô hình khác nhau
để quản lý hệ thống công trình thủy lợi liên xã. Mô hình thứ nhất là mô hình Công
ty Khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL), mô hình thứ hai là mô hình Ban quản lý
công trình thủy lợi và mô hình thứ ba là mô hình hợp tác xã dùng nước. Mô hình
thứ nhất là rất phổ biến hiện nay, trong khi hai mô hình sau mới được áp dụng ở
một số dự án điểm nhờ có chính sách cải cách thể chế quản lý thủy nông ở một số
tỉnh. Sự hoạt động của 3 mô hình thể chế trên được phân tích dựa trên 3 điểm
nghiên cứu tương ứng là N22A, Ngòi Là và N4B ở 2 hệ thống thủy lợi khác nhau.
Kênh N22A và N4B là các kênh cấp 2 liên xã của hệ thống tưới Bắc Nghệ An, một
hệ thống tự chảy lớn có diện tích tưới gần 21.000 ha ở tỉnh Nghệ An thuộc khu vực
miền Trung. Ngòi Là là một hệ thống hồ chứa, có dung tích 3,2 triệu m
3
ở tỉnh
Tuyên Quang thuộc khu vực phía Bắc. Tất cả các điểm nghiên cứu này đều có diện
tích tưới khoảng vài trăm hecta, phục vụ tưới cho các xã khác nhau. Hiệu quả tưới
của các điểm nghiên cứu được phân tích qua 10 chỉ tiêu đánh giá về các phương
diện phân phối nước, sản xuất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế. Kết quả xác định
các chỉ tiêu đánh giá với các số liệu được thu thập, đo đạc vụ xuân năm 2003 được
trình bầy ở Bảng 1.1.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả cung cấp dịch vụ tưới ở Ngòi Là và
N4B tốt hơn nhiều so với N22A. Đặc biệt là phân phối nước rất công bằng ở hệ
13
thống N4B. Do tác động của việc cung cấp dịch vụ tưới, hiệu quả sản xuất nông
nghiệp ở 2 hệ thống Ngòi Là và N4B cũng cao hơn nhiều so với N22A. Kết quả
484,3
551,8
566,6
Sản lượng trên đơn vị nước tưới (US $/m
3
)
0,051
0,066
0,060
Sự biến động năng suất lúa ở đầu và cuối kênh
1,47
1,18
1,07
Chi phí thủy lợi tương đối (%)
1,18
7,9
5,6
Tỷ lệ thu thủy lợi phí (%)
1,07
100,0
100,0
Khả năng tự chủ tài chính
1,20
1,05
1,00
Nguồn: Trần Chí Trung (2005)
14
Dương thị Kim Thư (2006) đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của hệ thống
thủy nông Nam Thạch Hãn bằng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả. Ỏ nghiên
cứu này, 3 nhóm chỉ tiêu được đề xuất với 21 chỉ tiêu đánh giá, bao gồm nhóm chỉ
2
Hệ số sử dụng ruộng đất (hệ số quay vòng
ruộng đất)
1,86
3
Năng suất cây trồng được tưới
kg/ha/vụ
4.620,4
4
Lượng nước tiêu thụ/đơn vị sản phẩm
m3/kg
15
5
Giá trị sản lượng/m3 nước tiêu thụ
đồng/m3
257
6
Sản lượng/công lao động
kg/công
13,9
7
Hệ số sử dụng nước tương đối
2
8
Khả năng cung cấp nước
2,3
9
3,5
15
Tỷ lệ thu thủy lợi phí
%
99
16
Khả năng tự chủ tài chính
%
105
17
Số công trình trên kênh chính, cấp I, cấp II
công trình
533
18
Số công trình điều tiết/1000ha diện tích tưới
công trình
69,6
Nhóm chỉ tiêu thể chế, tổ chức hiệu quả quản lý 19
Số cán bộ công ty, xí nghiệp thủy nông trên
một đơn vị diện tích
người/1000ha 10,6
20
Số cán bộ công ty, xí nghiệp thủy nông tham
gia trực tiếp vào công tác vận hành sửa chữa
(O&M)/ha
người/1000ha 8,3
4
Lượng nước tiêu thụ trên đơn vị sản phẩm
m
3
/ kg
5
Hiệu suất cung cấp nguồn nước tưới Gn
%
1,43
6
Sản lượng/công lao động
kg/công
18
7
Hệ số sử dụng nước tương đối
1,5
8
Tình hình sử dụng điện
%
1,21
9
Công bằng trong phân phối nước
1
10
Hiệu ích hệ thống
2
100
17
Khả năng tự chủ tài chính
%
100
18
Sản lượng cây trồng trên 1 đơn vị nước tưới
kg/m3
5,9
17
19
Giá thành trên một đơn vị nước tưới
đ/m3
234
20
Giá trị sản phẩm trên 1 đơn vị nước tưới
đ/m3
2.757
21
Thủy lợi phí trên một đất canh tác
đ/ha
946.434
22
Số công trình trên kênh chính,cấp I, cấp II
công trình
62
23
Số công trình điều tiết/1000ha diện tích tưới
công trình
24,3
trong nghiên cứu này là: