Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế của tổng công ty tư vấn thủy lợi Việt Nam (HEC) - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp cao học, được sự giúp đỡ
của các thầy, cô giáo trường Đại học Thủy Lợi, đặc biệt là thầy giáo PGS.TS Lê
Đình Chung, sự tham gia góp ý của các nhà khoa học, các nhà quản lý, bạn bè,
đồng nghiệp và cùng sự nỗ lực của bản thân. Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận
văn thạc sĩ với đề tài: “Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất
lượng sản phẩm tư vấn thiết kế của tổng công ty tư vấn thủy lợi Việt Nam
(HEC)” chuyên ngành Quản lý xây dựng.
Các kết quả đạt được là những đóng góp nhỏ về khoa học trong quá trình
nghiên cứu và đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng công tác tư vấn thiết kế để
đảm bảo và nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển công ty theo hướng bền vững.
Tác giả rất mong nhận được những lời chỉ bảo và góp ý của các thầy, cô giáo và các
đồng nghiệp/.
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Lê Đình Chung đã
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá
trình thực hiện luận văn. Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo thuộc các bộ môn
khoa Kinh tế và Quản lý, phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học trường Đại học
Thủy Lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ của
mình.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp và gia định đã động
viên, kích lệ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả
Trần Trọng Hải
BẢN CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các thông
tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc. Kết quả nêu

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 29
2.1.2 Năng lực hoạt động của công ty 30
2.1.3 Tình hình tài chính của Công ty và một số dự án đã thực hiện 33
2.2 Mô hình quản lý về chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế của công ty HEC 34
2.2.1 Mô hình điều hành của công ty 34
2.2.2 Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận 35
2.2.3 Quá trình kiểm soát chất lượng sản phẩm thiết kế 40
2.3 Vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế của Công ty 41
2.3.1 Chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng của công ty 41
2.3.2 Công tác quản lý chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế của công ty 43
2.4 Những kết quả và tồn tại của Công ty trong công tác quản lý chất lượng 52
2.4.1 Những kết quả đạt được 52
2.4.2 Những vấn đề tồn tại cần khắc phục 54
Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TƯ
VẤN THIẾT KẾ CỦA CÔNG TY TƯ VẤN THỦY LỢI VIỆT NAM (HEC) 56
3.1 Quan điểm định hướng của công ty 56
3.1.1 Về quan điểm 56
3.1.2 Định hướng phát triển công ty 57
3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm 58
3.2.1 Xây dựng mô hình quản lý chất lượng 58
3.2.2 Xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế 61
3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn lực 73
3.2.4 Đẩy mạnh công tác marketing xây dựng và quản bá thương hiệu 74
Kết luận chương 3 75
Kết luận và kiến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

có lỗi sai bởi chúng ta chỉ cần sai một lỗi nào đấy như: có hai bản vẽ thi công khác
nhau về kích thước nó làm cho người thi công không biết phải thi công thế nào, còn
có rất nhiều lỗi sai trong quá trình tư vấn thiết kế gây bị hư hỏng, phá hủy công
trình; làm mất thời gian của các bên có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ
của công trình. Vì thế chất lượ
ng sản phẩm tư vấn thiết kế là bước cực kỳ quan
trọng trong việc xây dựng công trình.
Vì vậy tác giả luận văn chọn đề tài “ Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế của tổng công ty tư vấn thủy
lợi Việt Nam (HEC)”
2. Mục tiêu của đề tài
Đánh giá tầm quan trọng của sản phẩm tư vấn thiết kế đối với công trình.
2

Các thuộc tính chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế (chức năng, nhiệm vụ của
công trình, độ an toàn,có chi phí thấp, tính mỹ thuật…).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đánh giá, phân tích mô hình quản lý chất
lượng sản phẩm của công ty tư vấn 11 (HEC11) thuộc Tổng công ty tư vấn thủy lợi
Việt Nam – CTCP (HEC).
Đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế của
công ty tư vấn 11 (HEC11).
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô hình quản lý sản phẩm tư vấn thiết kế qua các tài liệu sách báo,
các thông tin trên internet. Thu thập thông tin về quản lý chất lượng sản phẩm của
công ty HEC11. Đánh giá chất lượng sản phẩm, những ưu điểm và nhược điểm của
mô hình quản lý đó.
4. Kết quả dự kiến đạt được:
Xây dựng ra một mô hình quản lý chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế cho
công ty tư vấn 11.


