61 các giải pháp Marketing trong nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu lắp đặt máy phát điện của Công ty TNHH Cát Lâm - Pdf 27

Báo cáo đề án môn học Nguyễn Thị Trâm
MỤC LỤC
Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến
1
Báo cáo đề án môn học Nguyễn Thị Trâm
I.TỔNG QUAN VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU
A – Giới thiệu chung :
1. Lí do tiến hành đề án :
Xin được bắt đầu bài viêt bằng khẳng định “Giáo dục đại học nước nhà
đang bị xuống cấp trầm trọng đã có ý định thả nổi hệ thống Đại học hiện
có”.Mặc dù hiện nay chúng ta đang có một hệ thống Đại học gồm: Đại học
Quốc gia đa ngành, Đại học vùng đa ngành, Đại học chuyên ngành, Đại học
địa phương, Đại học tại chức, Đại học từ xa, Đại học dân lập nhưng tất cả
đều thiếu đẳng cấp khu vực và thế giới, chất lượng đào tạo ngày càng tụt
hậu, kém hiệu quả so với nhu cầu đào tạo nhân lực phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh
tế.Nguyên nhân do đâu có thực trạng đó
Đội ngũ giáo viên - khâu quyết định hệ thống đào tạo.Bệnh thành
tích dẫn đến các cuộc chạy đua theo bề nổi, theo số lượng mà ít quan tâm
thực chất, đặc biệt ít quan tâm tới yếu tố con người. không quan tâm đội ngũ
giảng viên và cơ sở vật chất.Chúng ta đã thay đổi mô hình và hệ thống Đại
học, đa ngành hoá đào tạo, đầu tư nhiều kinh phí cho các trường trọng điểm,
nhưng chất lượng vẫn tụt hậu.Vì sao như vậy? Nguyên nhân của tình trạng
trên có nhiều, có một vấn đề rất then chốt nhưng đã bị buông lỏng, thả nổi và
cho đến nay vẫn chưa hề được đặt ra để giải quyết. Đó là vấn đề đội ngũ
giảng viên Đại học. Ai cũng biết nhân tố con người quyết định tất cả, nhưng
nhân tố con người trong trường Đại học thì bị thả nổi từ những năm 80 cho
đến nay!Trước đây việc chọn người gửi đi đào tạo tại nước rất được coi
trọng, kết quả là chúng ta có được một đội ngũ cốt cán làm nòng cốt cho
việc đào tạo Đại học và sau Đại học cho đến nay. Nhưng từ khi bước vào
thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông

Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến
3
Báo cáo đề án môn học Nguyễn Thị Trâm
một thư viện điện tử nào, chưa có một Trường Đại học nào có được một
trang web mang nội dung học thuật để cho các nhà nghiên cứu và sinh viên
truy cập cả! Trong thời đại điện tử, với khấu hiệu hô hào tự học, học suốt đời
mà lại thả nổi việc sử dụng phương tiện hiện đại như thế cho sinh viên, thì
còn có gì biện minh được về chính sách phát triển Đại học của đất nước?
Chung quy lại chúng ta đào tạo đại học nhằm phục vụ nhu cầu các
doanh nghiệp nhưng tại sao với số lượng cử nhân ra trường hàng năm với số
lượng không hề nhỏ nhưng xu hướng cung – cầu nhân sự chất lượng cao
ngày càng bỏ xa khả năng cung cấp của thị trường.Nhiều doanh nghiệp nhận
sinh viên đại học nhưng vẫn phải bỏ 1 khoản tiền không nhỏ để đào tạo lại
có những trường tự mình đào tạo nhân lực mà không lấy sẵn từ các trường
đại học(FPT là 1 tiêu biểu).Tại sao vậy?Tại hệ thống giáo duc kém,phat triển
lêch lạc hay tại chúng ta đào tạo không theo nhu cầu thị trường?
Việt Nam đã vào WTO. Điều này có nghĩa, nguồn nhân lực của Việt
Nam và từ đó là nền Giáo dục Đại học nay cũng phải được đặt trên cùng
một mặt bằng so sánh với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.nhận
thấy rằng chúng ta chưa có trường đại học nào theo tiêu chuẩn thế giới với
bằng cấp được công nhận.Hơn lúc nào hêt việc đào tạo nguồn nhân lực trình
độ cao,chất lượng cao được coi trọng.Các trường đại học cũng nên phát triển
mở rộng hơn nữa từng bước khắc phục nhược điểm đã nhận ra.Đã đến lúc
trường đại học thay đổi tư duy lấy thương hiệu,tên tuổi trường mà tự sống
với niềm tự hào đó.
Với mục đích đi sâu hơn nữa,tìm hiểu thêm về marketing.Em quyết
định chọn đề tài “Nghiên cứu lý thuyết Marketing giáo dục bậc đại
học.Áp dụng tìm hiểu nhu cầu và mong muốn sinh viên ĐH KTQD với
chương trình giáo dục”.
Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến

