1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Hệ thống thủy lợi Xuân Thủy có diện tích tự nhiên 35.376,62 ha trong đó đất
nông nghiệp có khoảng 20.902,5 ha giới hạn bởi sông Ninh Cơ ở phía tây, sông
Hồng ở phía bắc, tỉnh lộ 51B và sông Sò ở phía tây nam, bao gồm đất đai của huyện
Giao Thủy và phần lớn huyện Xuân Trường (phần huyện Xuân Trường nằm ở phía
bắc tỉnh lộ 51 B).
Hệ thống thủy lợi Xuân Thủy có khoảng 244km kênh cấp I. Hầu hết các
kênh này đều có nguồn gốc từ sông suối tự nhiên được cải tạo mà thành kênh tưới
tiêu kết hợp và liên thông với các sông ngoài qua các cống điều tiết. Nguồn nước
cấp cho hệ thống chủ yếu lấy từ sông Hồng qua sông Ngô Đồng (sông Sò), qua một
số cống lấy nước khác nằm trên đê hữu Hồng và trên đê tả sông Ninh Cơ.
Cũng như nhiều hệ thống thủy lợi khác ở đồng bằng Sông Hồng, trên hệ
thống thủy lợi Xuân Thủy đang có sự chuyển dịch rất mạnh về cơ cấu sử dụng đất:
diện tích đất dành cho sản xuất các loại cây nông nghiệp truyền thống như lúa và
cây màu lương thực đang có xu hướng giảm dần, ngược lại đất nuôi trồng thủy sản,
đất trồng rau và một số loại cây công nghiệp khác có giá trị kinh tế cao đang có xu
hướng tăng lên… Trên thực tế nhu cầu cấp nước cho các ngành dùng nước trên hệ
thống đã có nhiều thay đổi khác với thiết kế ban đầu. Trên hệ thống đang tồn tại
mâu thuẫn giữa yêu cầu cấp nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng
đáp ứng của các công trình thủy lợi đã có…
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, khả năng cấp nước, đề xuất các giải pháp cải
tạo, nâng cao hiệu quả cấp nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của các
địa phương trên hệ thống thủy lợi Xuân Thủy là rất cần thiết. Vì lý do nêu trên, đề
tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học của một số giải pháp cải tạo nâng cấp công
trình thủy lợi nhằm nâng cao hiệu quả cấp nước của hệ thống thủy lợi Xuân
Thủy tỉnh Nam Định” được đề xuất nghiên cứu.
2
Thu thập tài liệu liên quan đến hệ thống. Tổng quan kết quả nghiên cứu của
các tác giả có liên quan đến đề tài để rút ra vấn đề chung có thể áp dụng cho đề tài.
b) Nghiên cứu thực địa
Điều tra, khảo sát ngoài thực địa để đánh giá hiện trạng khai thác, vận hành
công trình; hiện trạng sử dụng đất và xu hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất; các
đặc điểm tự nhiên và xã hội có liên quan và ảnh hưởng đến hệ thống…. Đặc biệt
khảo sát kỹ hiện trạng cấp nước.
c) Nghiên cứu nội nghiệp
Tổng hợp, phân tích các số liệu và các tài liệu đã điều tra, thu thập được.
Nghiên cứu, tính toán, tìm nguyên nhân của hiện tượng để từ đó đề xuất giải pháp
khắc phục.
6. Bố cục của luận văn
Luận văn được trình bày trong 3 chương chính không kể phần mở đầu và kết
luận gồm:
Chương 1: Tổng quan về hệ thống thủy lợi Xuân Thủy
Chương 2: Yêu cầu cấp nước
Chương 3: Cơ sở khoa học của một số biện pháp cải tạo nâng cấp
công trình thủy lợi và nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác hệ thống
thủy lợi Xuân Thủy
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THỦY LỢI XUÂN THỦY
1.1.Tổng quan về điều kiện tự nhiên trên hệ thống thủy lợi Xuân Thủy
1.1.1. Vị trí ranh giới, địa lý hành chính
Hệ thống thuỷ lợi Xuân Thuỷ nằm ở phía Nam tỉnh Nam Định, gồm 39 xã
5
Cồn Cát nằm ở phía nam huyện có cao trình (+2,0) đến (+2,5) gồm các xã Giao Lâm,
Giao Phong, Giao Tiến. Những vùng thấp nằm sát biển có cao trình (+0,2) đến (+0,4)
gồm một phần các xã Giao Châu, Giao Long, Giao Hải, Giao An và Giao Thiện.