được và tuân thủ đúng các tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật đã được đặt ra và được thiết
kế trước”
[5]. Quan niệm có tính cụ thể, dễ đo lường đánh giá mức độ chất lượng
của sản phẩm và dễ xác định rõ ràng những chỉ tiêu kỹ thuật cần đạt được cũng như
4

các biện pháp nâng cao chất lượng qua việc giảm sai hỏng trong sản xuất. Tuy
nhiên quan niệm này chú trọng và thiên về kỹ thuật sản xuất đơn thuần chỉ phán ánh
mối quan tâm của người sản xuất đến việc đạt được những chỉ tiêu chất lượng đặt ra,
mà quên mất việc đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. Chất lượng được xem xét
tách rời nhu cầu của thị trường do đó có thể làm sản phẩm bị tụt hậu không đáp ứng
được sự biến động rất nhanh của thị trường.
Định nghĩa chất lượng của tổ chức ISO: “chất lượng là tập hợp các đặc tính
của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu
cụ thể hoặc tiểm ẩn”
[5]. Định nghĩa này đã được đông đảo các quốc gia chấp nhận
và Việt Nam đã ban hành thành tiêu chuẩn quốc gia của mình TCVN 8402:1999.
Thỏa mãn nhu cầu là điều kiện quan trọng nhất trong việc đánh giá bất kỳ sản phẩm
hay dịch vụ nào và chất lượng là phương diện quan trọng nhất có sức cạnh tranh.
Như vậy, chất lượng không chỉ là một đặc tính đơn lẻ mà toàn bộ các đặc tính
của sản phẩm quyết định mức độ đáp ứng các yêu cầu của khách hàng.
1.1.2 Các thuộc tính của chất lượng sản phẩm
Mỗi sản phẩm đều cấu thành bởi rất nhiều các thuộc tính có giá trị sử dụng
khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Chất lượng của các thuộc tính này
phản ánh mức độ chất lượng đạt được của sản phẩm đó. Mỗi thuộc tính chất lượng
của sản phẩm thể hiện thông qua một tập hợp các thông số kinh tế - kỹ thuật phản
ánh khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Các thuộc tính này quan hệ chặt
chẽ với nhau tạo ra một mức độ chất lượng nhất định của sản phẩm. Đối với những
nhóm sản phẩm khác nhau, những yêu cầu về các thuộc tính chất lượng cũng khác
nhau. Tuy nhiên, những thuộc tính chung nhất phản ánh chất lượng sản phẩm gồm:

- Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm [5]: Cũng giống như độ an toàn, mức độ
gây ô nhiễm được coi là yếu tố bắt buộc các nhà sản xuất phải tuân thủ khi đưa sản
phẩm của mình ra thị trường.
- Tính tiện dụng
[5]: Phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận
chuyển, bảo quản, dễ sử dụng của sản phẩm và khả năng thay thế khi có những bộ
phận hỏng.
- Tính kinh tế của sản phẩm
[5]: Đây là yếu tố rất quan trọng đối với những
sản phẩm khi sử dụng có tiêu hao nguyên liệu, năng lượng. Tiết kiệm nguyên liệu,
6

