BỘ CÔNG THƯƠNG
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÔN: CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC
TÊN CHUYÊN ĐỀ: PHÂN TÍCH THỰC
TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO
CỦA VIỆT NAM
GVHD: Th.S Đoàn Hùng Cường
SVTH: Nguyễn Văn Đông
MSSV:12108981
Lớp sinh viên: NCQT6B
TP.HCM, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 2
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
nhưng, thương mại thế giới ngày nay ngày càng mở rộng không ngừng, phân công lao động
và hợp tác quốc tế ngày càng phát triển. Từ đó yếu tố ngoại thương trở thành một đòi hỏi
khách quan, một yếu tố không thể thiếu tất cả các nước.
Trên con đường hiện đại hóa nền kinh tế ở Việt Nam ta và sự phát triển mạnh mẽ của tất cả
thành phần kinh tế. Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập khối ASEAN, AFTA, ký kết hiệp
định thương mại Việt – Mỹ và việc gia nhập WTO đã mở ra nhiều cơ hội phát huy lợi thế so
sánh, tháo gỡ hạn chế về thị trường xuất khẩu, tạo lập môi trường thương mại mới nhằm
trao đổi hàng hoá –dich vụ, kỹ thuật và thông tin. Cùng với đặc điểm địa lý nước ta có hơn
3000 km là bờ biển, lại nằm ở trung tâm của khu vực Đông nam Á. Điều này chứng tỏ một
tiềm năng lớn về hàng hóa xuất nhập khẩu.Việt Nam là một nước có thế mạnh về xuất khẩu
gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Để giữ vững vị trí xuất khẩu trên thị trường quốc
tế thì cần thiết phải có một sự nhìn nhận đúng đắn từ phía thực tiễn, phân tích thực tiễn đó
để từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu và phù hợp nhất.Đó cũng chính là lý do em chọn đề
tài “ Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam”
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:Nhằm phân tích đánh giá những thuận lợi khó khăn đối với xuất
nhập khẩu Việt Nam. Từ đó đưa ra những giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo, góp
phần xuất khẩu gạo, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu gạo cho quốc gia cũng như
mang về lợi nhuận cho nông dân.
Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu tình hình hoạt động xuất khẩu gạo của nước ta.
- Phân tích hoạt động xuất khẩu gạo và những ảnh hưởng đến hoạt động xuất
khẩu.
- Đưa ra giải pháp phù hợp để đẩy mạnh việc xuất khẩu gạo.
Trang 6
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến hoạt động Xuất Nhập Khẩu.
- Thực trạng của hoạt động xuất khẩu gạo giai đoạn 2010- 2014
- Nghiên cứu những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị
phi thương mại.
Ngoại thương (hay còn gọi là thương mại quốc tế) là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ
giữa các quốc gia chủ yếu thông qua hoạt động xuất, nhập khẩu và các hoạt động gia công
với nước ngoài.Ngoại thương giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế đối ngoại.
Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các quan hệ về mặt vật chất và tài chính, các quan hệ
diễn ra không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong lĩnh vực khoa học – công nghệ có
liên quan đến tất cả giai đoạn của quá trình sản xuất, giữa các quốc gia với nhau và giữa các
quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế.
1.1.2. Vai trò của hoạt động Xuất Nhập Khẩu
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, không một quốc gia nào có thể tự sản xuất
tất cả các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước.
Vì vậy tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế là điều kiện cần thiết cho mỗi quốc
gia.Mỗi quốc gia phải thông qua trao đổi, mua bán với các quốc gia nhằm thoả mãn nhu cầu
của mình.Như vậy, hoạt động xuất khẩu góp phần quan trọng vào sự phát triển hay suy
thoái, lạc hậu của quốc gia so với thế giới. Ích lợi của hoạt động xuất khẩu được thể hiện
như sau:
Đối với nền kinh tế thế giới: Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia tham gia vào
phân công lao động quốc tế. Các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất và sản xuất những hàng
hoá và dịch vụ mà mình không có lợi thế. Xét trên tổng thể nền kinh tế thế giới thì chuyên
môn hoá sản xuất và xuất khẩu sẽ làm cho việc sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn và
tổng sản phẩm xã hội toàn thế giới tăng lên.
Bên cạnh đó xuất khẩu góp phần thắt chặt thêm quan hệ quốc tế giữa các quốc gia.