3. Vùng bãi sông, bãi biển nằm ngoài đê: gồm có bãi sông Sò có diện tích
132ha thuộc các xã Giao Tiến, Giao Tân, Giao Thịnh, Xuân Hòa, Xuân Vinh có cao
trình tự nhiên trung bình (+0,8) đến (+1,0). Vùng bãi Cồn Lu – Cồn Ngạn cao trình
trung bình (+0,7).
Nhìn chung, Cao trình đất phân bố không đều, xu thế thấp dần từ ven đê
sông Hồng, sông Ninh Cơ về sông Sò và Biển. Ngoài ra, ở xa đầu mối tưới có một
số vùng cao ở xã Giao Phong, Giao Thịnh và một số vùng ven kênh Cồn Nhất,
Cồn Năm, Cồn Giữa.
Nếu lấy mực nước triều cao trung bình nhiều năm 2,5 m tại Vịnh Bắc Bộ (vị
trí trạm thuỷ văn Ba Lạt, cách cửa sông Hồng 8 km) để so sánh thì phần lớn diện
tích các huyện Giao Thuỷ sẽ ngập chìm trong nước biển. Do vậy ngay từ thời Lý,
cha ông ta đã phải đắp đê sông, biển để bảo vệ cho hầu hết các khu vực thuộc đồng
bằng để chống lũ trong mùa lũ và chống xâm nhập triều, mặn vào trong đồng trong
mùa cạn.
1.1.3. Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng
Đại bộ phận đất đai thuộc hệ thống thủy lợi Xuân Thủy là đất phù sa cổ do
sông Hồng và sông Ninh Cơ bồi đắp. Trải qua quá trình canh tác lâu đời, dưới tác
dụng của con người và thiên nhiên nên có phần thay đổi về bản chất:
1) – Về thành phần cơ lý: chủ yếu là đất thịt nặng và đất thịt trung bình, một số
vùng cao ven sông là đất cát và cát pha.
Tỷ lệ so với diện tích canh tác của toàn huyện (%)
- Đất thịt nặng chiếm 57%
- Đất thịt trung bình chiếm 37%
- Đất thịt nhẹ chiếm 2,5%
- Đất cát và cát pha chiếm 3,5%
o
C. Hàng năm có 4 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) nhiệt
độ trung bình dưới 20
o
C. Tháng 1 là tháng lạnh nhất có nhiệt độ trung bình 16,7
o
C.
Mùa hạ có 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 10), nhiệt độ trung bình trên 25
0
C, tháng
nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình là 29.4
0
C.
7
1.1.4.2. Độ ẩm
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm ở vùng nghiên cứu đạt 85,8%.
Ba tháng mùa xuân (từ tháng 2 đến tháng 4) là thời kỳ ẩm ướt nhất, độ ẩm trung
bình tháng đạt 89- 92% hoặc cao hơn. Hai tháng đầu mùa đông là thời kỳ khô hanh
nhất, độ ẩm trung bình đạt 82%, nhiều ngày dưới 80%. Độ ẩm ngày cao nhất có thể
đạt tới 98% và thấp nhất có thể xuống dưới 64%.
1.1.4.3. Bốc hơi
Lượng bốc hơi bình quân năm khá cao, đạt 1.118mm. Từ tháng 4 đến tháng 8
là các tháng có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm. Các tháng mùa đông (từ tháng 11
năm trước đến tháng 1 năm sau) có lượng bốc hơi nhỏ nhất.
1.1.4.4. Mưa
Tổng lượng mưa bình quân nhiều năm ở khu vực nghiên cứu là 1.640,8mm.
