Thảo luận Phân tích các gói kích cầu của Việt Nam giai đoạn 2008-2009 - Pdf 27

GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 4
1.Khái niệm 4
1.1.Kích cầu là gì? 5
1.2.Biện pháp 5
1.3.Nguyên tắc kích cầu 5
2.Chính sách kích cầu của Việt Nam giai đoạn 2008- 2009 6
2.1.Tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009 6
2.2.Gói kích cầu thứ nhất : 1 tỷ USD 10
2.2.1.Phương án sử dụng khoản kích cầu đầu tư 17.000 tỷ đồng vừa được Chính phủ
thông qua 12
2.2.1.1.Cấp bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp 12
2.2.1.2. Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp 13
2.2.1.3. Hỗ trợ người nghèo đón Tết 14
2.2.2. Giải ngân hàng chục nghìn tỷ đồng vốn vay kích cầu 14
2.2.3.Kết quả của gói kích cầu 18
2.2.3.1. Tác động tích cực của “gói kích cầu” 18
2.2.3.2. Hệ lụy trái chiều của “gói kích cầu” 19
2.3.Gói kích cầu thứ 2: 8 tỷ USD 22
2.3.1.Quá trình giải ngân 23
2.3.2.Kết quả bước đầu của gói kích cầu 2 24
2.3.2.1.Những kết quả tích cực 24
2.3.2.2.Một số tồn tại khi thực hiện gói kích cầu thứ 2 25
2.3.2.3.Một số biện pháp 27
2.3.3.Gói kích cầu thứ 2 trong năm 2010 30
LỜI MỞ ĐẦU
Khủng hoảng kinh tế là một trong những vấn đề nóng và cấp thiết hiện nay của
thế giới. Trên thực tế nền kinh tế thế giới đã có dấu hiệu xấu đi từ cuối năm 2007 với

này. Xin chân thành cảm ơn.
2
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
3
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
NỘI DUNG
1. Khái niệm
4
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
1.1. Kích cầu là gì?
Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ (hay còn gọi
tiêu dùng công cộng) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế. (Theo
Wikipedia)
1.2. Biện pháp
Giảm thuế và tăng chi tiêu Chính phủ
1.3. Nguyên tắc kích cầu
Nhiều nhà kinh tế cho rằng để một gói kích cầu có hiệu quả thì phải đảm bảo ít
nhất ba tiêu chí: kịp thời, đúng đối tượng và ngắn hạn.
Kích cầu phải kịp thời
Kịp thời không chỉ là việc Chính phủ phải hành động nhanh chóng mà những

kinh tế cần được kích thích nhất.
Thâm hụt ngân sách lớn trong tương lai cũng đồng nghĩa với suy giảm tiết
kiệm trong dài hạn, dẫn tới giảm đầu tư và ảnh hưởng tới tăng trưởng. Đó là chưa kể
tới việc thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tới tài khoản vãng lai (mà Việt Nam hiện
nay mức độ thâm hụt tài khoản vãng lai đã ở mức đáng báo động).
Tóm lại, khi cân nhắc các biện pháp kích cầu cụ thể, thì các nguyên tắc trên
đều phải được tuân thủ và xem xét một cách đồng thời. Nếu một biện pháp kích cầu
cụ thể mà vi phạm một trong những nguyên tắc đó thì về cơ bản đó chưa phải là một
biện pháp kích cầu tốt.
()
2. Chính sách kích cầu của Việt Nam giai đoạn 2008- 2009
2.1. Tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009
 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 2008
(1)
Kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và
trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Giá dầu thô và giá nhiều loại
nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong những tháng giữa
năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trong nước; lạm phát
1()
/>6
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
xảy ra tại nhiều nước trên thế giới; khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một số
nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm; thiên tai, dịch bệnh đối với cây
trồng vật nuôi xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và
đời sống dân cư. Và Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Tình hình kinh tế -
xã hội Việt Nam năm 2008 chia làm ba giai đoan :
Giai đoạn 1 :
Với vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế (thành viên WTO, lần đầu
tiên được bầu là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ) và
về dòng vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp và gián tiếp ào ạt đổ vào trong nước. Nhưng