năng lượng trong sử dụng trở thành một trong những yếu tốt quan trọng phản ánh
chất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường.
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm được tạo ra trong toàn bộ chu kỳ sản xuất kinh doan của
các doanh nghiệp, bắt đầu từ khâu thiết kế sản phẩm tới các khâu tổ chức mua sắm
sản phẩm nguyên vật liệu, triển khai quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng.
Do tính phức tạp và tổng hợp của khái niệm chất lượng nên việc tạo ra và hoàn
thiện chất lượng sản phẩm chịu tác động rất nhiều nhân tố thuộc môi trường kinh
doanh bên ngoài và những nhân tố của bên trong doanh nghiệp. Các nhân tố này có
mối quan hệ chặt chẽ ràng buộc với nhau, tạo ra tác động tổng hợp đến chất lượng
sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra.
1.1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
- Sự tiến bộ khoa học công nghê [5]: Trình độ chất lượng của sản phẩm không
thể vượt quá giới hạn khả năng của trình độ tiến bộ khoa học – công nghệ của một
giai đoạn lịch sử nhất định. Chất lượng sản phẩm trước hết thể hiện ở những đặc
trưng về trình độ kỹ thuật tạo ra sản phẩm đó. Các chỉ tiêu kỹ thuật này lại phụ
thuộc vào trình độ kỹ thuật, công nghệ sử dụng để tạo ra sản phẩm. Đây là giới hạn
cao nhất mà chất lượng sản phẩm có thể đạt được. Tiến bộ khoa học – công nghệ

chất lượng.
- Các yếu tố văn hóa, xã hội
[5]: Ngoài các yếu tố bên ngoài nêu trên, yếu tố
văn hóa, xã hội của mỗi khu vực thị trường, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có ảnh
hưởng rất lớn đến hình thành các đặc tính chất lượng sản phẩm. Những yêu cầu về
văn hóa, đạo đức, xã hội và tập tục truyền thống, thói quen tiêu dùng có ảnh hưởng
trực tiếp tới các thuộc tính của chất lượng sản phẩm, đồng thời ảnh hưởng gián tiếp
tới các quy định bắt buộc mỗi sản phẩm phải thỏa mãn những đòi hỏi phù hợp với
truyền thống văn hóa, đạo đức, xã hội của cộng đồng. Chất lượng là toàn bộ các đặc
tính thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng, nhưng không phải tất cả các nhu cầu cá
nhân đều được thỏa mãn. Những đặc tính chất lượng của sản phẩm chỉ thỏa mãn
những nhu cầu cá nhân nếu không ảnh hưởng tới lợi ích của xã hội. Bởi vậy, chất
lượng sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường văn hóa, xã hội của
mỗi nước mỗi khu vực.
8

- Tình hình thị trường [5]: Đây là nhân tố quan trọng nhất, là xuất phát điểm,
tạo lực thu hút định hướng cho sự phát triển chất lượng sản phẩm. Sản phẩm chỉ có
thể tồn tại khi nó đáp ứng được các mong đợi của khách hàng. Xu hướng phát triển
và hoàn thiện chất lượng sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm và xu hướng
vận động của nhu cầu trên thị trường. Nhu cầu càng phong phú, da dạng và thay đổi
nhanh chóng cần hoàn thiện chất lượng để kích ứng kịp thời ngày càng cao của
khách hàng.
1.1.3.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
- Lực lượng lao động trong doanh nghiệp
[5]: Con người là nhân tố trực tiếp
tạo ra và quyết định trực tiếp tới chất lượng sản phẩm. Cùng với công nghệ, con
người giúp doanh nghiệp đạt chất lượng cao trên cơ sở giảm chi phí. Chất lượng sản
phẩm phụ thuộc lớn vào chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm và
tinh thần hợp tác phối hợp giữa mọi thành viên và bộ phận trong doanh nghiệp.

1.2.1 Vị trí, vai trò của tư vấn thiết kế đối với xây dựng công trình
Đối với mỗi một công trình thì tư vân thiết kế luôn là người làm những công
việc đầu tiên và có tính xuyên suốt trong quá trình xây dựng công trình. Trước hết,
người tư vấn thiết kế phải đánh giá được tính cấp thiết, hiệu quả của công trình để
giúp cho Chủ đầu tư quyết định xây dựng công trình hay không.
Sản phẩm của tư vấn thiết kế được xây dựng dựa trên yêu cầu chức năng,
nhiệm vụ của công trình mà Chủ đầu tư đưa ra (ý tưởng). Sản phẩm đó được trình
bày bằng ngôn ngữ khoa học để xây dựng nên phương án đáp ứng được nhu cầu đó.
Chính vì tư vân thiết kế là công đoạn đâu tiên này nên tầm quan trọng của chất
lượng sản phẩm tư vấn thiết kế rất cao vì nó ảnh hưởng đến tất cả các công đoạn
thực hiện công trình. Như việc, thiết kế tính toán làm sai lệch kết cấu công trình sẽ
làm cho công trình hư hỏng dẫn đến bị phá hủy, hay sản phẩm tư vân thiết kế trong
khâu bản vẽ thi công có sự nhầm lẫn khi thi công nhà thầu không thể thực hiện
được điều này làm trì hoãn công việc ảnh hưởng đến tiến độ công trình
10