Số ngày mưa trung bình năm khoảng 130 đến 140 ngày. Các tháng từ tháng 12 năm
trước đến tháng 4 năm sau là những tháng ít mưa hoặc có lượng mưa rất nhỏ, lượng
mưa trung bình tháng đạt từ 20mm đến 40mm, thậm chí có những năm hàng tháng
86 89 92 91 86 84 83 85 85 84 82 82 85,8
Bốc hơi (mm)
88 92 94 97 98 96 96 97 95 93 87 85 93,2
Vận tốc gió (m/s)
2 2 1,8 2,1 2 2,2 1,6 1,7 1,9 1,8 1,8 1,9 1,9
Số giờ nắng (h) 2,19 1,2 1,21 2,68 5,63 5,31 5,87 4,92 4,78 4,71 3,98 3,34 3,8
Lượng mưa
27,4 30,1 40,5 67,8 163,1 175 172,1 311,7 359 223 50,1 21 1640,8
1.1.5. Đặc điểm thủy văn
1.1.5.1. Mạng lưới sông ngòi
Trên địa bàn hệ thống có 2 sông lớn là sông Hồng, sông Ninh Cơ bao quanh
và nhiều kênh mương nội đồng… Trong đó có 60 kênh cấp 1 với chiều dài là
244km; 743 kênh cấp 2 với tổng chiều dài 838km góp phần vào việc tưới tiêu và
9
cung cấp nước dùng cho người dân địa phương. Con sông lớn nhất và là nguồn
cung cấp nước chính của hệ thống là sông Hồng chảy từ Tây Bắc xuống Đông
Nam. Ngoài ra, sông Ninh Cơ là chi lưu của sông Hồng cũng có vai trò quan trọng
trong việc cấp nước tưới cho hệ thống thủy lợi Xuân Thủy nhất là vào mùa kiệt khi
mặn xâm nhập sâu vào sông Hồng làm cho các cống tưới trên triền sông Hồng
không thể mở cống lấy nước để phục vụ sản xuất.
Độ dốc chung của sông ngòi rất nhỏ, dòng sông uốn khúc quanh co. Các
sông lớn thường chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra biển.
- Sông Hồng: Chảy qua phía Bắc của hệ thống, đây là con sông có hàm
lượng phù sa lớn, là nguồn nước tưới cho lưu vực, đồng thời cũng là con sông nhận
nước tiêu. Mùa lũ trên sông Hồng bắt đầu từ tháng VI đến hết tháng X. Về mùa lũ
nước sông thường dâng lên rất cao, chênh lệch giữa mực nước sông và cao độ đất
trong đồng từ 1 ÷1.5m ảnh hưởng lớn đến việc tiêu úng.
Lũ của sông Hồng chảy qua hệ thống thủy nông Xuân Thủy mang tích chất
lũ ở hạ du mập và có nhiều đỉnh. Đỉnh lũ lớn nhất năm thường xuất hiện vào giữa
T
mực nước ngoài sông cao hơn trong
đồng do tác động của thủy triều lên xuống. Song do ảnh hưởng của mặn xâm nhập
vào nội đồng nên việc thời gian mở cống lấy nước rất hạn chế.
Về mùa lũ mực nước ngoài sông thường cao hơn mực nước trong các sông
nội đồng. Mỗi khi có mưa lớn sinh úng nội đồng vì quá sức chứa của các kênh, sông
trục, mực nước các sông nội đồng tăng nhanh đến khi mực nước trong sông và trên
đồng xấp xỉ nhau thì bắt buộc phải tiêu khẩn cấp lượng nước trong sông bằng động
lực, các trạm bơm hoạt động nhiệm vụ triệt để hoặc bơm vợi. Trường hợp đặc biệt
mực nước ngoài sông lớn tới mức không được bơm qua đê thì mực nước trong sông
trục đành để nguyên không rút xuống thấp được. Những trường hợp đó trong đồng
chịu úng tạm thời đến khi nước sông ngoài rút tới mức được phép bơm (dưới báo
động III).