các quyết định về tăng, giảm thuế nhập khẩu, về hạn ngạch, về giá xăng dầu liên tục
được đưa ra (có thời kỳ đạt tốc độ bình quân sáu quyết định lớn, nhỏ một tuần).
Các quyết định đó đều được đưa ra mà không hề có sự tham gia của hiệp hội
doanh nghiệp, của các chuyên gia ngoài hệ thống của bộ, không ít trường hợp bộ này
cũng không tham khảo ý kiến bộ khác (như giữa Bộ Tài chính và Công Thương hay
Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, Y tế và Giao thông ).
Doanh nghiệp luôn đối mặt với những bất ngờ từ các phía và không ít doanh
nghiệp nhỏ và vừa đã không đủ sức vượt qua gánh nặng quá sức về tín dụng, lãi suất,
giá cả, biến động thị trường… đã “lịm dần”.
Các quyết định thiếu căn cứ thực tiễn như cấm xe ba gác, cấm bán hàng rong ở
các thành phố lớn trong khi số nông dân mất đất không có việc làm tăng lên, quyết
định hạn chế lái xe vì ngực lép, nhẹ cân tỏ ra bất khả thi, gây xôn xao dư luận.
Đời sống của nhân dân cũng bị ảnh hưởng mạnh: Ở nông thôn, việc “thu hồi
đất theo quy hoạch” làm cho người dân nơm nớp lo sợ thì ở các thành phố lớn nạn
kẹt xe, lô cốt thu hẹp đường giao thông tràn lan, úng lụt, ô nhiễm môi trường làm
giảm sút rõ rệt chất lượng cuộc sống của người dân. Người bệnh, học sinh đối mặt với
những chi phí thực tế “bất thành văn” và trước nguy cơ đe dọa mạng sống của người
thân và lợi ích của con em, người dân đều phải chấp nhận hy sinh.
Sự phân hóa giàu nghèo tăng nhanh, nhiều người giàu lên nhanh chóng trong
khi đa số người dân khó khăn hơn trong cuộc sống.
8
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
Giai đoạn 3:
Bắt đầu từ quí 3-2008 một sự cộng hưởng ngoài ý muốn giữa hiệu lực của các
biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ với tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính, suy thoái kinh tế toàn cầu đã xuất hiện. Giá hàng loạt nguyên vật liệu trên thế
giới giảm mạnh khiến tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm dần và chỉ số giá của hai tháng
10 và 11 lần lượt giảm thấp hơn tháng trước.
Trong khi đó, xuất khẩu giảm cả về kim ngạch lẫn khối lượng, đối mặt với
những khó khăn dồn dập từ các nước nhập khẩu (về tín dụng, khả năng thanh toán,

lịch cũng giảm mạnh. Đầu tư nước ngoài đăng ký nhiều nhưng khó khăn vốn nên triển
khai chậm.
Tại phiên họp thường kỳ tháng 1, Chính phủ cũng đã quyết định dành 17.000
tỷ đồng kích thích sản xuất, thông qua việc giảm 4% lãi suất vay ngân hàng cho các
doanh nghiệp. Gói kích cầu này sẽ triển khai ngay trong tháng 2, nhằm tạo ra 420.000
tỷ đồng vốn vay lãi suất thấp. Với những giải pháp mà Chính phủ đề ra, có thể đầu
tháng 6 sẽ bước đầu chặn được suy giảm kinh tế.
(3)
2.2. Gói kích cầu thứ nhất : 1 tỷ USD