Vì vậy, tư vấn thiết kế đóng một vai trò cực kỳ quan trong trọng trong việc
xây dựng công trình. Bởi thế, mỗi nhà thiết kế phải có trách nhiệm với mỗi sản
phẩm mà mình làm ra.
1.2.2 Sản phẩm tư vấn thiết kế
Sản phẩm tư vấn thiết kế là hệ thống hồ sơ bản vẽ, thuyết minh cho công trình
hoặc hạng mục công trình được thiết kế trên cơ sở phù hợp với mục đích và yêu cầu
sử dụng của khách hàng (chủ đầu tư).
Theo Luật Xây Dựng Việt Nam năm 2003, thiết kế xây dựng công trình bao
gồm:
- Phương án công nghệ;
- Công năng sử dụng;
- Tuổi thọ công trình;
- Phương án kết cấu, kỹ thuật;
- Phương án phòng chống cháy, nổ;

trình, san nền, đào đắp đất, danh mục các phần mền sử dụng trong thiết kế.
Giới thiệu phương án phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường;
Dự tính khối lượng các công tác xây dựng, thiết lập tổng mức đầu tư và thời
gian xây dựng công trình.
∗ Phần bản vẽ: Của thiết kế cơ sở gồm 3 bước sau
Bản vẽ công nghệ thể hiện sơ đồ dây chuyền công nghệ với các thông số kỹ
thuật chủ yếu;
Bản vẽ xây dựng thể hiện giải pháp về tổng mặt bằng, kiến trúc, kết cấu, hệ
thống kỹ thuật và hạ tầng kỹ thuật công trình với các kích thước khối lượng chủ yếu,
các mốc giới, tọa độ và cao độ xây dựng;
12

Bản vẽ sơ đồ hệ thống phòng chống cháy nổ.
∗ Phần tổng mức đầu tư:
Tổng mức đầu tư xác định từ hồ sơ thiết kế cơ sở gồm 7 thành phần: Chi phí
xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí quản lý
dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác và chi phí dự phòng.
1.2.2.2 Giai đoạn thiết kế kỹ thuật
∗ Phần thuyết minh:
Gồm các nội dung theo quy định của hồ sơ thiết kế cơ sở nhưng phải tính toán
lại và làm rõ phương án lựa chọn thi công, thiết bị công nghệ, so sánh các chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật, kiểm tra các số liệu làm căn cứ thiết kế; các chỉ dẫn kỹ thuật; giải
thích những nội dung mà bản vẽ thiết kế chưa thể hiện được và các nội dung khác
theo yêu cầu của chủ đầu tư.
∗ Phần bản vẽ
- Các bản vẽ thể hiện chi tiết các kích thước, thông số kỹ thuật chủ yếu, vật liệu
chính đảm bảo, đủ điều kiện để lập dự toán, tổng dự toán và lập thiết kế bản vẽ
thi công công trình;
- Triển khai mặt bằng hiện trạng và vị trí công trình trên bản đồ;
- Triển khai tổng mặt bẳng (xác định vị trí xây dựng, diện tích chiếm đất, diện

- Chi tiết kiến trúc: Các mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt và các chi tiết kiến trúc
của hạng mục hoặc toàn bộ công trình.
- Chi tiết xây dựng: Gia cố nền, móng, kết cấu chịu lực, hệ thống kỹ thuật, công
trình kỹ thuật hạ tầng … (yêu cầu triển khai vật liệu).
14