11
Hỡnh 1: Quỏ trỡnh mc nc Hmax ti cng Cn Nht ti Xuõn Thy v lu
lng bỡnh quõn ngy h Hũa Bỡnh t thỏng I n thỏng V
0.4
0.8
1.2
1.6
2.0
2.4
2.8
3.2
Mực nớc (m)
0
500
Năm 2004
Năm 2010
Năm 2004
Năm 2010
độ mặn năm 2004
độ mặn năm 2010
Diễn biến mực nớc Hmax tại cống Cồn Nhất
Xuân Thủy - Nam Định
Quá trình lu lợng xả hồ Hòa Bình
Diễn biến mực nớc trạm Ba Lạt
Quá trình mực nớc Hmax tại cống cồn nhất - xuân thủy ,
lu lợng xả bình quân ngày hồ Hòa Bình
từ tháng I đến tháng V
23/I - 3/II (đợt 1)
7/II - 13/II (đợt 2)
24/II - 25/II (đợt 3)
Thời gian đổ ải
(Ngun: Quy hoch h thng thy li Nam nh) 12
1.1.5.2. Tài nguyên nước mặt
Nguồn nước mặt tại Xuân Thủy khá phong phú, hệ thống sông ngòi khá dày đặc
với hai sông lớn là sông Hồng, sông Ninh Cơ.… và một hệ thống hồ, đầm, ao, kênh
mương dày đặc nên tiềm năng nước ngọt bề mặt tương đối lớn. Sông Hồng là sông lớn
nhất chảy qua phía Bắc hệ thống, sông Ninh Cơ là chi lưu của sông Hồng. Ngoài ra,
trên địa bàn hệ thống còn có một hệ thống sông ngòi vừa và nhỏ như sông Ngô Đồng
1.1.5.3. Tài nguyên nước ngầm
Trên địa bàn hệ thống có 2 tầng chứa nước chính có ý nghĩa quan trọng trong
Chế độ thủy triều ở khu vực vịnh Bắc Bộ là chế độ nhật triều với biên độ triều
biến đổi từ 3 - 4m.
1.1.5.6. Tình hình xâm nhập mặn
Về mùa cạn, lượng nước trong sông nhỏ, thủy triều xâm nhập vào khá sâu và
mạnh, đưa mặn vào rất sâu, có độ mặn 1
0
/
00
xâm nhập vào sâu cách cửa biển 30- 50
km, gây trở ngại cho việc lấy nước dùng cho các ngành kinh tế ngày càng phát triển,
nhất là cho nông nghiệp.
Mặn đã ảnh hưởng đến nguồn nước tưới cho khu vực Xuân Thủy. Hàng năm
về mùa kiệt, lưu lượng nguồn nước ngọt giảm, nước thủy triều dâng cao đưa nước
mặn từ biển Đông thâm nhập sâu vào các triền sông, ảnh hưởng lớn đến việc lấy
nước của các cống đầu mối, gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp vụ chiêm
xuân. Trong năm 2010 mặn đã lên cao và xâm nhập sâu vào cửa sông ảnh hưởng
đến công tác lấy nước phục vụ vùng trồng cây vụ Đông và sinh hoạt của nhân dân
vùng Xuân Thủy. Các cống từ Cồn Năm tới cống Cồn Nhì mặn không mở được,
cống Ngô Đồng mở được thời gian rất ngắn từ 2 giờ đến 3 giờ, ngày 10/11/1010
mặn tại Hạ Miêu I đo được là 2,5%
o (đây là cống trên cùng thuộc hệ tiếp nước
Xuân Thủy trên triền sông Hồng). Đặc biệt, theo số liệu đo đạc ngày 01/10/2010
mặn tại cống Ngô Đồng là 7%o trong khi năm 2009 mặn bắt đầu xuất hiện vào
14
7/10/2009 là 4%o), ngày 10/11/2010 mặn tại cống Ngô Đồng là 7,5%o so với cùng
kỳ năm 2009 mặn đo được là 5,2%o. Thời gian lấy nước của các cống chỉ đạt 3-
4giờ /ngày.
Ảnh hưởng mặn trên sông Hồng, Ninh Cơ là trở ngại chính, gây bất lợi cho sự
ổn định và phát triển của sản xuất nông nghiệp. Mặn không chỉ hạn chế thời gian
mới chỉ có 120ha vùng kinh tế mới Điện Biên - Cồn ngạn nằm trong đê bao ngoài
bãi lấy nước một phần từ hệ thống thủy lợi Xuân Thủy qua các cống
số 10, Hoành Đông.