Ông Cao Sỹ Kiêm –thành viên
Hội đồng Tư vấn chính sách tài
chính, tiền tệ quốc gia.
Trao đổi với VnExpress.net, ông Bùi Hà, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế quốc
dân, cho biết, nguồn vốn 1 tỷ USD sẽ dành cho các dự án được thẩm định là có tính
3()
/>10
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
khả thi, có khả năng sinh lời, hoặc các dự án có hiệu quả đang thực hiện nhưng thiếu
vốn. Sau khi có Nghị quyết của Chính phủ về kế hoạch kích cầu, dự kiến quá trình
soạn thảo danh mục các nhóm dự án được phân bổ nguồn vốn sẽ khá nhanh. Nhiều
khả năng nguồn vốn sẽ được tập trung giải ngân trong năm 2009, nhất là cho các dự
án đang thực hiện nhưng thiếu vốn.
Gói kích cầu sẽ dành cho dự án cơ sở hạ tầng, nhà ở giá rẻ tại các khu công
nghiệp, khu kinh tế tập trung, và nhà ở cho học sinh, sinh viên. Đây đều phải là các
dự án đã hoàn tất khâu chuẩn bị, chỉ còn chờ vốn. Ngoài ra, cũng có thể xem xét các
dự án điện mà EVN trả lại do không có vốn để thực hiện.
Số tiền 1 tỷ USD được huy động từ nguồn dự trữ và cho các doanh nghiệp vay
với lãi suất ưu đãi, có hoàn trả. Nguồn vốn sẽ được giao cho Ngân hàng Phát triển
Việt Nam (VDB) quản lý và thẩm định các dự án trước khi quyết định có rót vốn hay

2.2.1. Phương án sử dụng khoản kích cầu đầu tư 17.000 tỷ đồng vừa được
Chính phủ thông qua
Tại phiên họp ngày 15/1/2009, Thường trực Chính phủ và một số bộ ngành
liên quan đã quyết định thông qua phương án sử dụng khoản kích cầu đầu tư 17.000
tỷ đồng trong năm 2009.
2.2.1.1. Cấp bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp
Chính phủ quyết định nguồn vốn kích cầu đầu tư này được sử dụng chủ yếu
bằng hình thức bù lãi suất khi doanh nghiệp vay vốn lưu động phục vụ cho sản xuất
kinh doanh (các doanh nghiệp vay vốn lưu động để nhập khẩu hàng tiêu dùng chưa
thiết yếu, vay kinh doanh chứng khoán, tài chính, ngân hàng, vay vốn để trả nợ các
hợp đồng tín dụng khác… không được hưởng chính sách ưu đãi này).
Sau khi thảo luận với Ngân hàng Nhà nước, các bộ ngành liên quan, Thường trực
Chính phủ đã thống nhất mức bù lãi suất là 4% cho các khoản vay vốn lưu động theo
tiêu chí nêu trên trong năm 2009 với thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa không quá 12
tháng.
Đối tượng được hưởng thụ bao gồm tất cả các các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khi vay vốn lưu
động ở các ngân hàng thương mại Việt Nam. Thời điểm thực hiện bắt đầu ngay sau
khi quyết định thông qua.
 Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, mục đích của việc cấp bù lãi suất là
nhằm hỗ trợ doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng
với chi phí hợp lý, tạo động lực cho hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng mở rộng
hoạt động huy động vốn và cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính triển khai
12
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
ngay phương án cấp bù lãi suất thông qua cho vay vốn lưu động ở các ngân hàng
thương mại
Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành liên quan khẩn trương nghiên cứu thủ
tục cho vay nhanh, đơn giản, hiệu quả đối với các dự án, công trình kinh tế - xã hội