Trang 8
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
Đối với nền kinh tế quốc dân: Xuất khẩu tạo nguồn vốn quan trọng, chủ yếu để quốc gia
thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và tĩch luỹ để phát triển sản xuất. Ở các nước kém phát triển
vật ngăn cản chính đối với nền kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn trong quá trình phát
triển.Nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là cở sở chính nhưng mọi cơ hội đầu tư
hoặc vay nợ từ nước ngoài thấy được khả năng xuất khẩu của đất nước đó, vì đây là nguồn
chính để đảm bảo nước này có thể trả nợ. Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như một yếu tố
định đoạt đối với giá cả.Khi đó, vấn đề định giá chỉ còn là quyết định bán hay không bán
sản phẩm vào thị trường đó. Trong một thị trường cạnh tranh không hoàn toàn hoặc độc
quyền thì nhà xuất khẩu có một số quyền hạn để định giá của một số sản phẩm phù hợp với
những phân khúc thị trường đã được chọn lựa trước, và thông thường họ có quyền định giá
sản phẩm xuất khẩu ở mức cao hơn so với giá thị trường trong nước.
Sự ảnh hưởng bởi chính trị và luật pháp: Nhà xuất khẩu phải chấp nhận luật pháp nước
ngoài sở tại về các chính sách của họ như: biểu thuế nhập khẩu, hạn chế trong nhập khẩu,
luật chống bán phá giá, kể cả chính sách tiền tệ.
Thuế quan
Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu.
Việc đánh thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lý xuất khẩu theo chiều
hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước và mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại. Tuy
nhiên, thuế quan cũng gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuất trong nước tăng lên
không có hiệu quả và mức tiêu dùng trong nước lại giảm xuống. Nhìn chung công cụ này
thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng nhằm hạn chế số lượng xuất khẩu và bổ sung
cho nguồn thu ngân sách.
Trang 10
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
Hạn ngạch
Được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan, nó được hiểunhư qui định của
Nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay của một nhóm hàng được phép xuất
khẩu trong một thời gian nhất định thông qua việc cấp giấy phép. Sở dĩ có công cụ này vì
không phải lúc nào Nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu mà đôi khi về quyền lợi quốc
gia phải kiểm soát một vài mặt hàng hay nhóm hàng như sản phẩm đặc biệt, nguyên liệu do
nhu cầu trong nước còn thiếu…
Trợ cấp xuất khẩu
Trong một số trường hợp chính phủ phải thực hiện chính sách trợ cấp xuất khẩu để tăng
mức độ xuất khẩu hàng hoá của nước mình, tạo điều kiện cho sản phẩm có sức cạnh tranh
về giá trên thị trường thế giới. Trợ cấp xuất khẩu sẽ làm tăng giá nội địa của hàng xuất
khẩu, giảm tiêu dùng trong nước nhưng tăng sản lượng và mức xuất khẩu.
- DAP: Giao tại nơi đến
- DDP: Giao hàng đã nộp thuế
Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa:
- FAS: Giao dọc mạn tàu
- FOB: Giao lên tàu
- CFR: Tiền hàng và cước phí
- CIF: Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
Nhóm thứ nhất gồm bảy điều kiện có thể sử dụng mà không phụ thuộc vào phương thức vận
tải lựa chọn và cũng không phụ thuộc vào việc sử dụng một hay nhiều phương thức vận tải.
Nhóm này gồm các điều kiện EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP. Chúng có thể được
dùng khi hoàn toàn không có vận tải biển.Tuy vậy, các điều kiện này cũng có thể được sử
dụng khi một phần chặng đường được tiến hành bằng tàu biển.
Trang 12
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
Trong nhóm thứ hai, địa điểm giao hàng và nơi hàng hóa được chở tới người mua đều là
cảng biển, vì thế chúng được xếp vào nhóm các điều kiện “đường biển và đường thủy nội
địa”. Nhóm này gồm các điều kiện FAS, FOB, CFR và CIF. Ở ba điều kiện sau cùng, mọi
cách đề cập tới lan can tàu như một điểm giao hàng đã bị loại bỏ. Thay vào đó, hàng hóa
xem như đã được giao khi chúng đã được “xếp lên tàu”.
1.3. Các phương thức thanh toán chủ yếu
Trả tiền mặt (In Cash):
Người mua thanh toán bằng tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặc chấp
nhận đơn đặt hàng của người mua.
Phương thức ghi sổ (Open Account):
Là phương thức thanh toán trong đó người bán mở một tài khoản để ghi nợ người mua, sau
khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hay cung cấp dịch vụ, theo đó đến thời hạn quy
định người mua sẽ trả tiền cho người bán.
Thanh toán trong buôn bán đối lưu (Counter Trade)
Nghiệp vụ Barter: là nghiệp vụ hàng đổi hàng, không sử dụng tiền trong thanh toán.