Diện tích đất làm muối: 515,07ha
Đất lâm nghiệp: 2.445,2ha
Diện tích đất khu công nghiệp: 410ha
Diện tích còn lại là của khu dân cư, khu đô thị, đường xá và các loại đất khác.
Bảng 1.2: Tỷ lệ diện tích của một số loại cây trồng so với tổng diện tích
đất canh tác trên hệ thống năm 2013
Loại cây trồng
Diện tích Tỷ lệ
(ha) (%)
Lúa đông xuân 13.416 83,3
Lúa mùa 13.666 84,9
Lạc Đông xuân 765 4,8
Đậu tương thu đông 770 4,8
DT đất nông nghiệp 16.097
- Diện tích tự nhiên của hệ thống được phân bố theo các đơn vị hành chính
cấp xã, thị trấn trực thuộc hai Huyện như trong phụ lục 1.1: 16
1.2.1.2 Quy hoạch sử dụng đất
Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, để đáp ứng mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế phát triển theo
hướng thị trường, phương hướng sử dụng đất sẽ có những thay đổi đáng kể để đáp
ứng mục tiêu phát triển của các ngành.
Tổng diện tích đất nông nghiệp sẽ có xu hướng giảm: chủ yếu do diện tích
đất hai lúa giảm do chuyển đổi một số vùng trũng kém năng suất sang nuôi trồng
lượng và chất lượng. Nhiều tiến bộ về giống, thức ăn, thú y được đưa nhanh vào sản
xuất như nuôi lợn ngoại tỷ lệ nạc cao.
Từ năm 2005 đến năm 2013 tỷ trọng đàn trâu, bò có xu hướng giảm dần từ
5.599 con xuống 3.934 con do nhu cầu sức kéo trong sản xuất nông nghiệp thấp và
dần bị thay thế bằng nguồn máy móc khác. Đàn gia cầm có xu hướng tăng từ
1.255.000con năm 2005 lên đến 1.290.000 con vào năm 2013. Đàn lợn có xu hướng
tăng do nhu cầu về thịt trong những năm gần đây ngày càng lớn, năm 2013 số lượng
đàn lợn giữ ở mức khoảng 152.900 con.
Tính đến năm 2020 chăn nuôi tiếp tục là phần quan trọng trong ngành nông
nghiệp của vùng, do vậy số lượng đàn trâu, bò, lợn và gia cầm tiếp tục có xu hướng
tăng về số lượng so với năm 2013.
18
Bảng 1.4: Số lượng đàn gia súc, gia cầm năm 2013 và dự kiến năm 2020
Phân theo vùng Trâu, bò Lợn Gia cầm
Năm 2013:
3.934 152.900 1.290.000
Lưu vực Đồng Nê - Chợ Đê
648 21.022 178.689
Lưu vực Cát Xuyên - Láng
459 20.778 243.174
Lưu vực Trà Thượng
414 19.500 165.237
Lưu vực Xuân Ninh
73 7.834 21.069
Lưu vực Ngô Đồng - Cồn Giữa
803 26.500 230.056
Lưu vực Cồn Nhất
705 32.578 215.986
Lưu vực Cồn Năm - Hàng Tổng
đê. Ngoài ra phi lao còn được trồng dọc theo tuyến đê, bờ kênh mương chính, kênh
cấp 1, cấp 2 ven đê.
Ngoài ra, tại phía ngoài cửa Ba Lạt, vùng kinh tế mới Cồn Ngạn là vườn
Quốc gia Xuân thuỷ có diện tích 2.560 ha chủ yếu là rừng ngập mặn có hệ sinh thái
nước mặn, lợ đa dạng; có nhiều loài chim quý hiếm như két, giang, cò mỏ thìa v.v
1.2.3. Hiện trạng và quy hoạch phát triển thủy sản
1.2.3.1. Hiện trạng phát triển thủy sản
Nuôi trồng thuỷ sản chiếm ưu thế trên địa bàn, nhất là nuôi trồng thuỷ sản
nước mặn, lợ thu hút nhiều lao động, sản lượng lớn, giá trị hàng hoá cao. Tuy năm
2013 diện tích nuôi có nhiều biến động tổng diện tích chỉ còn là: 5.381,41 ha giảm
271 ha. Trong đó: diện tích nuôi ngao là 921 ha; diện tích nuôi nước ngọt là:
1.843,41 ha; diện tích nuôi chuyên tôm là 301 ha; diện tích nuôi sinh thái là 100 ha;
nuôi kêt hợp là: 2.217 ha. Diện tích nuôi Ngao và chuyển đổi tăng, song diện tích
nuôi thủy sản nước lợ, ao nuôi trong dân cư giảm do qui hoạch và xây dựng Vườn
Quốc gia, nạo vét, nâng cấp đê sông Sò và chuyển ao thành đất ở.