Việc xác định hộ nghèo thực hiện theo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTTg
của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010.
Đối với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, Chính phủ sẽ hỗ trợ 100% từ
ngân sách Trung ương để hỗ trợ người nghèo.
Các địa phương có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung
ương dưới 50% thì ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ 50% kinh phí. Các địa phương còn
lại, kinh phí do ngân sách địa phương tự thu xếp.
Theo ước tính, tổng kinh phí hỗ trợ cho các hộ nghèo nhân dịp Tết Kỷ Sửu với
mức nêu trên là khoảng 3.800 tỷ đồng.
2.2.2. Giải ngân hàng chục nghìn tỷ đồng vốn vay kích cầu
Riêng các ngân hàng quốc doanh đã
cho vay trên 32.000 tỷ đồng vốn ưu đãi theo
chương trình kích cầu của Chính phủ. Khối cổ
phần cũng chạy đua xử lý, thẩm định nhu cầu
khách hàng để đẩy mạnh giải ngân.
Với 17.000 tỷ đồng để bù 4% lãi suất
của Chính phủ, dự kiến sẽ có khoảng 425.000
tỷ đồng vốn vay ưu đãi được bơm ra nền kinh tế. Tính đến cuối tuần trước, các ngân
hàng quốc doanh giải ngân hơn 32.000 tỷ đồng trong tổng số gần 200.000 tỷ đồng đã
đăng ký.
Riêng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trong tuần qua đã
cho vay 3.300 tỷ đồng với các đối tượng được Chính phủ cấp bù lãi suất. Số liệu tính
14
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
tới giữa tuần này lên đến 5.000 tỷ đồng. Đa phần khách hàng được vay ưu đãi với lãi
suất 6% (đã trừ 4% theo yêu cầu của Chính phủ). Những trường hợp có quan hệ
truyền thống với ngân hàng, lãi suất thực trả sẽ thấp hơn.
NGÂN
HÀNG
Vietcombank Ngân

định 50.000-
70.000 tỷ
đồng
đã có
2.260 hồ
sơ xin
vay ưu
đãi/ dự
định
24.000 tỉ
đồng
Trên 500
tỷ đồng /
dự định
15.000-
17.000 tỉ
đồng
đăng ký
8.000-10.000
tỷ đồng
cho vay được
72 khách
hàng, với
doanh số cho
vay 281 tỷ
đồng và hàng
trăm khách
hàng đã đăng
ký giải ngân
trong tháng 3.

vốn lưu động sản xuất kinh doanh có nhu cầu vay vốn trong năm 2009. Đặc biệt, mức
lãi suất thấp nhất 2% một năm sẽ dành cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu.
16
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
Sau một tuần triển khai, mới đây ACB đã quyết định áp dụng điều chỉnh giảm
mức lãi suất kích cầu xuống mức 1% một năm (sau khi được hỗ trợ lãi suất) cho sản
phẩm cho vay VND bổ sung vốn lưu động phục vụ xuất khẩu.
Lãi suất cho vay tài trợ xuất khẩu trước khi giao hàng tại ACB ở mức từ 4,4 %
một năm, sau khi giao hàng (chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu, cho vay bảo đảm
khoản phải thu từ bộ chứng từ xuất khẩu) lãi suất từ 4% một năm. Tài trợ xuất khẩu
VND trước khi giao hàng lãi suất từ 1% một năm, sau khi giao hàng từ 0,5% một
năm.
Theo ông Nguyễn Thanh Toại, Phó tổng Giám đốc ACB, lượng khách hàng
đăng ký vay vốn là khá cao tuy nhiên chất lượng hồ sơ chưa đạt như mong muốn. Vì
vậy, quy trình xử lý, thẩm định, đối chiếu mục đích sử dụng vốn vay, phương án sản
xuất kinh doanh của khách hàng là những vấn đề mà ngân hàng hết sức thận trọng.
Để có thêm khách hàng và đảm bảo an toàn cho đồng vốn giải ngân, nhiều
ngân hàng cổ phần như Quốc tế (VIB) hay Liên Việt đã ký thỏa thuận với Ngân hàng
Phát triển Việt Nam (VDB) về việc cấp bảo lãnh vay vốn. Theo chương trình này, các
ngân hàng sẽ mở rộng cho vay với các đối tượng là doanh nghiệp vừa và nhỏ (có vốn
điều lệ tối đa 20 tỷ đồng và sử dụng dưới 500 lao động) với lãi suất hợp lý.
Ngân hàng Quốc tế VIB bắt đầu giải ngân từ đầu tuần này, với nhiều hồ sơ xin
vay vốn hạn mức lớn từ 10 tới 20 tỷ đồng. Trong đó, các bạn hàng là doanh nghiệp
xuất khẩu có nhu cầu vay nhiều nhất. Theo số liệu ban đầu, VIB đã cho vay khoảng
2.000 tỷ đồng theo chương trình cấp bù lãi suất 4%.
LienVietBank cũng đăng ký 8.000-10.000 tỷ đồng cho vay với các khách hàng
thuộc diện cấp bù lãi suất 4%. Tính đến 14/2, ngân hàng đã cho vay được 72 khách
hàng, với doanh số cho vay 281 tỷ đồng và hàng trăm khách hàng đã đăng ký giải
ngân trong tháng 3.
Thủ tướng vừa có buổi làm việc với các ngân hàng nhằm đánh giá kết quả