Có những sản phẩm đi vào quá trình tiêu dùng thông qua việc mua bán hoặc
trao đổi kiểu "cho không", trong cơ chế thị trường vẫn được gọi là hàng hóa.
Như vậy, hàng hóa không nhất thiết gắn với việc mua bán hay thương mại.
Dịch vụ GD do vậy vẫn được gọi là một hàng hóa, còn việc có đem ra "mua
bán", có thu học phí hay hoàn toàn miễn phí lại là việc khác.Ở VN, hiện có
khoảng 40.000 sinh viên (SV) đang du học tự túc ở nước ngoài, nghĩa là
đang "mua" GDĐH ở nước ngoài, xã hội mỗi năm tốn khoảng 300 triệu đô
la.Hiện nay cũng đã có 4 trường ĐH và 8 trường CĐ nước ngoài đang kinh
doanh, với lợi thế cạnh tranh rất cao, về dịch vụ GDĐH trên đất nước ta. Và,
cũng có khoảng 120.000 SV đang theo học các trường ĐH dân lập và tư thục
mà toàn bộ chi phí của nhà trường chủ yếu là dựa vào học phí. Như vậy, ít ra
đã có một mảng GDĐH đang được thương mại và thị trường hóa ở Việt
Nam. Ngay ở mảng GD phổ thông, một dịch vụ mà đến nay vẫn còn rất ít
nước trong số 145 thành viên của WTO chấp nhận nhập khẩu vào nước ta
cũng đang được tự do kinh doanh với mức học phí lên đến 5.000 - 10.000 đô
la Mỹ/năm. Tất cả những sự kiện đó đã vượt lên trên mức quan ngại so với
những câu hỏi như: "GDĐH có là hàng hóa không?", có là "công" hay "đặc
biệt" mà chúng ta đang mãi tranh luận và đôi khi đã làm ngạc nhiên cho một
số nhà GD ở nước ngoài.
Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến
6
Báo cáo đề án môn học Nguyễn Thị Trâm
Cần thị trường hóa giáo dục đại học
Khi nền GDĐH chuyển sang nền GD cho số đông, một áp lực ngày càng
lớn đã đè lên ngân sách nhà nước.Từ đó, đầu tư từ ngân sách nhà nước tính
trên đầu SV đã có xu thế giảm liên tục trong những thập niên vừa qua. Vì
vậy, một mặt xã hội yêu cầu ĐH phải được vận hành một cách có hiệu quả
hơn, mặt khác, các trường ĐH phải tăng thu từ các nguồn thu khác ngoài
ngân sách nhà nước, trong đó có học phí và mở rộng một số hoạt động có
tính chất kinh doanh. Xã hội hiện đại rất đa dạng và phức tạp, việc ra quyết