1.2.3.2 Qui hoạch vùng nuôi trồng thuỷ sản:
Từ nay đến 2020 không chuyển diện tích trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản.
Giữ nguyên diện tích nuôi trồng thủy sản hiện có. Tập trung phát triển nuôi theo
chiều sâu bằng cách áp dụng công nghệ tiên tiến cho các vùng nuôi công nghiệp,
bán công nghiệp, cải tạo hệ thống thuỷ lợi để nâng dần năng suất các vùng nuôi sinh
20
thái ổn định, bền vững. Giải quyết đồng bộ về sản xuất, nhập giống, thức ăn, thuốc
thú y thủy sản. Tăng cường công tác kiểm tra giống sạch bệnh, thức ăn chất lượng
cao, phòng trừ dịch bệnh.
- Vùng nuôi thủy sản nước ngọt.
Giữ nguyên diện tích đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt hiện có. Diện tích
nuôi nước ngọt là: 1.843,41 ha
Trong đó:
+ Ao trong khu dân cư: 1.402,41ha.
Quất Lâm có tổng diện tích tự nhiên là 1.711,53 ha, chiếm 4,83% diện tích tự nhiên
của vùng, dân số đô thị là 22.373 người chiếm 6,28% dân số tự nhiên của toàn
vùng, mật độ dân số đạt 1.551 người/km
2
(mật độ dân số trung bình của vùng
1.121người/km
2
).
Quá trình đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ. Thị trấn Xuân Trường, Quất Lâm,
Ngô Đồng đang được đầu tư xây dựng ngày càng hoàn thiện về cơ sở hạ tầng kỹ
thuật và hạ tầng xã hội. Một số khu vực ven đường tỉnh lộ, huyện lộ và các khu vực
tập trung giao lưu kinh tế của các xã, đã hình thành những cụm dân cư, cụm điểm
phát triển sản xuất kinh doanh, hoạt động thương mại - dịch vụ và các thị tứ, mang
sắc thái đô thị nhỏ, như: Khu cầu Lạc Quần, khu vực chợ xã Xuân Tiến, khu Bùi
Chu, khu làng Hành Thiện – xã Xuân Hồng, khu Đại Đồng – xã Giao Thanh, khu
chợ Giao Tiến,
Dự kiến đến năm 2020 dân số sống tại các khu đô thị là 25.169 người.
1.2.6. Hiện trạng và quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng.
Hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sự
phát triển của mọi nền kinh tế, vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp,
đảm bảo các quan hệ liên lạc thông suốt kịp thời, cung cấp đủ điện nước cho toàn
22
bộ hoạt động của nền kinh tế vùng… Chính vì tầm quan trọng như vậy, nên hiện
nay hai huyện tập trung cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng:
- Về giao thông đường bộ: xây dựng mới tuyến đường tỉnh lộ 489, đường
quốc lộ ven biển Thái Bình – Nam Định – Ninh Bình đi qua địa bàn từ TT Ngô
Đồng – TT Quất Lâm. Ngoài ra, các tuyến đường liên xã, nội xã đang ngày được
đầu tư nâng cấp góp phần cải thiện bộ mặt nông thôn mới.
- Phát triển mạng lưới cấp điện, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước, xử lý
đến ô nhiễm đất, hủy hoại đất. Nhiều tồn tại trong việc sử dụng đất từ lâu với số
lượng lớn chưa được giải quyết dứt điểm.