do ngân hàng phát hành. Sự ổn định và hoạt động tích cực của hệ thống ngân hàng là
điều kiện cần thiết hàng đầu cho sự ổn định và gia tăng các hoạt động đầu tư xã hội
trong nước trong bối cảnh sụt giảm dòng đầu tư tư nhân và suy giảm kinh tế toàn cầu
những tháng đầu năm 2009.

Thứ tư, hơn nữa, “gói kích cầu” còn trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt
động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, tạo xung lực mạnh cho phát
18
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
triển TTCK và TTBĐS trong nước, duy trì động lực tăng trưởng kinh tế, giữ vững ổn
định xã hội. Những hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại quốc gia được tài trợ từ
“gói kích cầu” nếu thực hiện có hiệu quả cũng sẽ có tác động tích cực đến tăng dòng
vốn chảy vào và mở rộng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp và nền kinh tế, từ đó
trực tiếp góp phần vào phát triển kinh tế -xã hội đất nước trong cả hiện tại, cũng như
tương lai.
Những tác động nói trên có thể được minh chứng bằng một số ví dụ thực tế:
Công ty cổ phần Việt Vương (DN chuyên sản xuất cột ăng-ten, cột điện,… tại Phú
Thọ), số vốn vay hỗ trợ lãi suất mà Công ty tiếp cận được là 15 tỷ đồng cùng với số
tiền được giãn thuế trong năm 2009 là 1 tỷ đồng đã giúp Công ty duy trì hoạt động và
đến thời điểm này đang đẩy mạnh sản xuất để kịp giao hàng trong sáu tháng cuối
năm.
Còn với Công ty cổ phần Chế biến Nông lâm sản Yên Thành (huyện Yên Bình,
tỉnh Yên Bái), vốn hỗ trợ lãi suất được vay là 1,2 tỷ đồng đã tạo điều kiện cho Công
ty tăng giá thu mua măng nguyên liệu của nông dân để có đủ nguyên liệu sản xuất,
đáp ứng kịp thời cho đơn hàng xuất khẩu 10 container sản phẩm măng chế biến của
đối tác Đài Loan (Trung Quốc). Giám đốc Nguyễn Ðức Dũng cho biết: Do Công ty là
DN nhỏ nên toàn bộ phần vốn lưu động đều phải đi vay ngân hàng. Năm 2008, có
thời điểm, Công ty phải vay ngân hàng 700 triệu đồng với lãi suất 21%/năm, nên làm
bao nhiêu cũng chỉ đủ để trả lãi vay ngân hàng. Nay nhờ vốn hỗ trợ lãi suất, Công ty
đã khôi phục sản xuất, duy trì việc làm cho người lao động.