đương đầu với những khó khăn rất lớn: phải cạnh tranh không cân sức
(tương tự như các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay) với nước ngoài... Hạn
chế những mặt trái này của thị trường hóa luôn là một nhiệm vụ khó khăn ở
những nước đang phát triển, đặc biệt đối với nước ta, một nước có nền kinh
tế đang còn là nền kinh tế chuyển đổi.
Từ những quan sát nói trên, có thể nhận ra một số vấn đề liên quan đến
GDĐH Việt Nam, một mặt còn đang đứng khá xa trước xu thế và mãi băn
khoăn về những hạn chế của thị trường hóa, mặt khác thị trường hóa với
những tiêu cực lại vẫn đang xảy ra nhưng còn chưa có những giải pháp ngăn
chặn hữu hiệu. Nước ta hiện có gần 12% số SV thuộc ĐH ngoài công lập và
dự kiến sẽ tăng lên đến 40% vào năm 2010. Tuy vậy chính sách tài chính
vẫn còn chưa rõ ràng. Nếu có chính sách hợp lý, hy vọng sẽ có hàng chục
ngàn tỉ đồng hằng năm đầu tư vào loại trường ĐH này.Theo Báo Thanh niên)
Ngày nay biên giới giữa công lập và tư thục đã bị xóa mờ vì đa số ĐH tư
thục đều nhận được tài trợ của Nhà nước,quyết định ngang bằng giữa bằng
cấp trường công lập và ngoài công lập thì sự cạnh tranh giữa các trường
ngày càng lớn.Cùng với việc đời sống con người được cải thiện chấp nhận
chi trả cho giáo dục lớn lên thì công lập không phải là lựa chọn duy nhất cho
Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến
8
Báo cáo đề án môn học Nguyễn Thị Trâm
bước tiến vào đời đặt ra cho giáo dục đại học bài toán mới : “làm Marketing
cho giáo dục” một đề tài tưởng chừng rất mới nhưng lại không hề xa lạ với
các nước trên thế giới.Như những trường đại học ở Singapore.Người ta vẫn
thường thắc mắc tại sao đảo quốc sư tử,một quốc gia nhỏ bé mà sao giàu có
như vậy?Với việc thành công trong kinh doanh dich vụ và giáo dục đại học
là một trong số đó thì điều đó thật dễ hiểu.Theo đánh giá hiện nay ở châu Á
thì Singapore là nước đang có những chương trình Marketign giáo duc manh
nhất, đặc biệt là tại Việt Nam một điều nhìn thấy là rất nhiều sinh viên,học
sinh chọn Sing là điểm tới cho mình.Tại sao vậy?Hãy để phần sau giải thích

nghiệp đó là đầu vào.Khách hàng khác nữa đó là các doanh nghiệp là yếu tố
đầu ra.Tuy nhiên cũng không thể không nhận ra chúng ta đào tạo một con
người không chỉ trong một sớm một chiều mà qua hàng mấy năm.Trong khi
đó nhu cầu xã hội lại luôn thay đổi chúng ta không chỉ dung con mắt thiển
cận của ngày hôm nay mà tạo nhu câu xã hội cho mai sau.Chính vì thế cần
có sự kết hợp giữa cả hai bên.Các doanh nghiệp cũng nên chung vai cùng
nhà nước chia sẻ chi phí cho giáo dục.
Marketing giáo duc hay marketing cho giáo dục