- Chi tiết các liên kết điển hình, các chi tiết phức tạp (nút khung, mắt dàn, neo
cốt thép đối với các cấu kiện bê tông dự ứng lực …), các chi tiết khác.
- Chi tiết bố trí lắp đặt, chi tiết phức tạp và điển hình của các hệ thống kỹ thuật
cơ điện bên trong công trình.
- Bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ, an toàn vận hành…
- Liệt kê khối lượng các công tác xây lắp, vật liệu, vật tư, máy móc thiết bị, của
các hạng mục và toàn bộ công trình.
- Chỉ dẫn biện pháp thi công (đối với trường hợp thi công phức tạp).
∗ Phần dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình
Tổng dự toán, dự toán xác định từ hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công gồm 6 thành
phần: chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư
xây dựng; chi phí khác và chi phí dự phòng.
1.2.3 Đặc điểm của sản phẩm tư vấn thiết kế
Chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế được hình thành trong quá trình kéo dài
từ khi nghiên cứu, triển khai và chuẩn bị sản xuất, được đảm bảo trong quá trình
tiến hành sản xuất và được duy trì trong quá trình sử dụng.
Giá cả sản phẩm tư vấn thiết kế là một tiêu chí đánh giá chất lượng, sản phẩm
tư vấn thiết kế được đánh giá là sản phẩm có chất lượng là những sản phẩm hay
dịch vụ đáp ứng được mong đợi của khách hàng với chi phí có thể chấp nhận được.
Nếu chi phí của quá trình sản xuất không phù hợp với giá bán, thì khách hàng sẽ
không chấp nhận giá trị của nó, nghĩa là giá bán cao hơn giá mà khách hàng chịu bỏ
ra để đổi lấy các đặc tính của sản phẩm. Nói cách khác, như vậy sản phẩm không
được chấp nhận.
Sản phẩm tư vấn thiết kế được xem là đạt chất lượng trước hết nó phải đáp

16

- Tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn được áp dụng cho công
trình; lập hồ sơ thiết kế đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế, nội dung của từng
bước thiết kế, quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan.
- Trách nhiệm của Chủ đầu tư về việc quản lý chất lượng thiết kế xây dựng
công trình:
- Tổ chức lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình trên cơ sở báo cáo đầu tư
xây dựng công trình (báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) hoặc chủ trương đầu tư đã
được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Lựa chọn tổ chức, cá nhân đảm bảo điều kiện năng lực để lập thiết kế và
thẩm tra thiết kế xây dựng công trình khi cần thiết.
- Kiểm tra việc tuân thủ các quy định trong hợp đồng xây dựng của nhà thầu
thiết kế, nhà thầu thẩm tra thiết kế (nếu có) trong quá trình thực hiện hợp đồng.
- Kiểm tra và trình thiết kế cơ sở cho người quyết định đầu tư thẩm định, phê
duyệt theo quy định của pháp luật đối với công trình sử dụng nguồn vốn nhà nước.
- Tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế - dự toán theo quy định tại Điều 20
Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan như sau:
1.Chủ đầu tư tổ chức thẩm định thiết kế kỹ thuật đối với công trình thực hiện
thiết kế 3 bước hoặc thiết kế bản vẽ thi công đối với công trình thực hiện thiết kế 1
bước, 2 bước và các thiết kế khác triển khai sau thiết kế cơ sở bao gồm các việc
theo trình tự sau:
a) Xem xét sự phù hợp về thành phần, quy cách của hồ sơ thiết kế so với quy
định của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật, bao gồm: Thuyết minh thiết
kế, các bản vẽ thiết kế, các tài liệu khảo sát xây dựng, quy trình bảo trì công trình và
các hồ sơ khác theo quy định của pháp luật có liên quan;
b) Đánh giá sự phù hợp của hồ sơ thiết kế so với nhiệm vụ thiết kế, thiết kế cơ
sở, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan;
17