kích cầu và kỳ vọng lạm phát cao còn tạo sức ép tăng tỷ giá USD và làm tăng mất cân
đối cơ cấu tín dụng, cụ thể: làm tăng nhu cầu vay tiền VND và dùng các khoản vay
này để mua USD cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thay vì doanh
nghiệp vay trực tiếp USD của ngân hàng. Hành động này có lợi cho doanh nghiệp tiếp
cận được nguồn vốn hỗ trợ từ gói kích cầu do vừa được hưởng ưu đãi 4% lãi suất, vừa
tránh được rủi ro tỷ giá trong tương lai (không phải mua USD với tỷ giá cao hơn
trong tương lai để trả nợ cho các khoản vay USD có thể mua được với tỷ giá thấp
trong hiện tại, thậm chí khi có lạm phát cao thì doanh nghiệp còn có lợi hơn khi trả
nợ bằng VND); nhưng hành động này gây ra 2 tác động tiêu cực: làm cho các doanh
nghiệp khác có nhu cầu vay VND thực sự để kinh doanh lại khó tiếp cận hơn nguồn
vốn vay VND của ngân hàng, đồng thời làm gia tăng căng thẳng về nhu cầu mua
USD trên thị trường tiền tệ trong nước, gây sức ép tăng tỷ giá USD, trong khi USD
cho vay của ngân hàng thì bị ế (cũng có nghĩa là dư nợ cho vay USD của ngân hàng
20
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
bị giảm thiểu, ngân hàng có nhiều tiền gửi USD mà không cho vay được). ( Nguồn
Tạp chí Tài chính Điện tử ngày 05/01/2010).
Để những chính sách kích cầu nhanh chóng phát huy hiệu quả, chúng tôi
xin đưa ra một số đề xuất như sau:
- Cần đánh giá và rút kinh nghiệm ngay việc thực hiện gói kích cầu 1 tỷ USD:
bao nhiêu DN được vay vốn hỗ trợ lãi suất để đưa vào sản xuất kinh doanh? bao
nhiêu lao động không bị mất việc nhờ các giải pháp kích cầu? bao nhiêu mặt hàng
giảm giá bán lẻ nhờ giảm 50% thuế GTGT? bao nhiêu DN được giảm thuế TNDN và
số tiền đó là bao nhiêu? bao nhiêu dự án được đầu tư mới? Và quan trọng hơn cả là
những bài học gì cần rút ra cho việc thực hiện các giải pháp tiếp theo?
- Đảm bảo gói kích cầu thứ 2 được thiết kế một cách có chủ đích, có tính toán
cẩn trọng, với đúng nghĩa "kích cầu". Từng nhóm giải pháp cần được luận cứ cụ thể,
có cơ chế vận hành cụ thể, bảo đảm tính minh bạch cho mỗi đồng tiền chi ra và dự
liệu cả các tác động tích cực lẫn những rủi ro có thể phát sinh.
- Vận hành quyết liệt hệ thống giám sát, theo dõi đánh giá việc thực hiện các