Đây là 2 khái niệm có thể nói là hoàn toàn khác nhau.
Một cái là làm marketing cho trường học hay các trung tâm đào tạo còn
một cái là một khái niệm trong marketing.
Nếu nói về marketing cho giáo dục thì hiện nay các trung tâm ngoại
ngữ và các trung tâm tư vấn du học có thể nói là làm khá mạnh (chưa bàn về
chất lượng đào tạo thế nào).Về cách thức marketing quảng cáo thì hầu như ai
cũng như ai. Chạy print ad, TVC, tham gia education fair, tổ chức hội
Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến
10
Báo cáo đề án môn học Nguyễn Thị Trâm
thảo...budget lớn thì chạy nhiều chương trình, còn budget khiêm tốn thì chạy
ít, nói chung cũng phải có quảng cáo để cho là có.
Còn về marketing giáo dục. Đây cũng là một phương pháp để
marketing bằng cách giáo dục khách hàng để xây dựng ý thức qua đó tạo ra
nhu cầu sản phẩm. Ví dụ một hãng sản xuất tã giấy giành cho trẻ em có thể
làm các chương trình về cách chăm sóc và nuôi dậy trẻ em.
Làm marketing cho Trường ĐH là tập trung xây dựng chương trình
đào tạo đạt chuẩn quốc tế hay trang bị cho SV hành trang về học thuật và kỹ
năng để hoà nhập công việc trong tương lai? Hay tập trung tạo dựng mối
quan hệ hợp tác, xây dựng hình ảnh của trường với các doanh nghiệp bên
ngoài?Chúng ta chú ý tới cả hai.

giảng viên có trình độ tiến sĩ quá thấp; kỹ năng thực hành yếu; năng lực
tiếng Anh phần lớn còn hạn chế...
Trong khi đại diện các doanh nghiệp nhận xét: nội dung các môn học
trong chương trình (lý thuyết cơ sở, lý thuyết chuyên môn) còn quá rộng,
cần tinh giản về thời lượng; phương pháp giảng dạy chưa mang tính tư duy,
kiến thức trong giáo trình chậm đổi mới so với thực tế.
Bên cạnh đó, theo Vụ Lao động - Việc làm (Bộ Lao động - Thương
binh - Xã hội), những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển thị
trường lao động Việt Nam là thiếu thông tin và những dự báo, xu hướng
phát triển của thị trường lao động; thiếu kế hoạch nguồn nhân lực phục vụ
cho yêu cầu hoạch định và thực thi chính sách ở tầm vĩ mô cũng như phục
Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến
12
Báo cáo đề án môn học Nguyễn Thị Trâm
vụ cho yêu cầu, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và định
hướng nghề nghiệp cho người lao động.
c. Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động marketing giáo dục.
 Môi trường vĩ mô
Là một ngành mang tính đặc thù và cũng nằm trong quốc sách hàng
đầu được nhà nước chăm chút khi mà chế độ bao cấp vẫn tồn tại nên giáo
dục chịu nhiều tác động của môi trường vĩ mô.
Khi cụm từ marketing giáo dục vẫn còn xa lạ không chỉ với người
ngoài ngành mà cũng thật lạ lẫm với những người trong ngành với tâm lí
bảo thủ của xã hội áp dụng marketing quả thục khó khăn.
Tuy nhiên như những thống kê về lượng học sinh phổ thông trong cả
nước môi trường nhân khẩu học quả là một động lực áp dụng vào thục tiễn.
 Môi trường vi mô.
Hơn hết tất cả sự trì trệ trong cung cách giáo dục cũng vẫn chưa thoát
khỏi cái bong của sự độc quyền nhà nước lại là những trở ngại lớn lao
đáng kể nhất với chúng ta.