Nghiệp vụ song phương xuất nhập: Đây cũng là hoạt động mua bán đối lưu, nhưng có thể sử
- Làm thủ tục hải quan
- Thuê phương tiện vận tải
- Mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu
- Lập bộ chứng từ thanh toán
- Khiếu nại
- Thanh lý hợp đồng
Đối với hợp đồng nhập khẩu:
- Làm thủ tục nhập khẩu theo quy định của Nhà nước
- Thực hiện những công việc bước đầu của khâu thanh toán
- Thuê phương tiện vận tải
- Mua bảo hiểm
- Làm thủ tục hải quan
- Nhận hàng
- Kiểm tra hàng nhập khẩu
- Khiếu nại
Trang 14
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
- Thanh toán
- Thanh lý hợp đồng
1.4.2. Các chứng từ thường sử dụng trong kinh doanh Xuất Nhập Khẩu
Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice)
Là chứng từ cơ bản của khâu thanh toán, là yêu cầu của người mua đòi người bán phải trả số
tiền hàng ghi trên hóa đơn. Trong hóa đơn phải nêu được đặc điểm của hàng hóa, đơn giá,
tổng giá trị hàng hóa, điều kiện cơ sở giao hàng, phương thức thanh toán, phương tiện vận
tải,…
Vận đơn đường biển
Là chứng từ do người chuyên chở (chủ tàu, thuyền trưởng) cấp cho người gửi hàng nhằm
xác nhận việc hàng hóa đã được tiếp nhận để vận chuyển.
Chứng từ bảo hiểm
Là chứng từ do người/tổ chức bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm, ngằm hợp thức hóa
Năm 2010: khối lượng xuất khẩu gạo đạt 6,89 triệu tấn.
Năm 2011: khối lượng xuất khẩu đạt 7 triệu tấn tăng 0,11 triệu tấn (1,59%).
Năm 2012: khối lượng xuất khẩu đạt 8,1 triệu tấn tăng 1.1 triệu tấn (15,67% so với năm
2010)
Năm 2013: khối lượng xuất khẩu đạt 6,6 triệu tấn giảm 1,5 triệu tấn so với năm 2012
Năm 2014: khối lượng xuất khẩu đạt 5,96 triệu tấn gạo.
Tính đến19/3/2015, theo số liệu của Hiệp hội Lương thực VN (VFA), hợp đồng gạo mà các
doanh nghiệp đã xuất khẩu đạt 536,571 tấn.
Xuất khẩu gạo ở nước ta tang trưởng không ổn định trước hết là do sự cạnh tranh khốc liệt
giữa Việt Nam và các nước xuất khẩu gạo lớn như Thái Lan, ngoài ra còn chịu sự ảnh
hưởng của tình hình khủng hoảng kinh tế và bất ổn chính trị trên thế giới. Khoa học công
Trang 16
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
nghệ đã cải thiện công tác giống, chăm sóc lúa, phòng ngừa sâu bệnh giúp tăng năng suất
lúa, nâng cao nguồn cung lúa gạo trong nước. Việc giữ vững và gia tăng sản lượng lúa cuả
cả nước là tiền đề tốt cho việc đảm bảo an ninh quốc gia.
Do quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng ở nhiều quốc gia đang phát
triển trên thế giới làm cho diện tích đất canh tác vị thu hẹp, điển hình như Ấn Độ, Philippin.
Nguồn cung trên thế giới bị thu hẹp tạo điều kiện cho ngành xuất khẩu gạo Việt Nam phát
triển.
Trong nhiều năm qua, giá trị hạt gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới được nâng cao.
Giá gạo được cải thiện và có xu hướng tăng qua các năm, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu gạo
cũng có xu hương tăng theo.
Sản lượng xuất khẩu và giá xuất khẩu bình quân có xu hướng tăng giảm trái ngược nhau.
Khối lượng tăng thì giá giảm, giá tăng thì khối lượng giảm. Trong khi đó kim ngạch xuất
khẩu gạo lại phụ thuộc vào hai yếu tố trên, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu trong từng năm
không thể tăng cao do luôn chịu sự ảnh hưởng từ sự sụt giảm của một trong hai yếu tố đó.
- Về kim ngạch và giá cả
Bảng 2.1: Bảng kim ngạch xuất khẩu và so sánh kim ngạch xuất khẩu qua các
năm
(chiếm 6,86% về lượng và chiếm 6,44% tổng kim ngạch); sau đó là 2 thị trường cũng đạt
kim ngạch trên 100 triệu USD là: Malaysia 177,69 triệu USD; Đài Loan 142,7 triệu USD.