của chủ đầu tư xác nhận trước khi đưa ra thi công.
5. Đối với các công trình bí mật nhà nước, công trình theo lệnh khẩn cấp và
công trình tạm việc thẩm định, phê duyệt thiết kế được thực hiện theo quy định của
pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng công trình đặc thù.
6. Phí thẩm tra thiết kế của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và chi phí
thuê tổ chức, cá nhân tham gia thẩm tra thiết kế được tính trong tổng mức đầu tư, dự
toán xây dựng công trình.
7. Người tổ chức thẩm định, thẩm tra và phê duyệt thiết kế phải chịu trách
nhiệm về kết quả thẩm định, thẩm tra, phê duyệt thiết kế của mình.
- Thực hiện thay đổi thiết kế theo quy định tại Điều 22 Nghị định này:
1. Thiết kế xây dựng công trình đã phê duyệt được thay đổi trong các trường
hợp sau đây:
a) Khi dự án đầu tư xây dựng công trình được điều chỉnh có yêu cầu phải thay
đổi thiết kế;
b) Trong quá trình thi công xây dựng công trình phát hiện thấy những
yếu tố bất hợp lý nếu không thay đổi thiết kế sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công
trình, tiến độ thi công xây dựng, biện pháp thi công và hiệu quả đầu tư của dự án.
2. Đối với công trình sử dụng nguồn vốn nhà nước, khi điều chỉnh thiết kế làm
thay đổi địa điểm, quy hoạch xây dựng, mục tiêu, quy mô hoặc làm vượt tổng mức
đầu tư đã được duyệt của công trình thì chủ đầu tư phải trình người quyết định đầu
tư thẩm định, phê duyệt lại nội dung điều chỉnh. Trường hợp còn lại, chủ đầu tư
được quyền quyết định thay đổi thiết kế. Những nội dung điều chỉnh thiết kế phải
được thẩm định, thẩm tra, phê duyệt lại theo quy định của Nghị định này.
3. Nhà thầu thiết kế có nghĩa vụ sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi các thiết kế bất
hợp lý do lỗi của mình gây ra và có quyền từ chối những yêu cầu điều chỉnh thiết kế
bất hợp lý của chủ đầu tư.
19

4. Chủ đầu tư có quyền thuê nhà thầu thiết kế khác thực hiện sửa đổi, bổ sung
thay đổi thiết kế trong trường hợp nhà thầu thiết kế ban đầu không thực hiện các

củng cố niềm tin trong nội bộ doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm. Niềm tin nội
bộ trong doanh nghiệp có được từ việc nắm bắt thường xuyên những yêu cầu của
khách hàng và sự nhận biết về năng lực có thể đáp ứng các yêu cầu đó của khách
hàng với chi phí thấp nhất và hợp lý nhất, nhờ đó doanh nghiệp đang tạo ra lợi
nhuận.
Thực tiễn quản lý chất lượng đã chứng minh rằng, nếu doanh nghiệp lập ra
một hệ thống đảm bảo chất lượng tốt có thể giảm một số hoạt động kiểm soát chất
lượng như thanh tra, theo dõi, giám sát… Bởi vì, hệ thống đảm bảo chất lượng đã
làm giảm hay ngăn ngừa được những nguyên nhân tạo ra các lỗi trong quá trình sản
xuất đến khi bán hàng.
Quản lý chất lượng là những cách thức và hành động để tất cả các hoạt động
kiểm soát chất lượng và đảm bảo chất lượng đang được diễn ra. Hệ thống quản lý
chất lượng ISO 9000 định nghĩa Quản Lý Chất Lượng là: “Những hoạt động có
phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng”.
Như vậy, quản lý chất lượng bao gồm các hoạt động kiểm soát chất lượng và
đảm bảo chất lượng. Quản lý chất lượng cần sự lãnh đạo và lãnh đạo hiệu quả chỉ
có thể dựa trên việc đảm bảo sự tham gia của tất cả mọi người. Nó đòi hỏi một sự
trao đổi thông tin thích hợp và khả năng thúc đẩy mọi người hành động với mục
đích chung là đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Quản lý chất lượng toàn diện là những hành động để đáp ứng toàn bộ những
nhu cầu về chất lượng tồn tại của cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. TQM là
một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự
tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự
thỏa mãn khách hành và lợi ích của mọi thành viên của công ty và xã hội.

Trích đoạn Quan điểm định hướng của công ty Định hướng phát triển công ty xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm Xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế Nâng cao chất lượng nguồn lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status