- Thiếu các giải pháp đồng bộ trong sản xuất nông nghiệp, như: chưa giải
quyết tốt giữa khai thác sử dụng với cải tạo đất, giữa sản xuất với tiêu thụ và chế
biến sản phẩm, giữa mục đích kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, đã ảnh
hưởng nhiều đến hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn.
Nguyên nhân của những vấn đề tồn tại nêu trên là ở một số địa phương
công tác quản lý đất đai vẫn còn buông lỏng và chính sách quản lý còn nhiều bất
cập; nhận thức về chính sách đất đai trong nhân dân không đồng đều, ý thức của
người sử dụng đất chưa cao, chưa chấp hành nghiêm pháp luật đất đai.
1.2.8.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình công
nghiệp hóa và nền kinh tế thị trường.
+ Đất nông nghiệp giảm dần nhằm giải quyết đất cho các mục đích khác và
cho nhu cầu phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
+ Đất phi nông nghiệp tăng lên cùng với quá trình gia tăng dân số tự nhiên
và sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông, thuỷ lợi và các công trình
24
xây dựng khác.
+ Đất chưa sử dụng giảm dần do việc cải tạo nhằm đưa vào sản xuất với mục
đích phát triển kinh tế - xã hội.
Nói chung, trong những năm qua các loại đất đều có sự biến động nhưng chủ
yếu là đất nông nghiệp có xu hướng giảm dần, đất phi nông nghiệp tăng lên phù hợp
với quy luật của sự phát triển của nền kinh tế và diện tích đất chưa sử dụng dần
được đưa vào sử dụng. Nhận định những năm tới cùng với sự phát triển nhanh của
nền kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng đất cho các ngành kinh tế, đặc biệt là xây
dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà ở sẽ tăng mạnh.
1.3. Hiện trạng công trình thủy lợi cấp nước tưới
1.3.1. Giới thiệu quy mô, nhiệm vụ công trình
Hệ thống thủy lợi Xuân Thủy trước đây là một phần của hệ thống thuỷ lợi
TN
= 4.324,53 ha (trong đó diện tích đất canh tác F
CT
= 2.691,95ha) được
cấp nguồn nước tưới tại chỗ qua hệ thống kênh - cống tưới: Các cống Hạ Miêu I, Hạ
Miêu II, Cát Xuyên, Liêu Đông, Tài. Kênh tưới chính là kênh Láng.
Các cống, kênh trên ngoài nhiệm vụ tưới tại chỗ cho lưu vực Cát Xuyên -
Láng còn cấp nguồn tưới cho khu vực phía nam hệ thống (17 xã huyện Giao Thuỷ
có nhiều khó khăn về tưới do nguồn nước khai thác tại chỗ hạn chế vì ảnh hưởng
của xâm nhập mặn) qua Hệ tiếp nước Xuân Thuỷ (bao gồm các cống tưới từ Hạ
Miêu I đến Cồn Năm và hệ thống kênh chuyển nước Láng - Ngô Đồng - Giao Sơn,
Cồn Nhất - Đông Bình, Diêm Điền, Bình Điền - Cồn Năm - Hàng Tổng). Hiện tại
cống Cát Xuyên, Tài, Liêu Đông đã được xây dựng mới và đưa vào sử dụng cùng
với các cống lấy nước đầu mối trên đê hữu sông Hồng từ Hạ Miêu I đến Cống Tài
thuộc hệ Xuân Thuỷ đảm bảo năng lực cấp nước trên địa bàn và chuyển nước xuống
vùng Giao Thủy qua kênh Láng
- Trà Thượng: Thuộc địa phận huyện Xuân Trường có diện tích tự nhiên
F
TN
= 3.026,83 ha (Trong đó diện tích canh tác F
CT
= 1.731,27 ha) được cấp nguồn
tưới từ sông Ninh Cơ bằng các cống tưới Trà Thượng, Bắc Câu, Rộc I.
- Sông Xuân Ninh: Thuộc địa phận huyện Hải Hậu có diện tích đất tự nhiên
F
TN
= 564 ha (Trong đó diện tích đất canh tác F
CT
= 526,0 ha) được cấp nguồn tưới
tưới từ sông Ninh Cơ qua cống Kẹo, 1 phần diện tích thấp được tưới bằng Rộc I.