Đa số các thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2010 đều giảm về lượng và kim
ngạch so với năm 2009, tuy nhiên có 5 thị trường xuất khẩu tăng cả lượng và kim ngạch so
với năm 2009, trong đó tăng mạnh nhất là xuất khẩu sang Indonesia (tăng 3763,79% về
lượng và tăng 4696,30% về kim ngạch); xuất khẩu sang Hồng Kông đứng thứ 2 về mức
tăng trưởng (tăng 194% về lượng và tăng 222,42% về kim ngạch); sau đó là Đài Loan (tăng
72,3% về lượng và tăng 74,85% về kim ngạch); Singapore (tăng 64,65% về lượng và tăng
70,51% về kim ngạch). Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu gạo giảm mạnh so với năm 2009 ở
các thị trường Italia (giảm 83,21% về lượng và giảm 75,94% về kim ngạch); Tây Ban Nha
(giảm 79,16% về lượng và giảm 75,45% về kim ngạch) và Ucraina (giảm 64,98% về lượng
và giảm 60,95% về kim ngạch).
Năm 2011:
Indonesia là thị trường Indonesia tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam trong năm 2011,
chiếm 26,48% về lượng và chiếm 27,87% trong tổng kim ngạch với 1,88 triệu tấn, tương
Trang 18
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
đương 1,02 tỷ USD. Thị trường lớn thứ 2 là Philippines với 975.144 tấn, trị giá 476,32 triệu
USD (chiếm 13,71% về lượng và chiếm 13,03% kim ngạch). Đứng thứ 3 là xuất khẩu sang
thị trường Malaysia 530.433 tấn, trị giá 292,09 triệu USD (chiếm 7,46% về lượng và chiếm
7,99% về trị giá); tiếp sau đó là thị trường Cu Ba 430.150 tấn, tương đương 230,42 triệu
USD (chiếm 6,05% về lượng và 6,3% kim ngạch).
Trong năm 2011 xuất khẩu gạo của Việt Nam mở rộng thêm được rất nhiều thị trường mới
so với năm 2010 như: Bangladesh, Senegal, Bờ biển Ngà, Gana, Thổ Nhĩ Kỳ, Angola,
Angieri, I rắc, Hoa Kỳ; trong đó đáng chú ý là các thị trường mới đạt kim ngạch cao trên
100 triệu USD như: Bangladesh 180,38triệu USD, Senegal 169,73 triệu USD và Bờ biển
Ngà 138,81 triệu USD.
Các thị trường xuất khẩu gạo đạt mức tăng trưởng trên 100% cả về lượng và kim ngạch
trong năm 2011 gồm có: Bỉ (tăng 204,4% về lượng và tăng 233,37% về kim ngạch),
Indonesia (tăng 174% về lượng và tăng 194,58% về kim ngạch), Trung Quốc (tăng 148,26%
đương 898,43 triệu USD, chiếm 24,46% tổng kim ngạch, tăng mạnh 574,97% về lượng và
tăng 459,11% về kim ngạch so với năm trước. Thị trường lớn thứ 2 là Philipines đạt 1,11
triệu tấn, trị giá 475,26 triệu USD, chiếm 12,94% tổng kim ngạch, tăng 14% về lượng
nhưng giảm 0,22% về kim ngạch; tiếp đến Indonesia đạt 929.905 tấn, trị giá 458,39 triệu
USD, chiếm 12,48% tổng kim ngạch, giảm 50,62% về lượng và giảm 55% về kim ngạch;
xuất sang Malaysia 764.692 tấn, trị giá 403,16 triệu USD, chiếm 10.98%, tăng 44,16% về
lượng và tăng 38,02% về kim ngạch.
Giá XK bình quân FOB đạt 446,86 USD/tấn FOB, giảm 46,85 USD/tấn so với cùng kỳ. Tuy
lượng gạo XK cao nhưng trị giá XK tăng không đáng kể do giá bình quân giảm. Năm 2012,
ngoài cơ cấu thị trường gạo XK thay đổi, chất lượng gạo XK đã có sự chuyển biến nhất
định, tỷ lệ gạo cao cấp đã chiếm trên 46% về lượng và tăng trên 79% so với năm 2011, loại
gạo trung bình và cấp thấp đã giảm mạnh, chiếm khoảng 35% và giảm khoảng 32% so với
năm 2011.