những yếu kém nội tại, thực hiện những cải cách có tính cơ cấu tuy rất khó khăn
nhưng hứa hẹn sẽ đưa Việt Nam trở lại quỹ đạo tăng trưởng nhanh và bền vững
2.3. Gói kích cầu thứ 2: 8 tỷ USD
Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 12/5/2009 đã công bố chính thức về gói kích cầu
có giá trị 143.000 tỷ đồng của Chính phủ. Theo đó, gói kích cầu tương đương 8 tỷ
USD được chia thành 8 phần có các giá trị khác nhau.
Cụ thể các phần của gói kích cầu này bao gồm:
Thứ nhất, hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17.000 tỷ đồng.
Thứ hai, tạm thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản trước khoảng 3.400 tỷ đồng.
Thứ ba, ứng trước Ngân sách Nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách
khoảng 37.200 tỷ đồng.
Thứ tư, chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoản
30.200 tỷ đồng.
Thứ năm, phát hành thêm Trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ đồng.
Thứ sáu, thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28.000 tỷ đồng.
22
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
Thứ bảy, tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp khoảng 17.000
tỷ đồng.
Thứ tám, các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm
bảo an sinh xã hội khoảng 7.200 tỷ đồng.
2.3.1. Quá trình giải ngân
Gói kích cầu thứ 2 đã được thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng quyết định
khi kết thúc phiên họp chính phủ ngày 30/10/2009.
Gói kích cầu trị giá 8 tỷ USD tương đương 143.000 tỷ Việt Nam đồng.
Nguồn vốn được huy động từ: Ứng trước ngân sách Nhà nước trong các năm
tiếp theo khoảng 37.200 tỷ đồng; Chuyển nguồn kế hoạch ngân sách Nhà nước và trái
phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng 30.200 tỷ đồng; Bổ sung
thêm kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2009 là 20.000 tỷ đồng (theo
mof.gov.vn)

các doanh nghiệp khác không thuộc đối tượng vay nhưng có thể vay được.
Khả năng tái lạm phát 2 con số cao, khả năng bội chi ngân sách.
Chính sách giảm thuế – giãn thuế có hai hạn chế lớn. Thứ nhất, nó không giúp
được những doanh nghiệp thua lỗ vì đằng nào cũng không phải đóng thuế thu nhập.
Thứ hai, cùng với chính sách giảm thuế VAT, chắc chắn sẽ tác động tiêu cực tới ngân
sách quốc gia vì hai loại này hiện chiếm tới khoảng 40% tổng nguồn thu của ngân
sách.
2.3.2. Kết quả bước đầu của gói kích cầu 2
2.3.2.1. Những kết quả tích cực
Các thành viên Chính phủ đã thống nhất nhận định: gói kích thích kinh tế được
đánh giá là "toàn diện kịp thời, chủ động, có sức lan tỏa và được các chuyên gia kinh
tế nước ngoài đánh giá là sự sáng tạo của Chính phủ VN". Gói kích thích này đã giúp
các doanh nghiệp, các ngân hàng và cuộc sống của người dân ổn định, góp phần ổn
định kinh tế vĩ mô. Cũng như theo đánh giá ban đầu của Ủy ban Tài chính ngân sách
của Quốc hội là việc triển khai thực hiện vốn kích cầu của Chính phủ khá kịp thời, đã
tạo ra “cú hích” cho nền kinh tế đang trong tình trạng trì trệ và suy giảm
24
GVHD: Th.S Trần Nguyễn Minh Ái Nhóm 02
Nhìn ở góc độ kinh tế vĩ mô cho thấy số vốn chúng ta bỏ ra không nhiều,
nhưng đã và đang mang lại hiệu quả tốt, đó là giữ được ổn định kinh tế vĩ mô; hỗ trợ
an sinh xã hội, hỗ trợ cho vấn đề lao động, việc làm, ngăn chặn suy giảm kinh tế.
Thực tế tình hình hiện nay chúng ta đang thực hiện các gói kích cầu, lượng tiền
tung ra rất lớn, đó là chưa kể các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu tung tiền đầu tư trở
lại, thị trường chứng khoán cũng bắt đầu khởi sắc, vì vậy việc điều hành kinh tế vĩ mô
của Chính phủ phải hết sức cẩn trọng, chỉ cần chúng ta không cân đối được lượng tiền
và hàng, không sản xuất ra được những sản phẩm thì kinh tế chúng ta sẽ mất cân đối
và sẽ dẫn đến lạm phát.
Kết quả thực hiện các gói kích cầu của Chính phủ được các Ngân hàng thương
mại và các ngành liên quan triển khai tích cực, như: Về hỗ trợ lãi suất cho vay ngắn
hạn đến ngày 15/10/2009 dư nợ đạt 12.296 tỷ đồng, lãi suất hỗ trợ trong tháng là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status