trên làm Marketing giáo dục không chỉ theo hướng một chiều,không chỉ tạo
ra các cử nhân mà còn tạo công ăn viecj làm cho họ trong tương lai nên viêc
đào tạo với chất lượng cao,bằng cấp tốt không chỉ thỏa mãn nhu cầu người
học mà cũng là thỏa mãn nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp.Hai phần này
có mối quan hệ mật thiết với nhau,là tiền đề cho nhau,cái này là tiêu chuẩn
đánh giá thứ kia.Chính vì thế cần làm tốt cả hai mảng.Ngoài ra các trường
nên phát triển dự án tạo thêm giá trị gia tăng cho Sinh viên thông qua việc
xây dựng một trung tâm hỗ trợ Sinh viên của trường. TT này cung cấp thêm
Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến
14
Báo cáo đề án môn học Nguyễn Thị Trâm
cho sinh viên những tiện ích như gia tăng cơ hội có việc làm sau khi tốt
nghiệp, địa chỉ nhà trọ, nơi học tập, huấn luyện kỹ năng, tổ chức hội thảo,
diễn đàn trao đổi học tập,....Bên cạnh đó, Nhà trường cũng tiến hành giải
quyết cái gốc là Nâng cao chất lượng giảng dạy, Lý thuyết đi kèm thực tiển
để giảm bớt tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp phải được doanh nghiệp đào tạo lại (tỉ
lệ này là 60%, số liệu khảo sát tại 1 trường đại học).Chúng ta cứ mãi loay
hoay trong việc cải thiện chất lượng của nền giáo dục đại học (GDĐH) có lẽ
là do chúng ta chưa có một bộ công cụ để đánh giá chính xác năng lực của
những “sản phẩm” do chúng ta đào tạo ra.Điển hình là những báo cáo và
những phát biểu về chất lượng đào tạo ĐH của chúng ta trong thời gian vừa
qua gần như chỉ mang tính chất định tính,và hoàn toàn thiếu những số liệu
chứng minh cụ thể hoặc có nhưng những số liệu ấy không mang tính khoa
học nên tính thuyết phục không cao. Vậy tại sao chúng ta không xây dựng
bộ công cụ đánh giá chất lượng nền GDĐH của chúng ta như cách WEF đã,
đang làm để đánh giá năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế trên thế giới
Nếu chúng ta xây dựng được cách thức đánh giá nền giáo dục đại học của
chúng ta như cách làm của WEF trong kinh tế thì chúng ta sẽ thấy rõ được
đâu là những điểm mạnh và những điểm yếu trong nền GDĐH của mình, để
từ đó có thể đưa ra những giải pháp khắc phục phù hợp và hiệu quả hơn.

người khác hiểu và chấp nhận hay không, có khả năng thương lượng và đàm
phán hay không…
Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến
16
Báo cáo đề án môn học Nguyễn Thị Trâm
6. Phẩm chất đạo đức - nhân văn: những sản phẩm của nền GDĐH của
chúng ta có sống trung thực hay không, có tinh thần trách nhiệm hay không,
có biết xem trọng lợi ích tập thể hay không, có dám đưa ra quyết định và
chịu trách nhiệm về quyết định của mình hay không, có biết “vui với người
vui, khóc với người khóc” hay không…
7. Khả năng thể lực: tức là có khả năng làm việc với cường độ cao hay
không, có khả năng đứng vững trước những áp lực trong công việc hay
không…
Nếu như WEF đánh giá năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bằng
cách phỏng vấn một mẫu gồm 100 doanh nghiệp, chúng ta cũng có thể dựa
vào cách này để đánh giá năng lực các sản phẩm sau khi được đào tạo của
chúng ta, tức phỏng vấn những thiết chế sử dụng lao động trình độ đại học
do chúng ta đào tạo. Mỗi tiêu chí trên sẽ được đo bằng nhiều chỉ báo khác
nhau.
Việc xây dựng một bộ công cụ để đánh giá năng lực những sản phẩm
do chúng ta đào tạo ra là điều cần phải làm và chắc chắn chúng ta có đủ khả
năng để làm. Đây chỉ là một đề xuất nhỏ vào công cuộc cải thiện chất lượng
nền GDĐH .Đầu vào mặt bằng chung cũng không hề kém phần quan
trọng.Còn nhớ có năm có trường đại học còn hạ điểm đàu vào trường mình
thấp hơn điểm sàn của bộ giáo dục khiến mặt bằng đầu vào kém trầm
trọng.Đó cũng là điêu nên tránh không nên vì số lượng mà bỏ qua chất
lượng.Không ai không biết đầu vào ảnh hưởng nhiều tới lối tư duy và chất
lượng học và làm sau này.
Giảng viên hướng dẫn : Thầy Trương Đình Chiến
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status