Thị truờng xuất khẩu gạo năm 2013
Trang 20
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
Năm 2013, cả nước đã xuất khẩu gần 6,6 triệu tấn gạo, giảm hơn 1,4 triệu tấn (tức
giảm 17,76%) so với năm 2012, kim ngạch đạt gần 2,93 tỷ USD, giảm 20,36%, đây
là mức xuất khẩu thấp nhất trong 3 năm qua. Với kết quả này, Việt Nam đã giảm
xuống xếp thứ 3 sau Ấn Độ và Thái Lan trên bảng tổng xếp xuất khẩu gạo không đáp
ứng được mục tiêu xuất khẩu gạo đã đề ra 7,5 triệu tấn hồi đầu năm 2013; xuất khẩu
gạo Việt Nam sụt giảm là do áp lực cạnh tranh cao và sụt giảm nhu cầu của các thị
trường truyền thống như Malaysia, Philippines và Indonesia.
Nhìn chung năm 2013, xuất khẩu gạo sang đa số các thị trường bị sụt giảm so với
năm 2012; trong đó một số thị trường sụt giảm mạnh như: Indonesia (giảm 83,13%
về lượng và giảm 80,08% về kim ngạch); Senegal (giảm 74,65% về lượng và giảm
73,6% về kim ngạch); Philippines (giảm 54,64% về lượng và giảm 52,57% về kim
ngạch); Đài Loan (giảm 53,29% về lượng và giảm 49,46% về kim ngạch).
Trang 21
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
Tuy xuất khẩu sang khá nhiều thị trường trong khu vực nhưng trên thực tế, gạo của Việt
Nam vẫn xuất khẩu sang châu Phi là chủ yếu, với kim ngạch đạt 425,7 triệu usd, chiếm
khoảng 90% tổng kim ngạch xuất khẩu sang châu Phi, Tây Á, Nam Á. Một số thị trường
xuất khẩu gạo chính sang châu Phi như: Ghana (177,9 triệu usd), Bờ Biển Ngà (104,9 triệu
usd), Mozambique (20,0 triệu usd); Nam Phi (17,3 triệu usd), Algeria ( 15,8 triệu usd),
Senegal (15,2 triệu usd), Benin (13,2 triệu usd).
Tại khu vực Tây Á, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) là nước nhập khẩu gạo
nhiều nhất từ Việt Nam với kim ngạch đạt 17,0 triệu usd, tiếp đến là Ả-rập Xê-út (8,0 triệu
usd), I-xra-en (4,9 triệu usd), các nước như Qatar, Jordan, Syria mỗi nước nhập khẩu trên
3,0 triệu usd.
Khu vực Nam Á có Pakistan, Sri lanka nhập khẩu gạo từ Việt Nam nhưng với số lượng
không đáng kể. Đáng chú ý là Bangladesh, nước có MOU về thương mại gạo với Việt Nam
nhưng gần đây không tiếp tục nhập khẩu gạo từ Việt Nam do nước này chuyển sang nhập
khẩu gạo từ Ấn Độ, Pakistan và Thái Lan.
Như vậy, năm 2014, xét về kim ngạch, xuất khẩu gạo sang khu vực thị trường châu Phi, Tây
Á, Nam Á giảm tới 43%, trong đó xuất khẩu gạo sang châu Phi giảm trên 45% so với năm
2013. Xuất khẩu gạo sang hầu hết các thị trường chính đều suy giảm đáng kể. Cụ thể như
sang Ghana (-3%), sang Bờ Biển Ngà (-54%), sang Algeria (-60%), sang Angola (-85%)…
Nguyên nhân của của việc giảm xuất khẩu gạo sang châu Phi ngoài tình hình dịch bệnh
Ebola thì ngày càng có nhiều nước cạnh tranh xuất khẩu gạo với Việt Nam như Thái Lan,
Ấn Độ, Pakistan trong đó Thái Lan đã đẩy mạnh xuất khẩu gạo tồn kho giá rẻ theo chương
trình hỗ trợ mua tạm trữ lúa gạo của Chính phủ nước này.
Trang 24
Chuyên đề môn học GVHD: Th.s Đoàn Hùng Cuờng
Biểu đồ 2.1:Biểu đồ xuất khẩu gạo qua các năm 2010-2014
Xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2014 giảm so với dự báo và thấp nhất 5 năm qua, theo
báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA). Tình hình xuất khẩu gạo trong 5 năm
như sau:
Năm 2014, xuất khẩu 6,316 triệu tấn, trị giá 2,931 tỷ USD, bình quân 464 USD/tấn
Năm 2013, xuất khẩu 6,61 triệu tấn, trị giá 2,95 tỷ USD, bình quân 446 USD/tấn