PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM. - Pdf 33

MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................1
LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................2
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN.......................................4
Chương 2 :
LỢI THẾ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU
GẠO Ở VIỆT NAM......................................................................................21
Chương 3 :
THỰC TRẠNG CỦA XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY............................................................................................28
Chương 4 :
MÔ HÌNH PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT
ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM..........................................55
Chương 5 :
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM....................................................................61
KẾT LUẬN....................................................................................................70
1
Đề tài :
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá, mỗi nước đều chọn cho
mình một hướng đi thích hợp để cùng tiến tới một mục tiêu kinh tế là: ổn
định và phát triển lâu dài nền kinh tế. Một hướng đi mà nhiều nước lựa chọn
là “Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu”. Xét về điều kiện kinh tế, Việt
Nam là một nước nông nghiệp có tới hơn 80% dân số làm việc trong ngành
này, do đó hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ngoài dầu mỏ và than thì chủ
yếu là hàng nông sản trong đó mặt hàng gạo chiếm tỷ trọng lớn nhất của Việt

3
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN
1.1. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu nông sản:
1.1.1. Khái niệm về xuất khẩu:
Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ
sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối
với mỗi quốc gia hay đối với cả hai quốc gia.
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu:
Với mục tiêu đa dạng hoá các hình thức kinh doanh, chiết khấu nhằm
phân tán và chia rẽ rủi ro, các doanh nghiệp thương mại có thể lựa chọn nhiều
hình thức xuất khẩu.
- Xuất khẩu trực tiếp.
Là việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp
sản xuất ra hoăc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng
ngoài thông qua các tổ chức của mình. Xuất khẩu trực tiếp có thể làm tăng
thêm rủi ro trong kinh doanh song lại có những ưu điểm nổi bật là giảm bớt
các chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, có thể liên hệ
trực tiếp và đều đặn với khách hàng và thị trường nước ngoài, biết được nhu
cầu của khách hàng và tình hình bán hàng ở đó nên có thể thay đổi sản phẩm
và những điều kiện bán hàng trong điều kiện cần thiết.
- Xuất khẩu gia công uỷ thác.
Đây là hình thức kinh doanh mà trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra
nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm do xí nghiệp gia công sau đó thu hồi
thành phẩm để xuất cho bên nước ngoài. Đơn vị được hưởng phí uỷ thác theo
thoả thuận với các xí nghiệp sản xuất. Hình thức này có ưu điểm là doanh
nghiệp thương mại không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưng vẫn thu được lợi
nhuận, rủi ró it hơn, việc thanh toán chắc chắn hơn. Tuy nhiên đòi hỏi phải
4
tiến hành nhiều công việc, nhiều thủ tục nhập khẩu, các cán bộ kinh doanh

tế đều chỉ ra rằng để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia đều phải
có 4 điều kiện: nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật công nghệ. Trong
giai đoạn hiện nay, hầu hết các nước đang phát triển đều thiếu vốn và công
nghệ nhưng lao động thì rất dồi dào. Với sự mất cân đối về nguồn lực đầu vào
làm thế nào để các quốc gia có thể tăng trưởng và phát triển được? Để giải
quyết được vấn đề này, họ buộc phải nhập từ bên ngoài những yếu tố mà
trong nước chưa thoả mãn được. Để nhập được những yếu tố đó thì phải có
nguồn ngoại tệ, mà nguồn ngoại tệ này chủ yếu thu được từ các hoạt động
xuất khẩu, xuất khẩu là hoạt động chính, tạo tiền đề cho nhập khẩu. Từ đó ta
có thể đánh giá vai trò của xuất khẩu ở các khía cạnh :
+ Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Ở các nước kém phát triển, một trong những vật
cản chính đối với tăng trưởng kinh tế là thiếu nguồn vốn trong quá trình phát
triển. Có nhiều cách khác nhau để huy động nguồn ngoại tệ nhưng chỉ bằng
hoạt động xuất khẩu thì nguồn vốn mới ổn định và thường xuyên bền vững.
+ Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, thúc đẩy sản xuất
phát triển mạnh mẽ.
+ Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với hoạt động sản
xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
+ Thứ nhất: Chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu thụ
nội địa, trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất
về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ vào sự dư thừa ra của sản
xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó
các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển.
+ Thứ hai : Coi thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và
xuất khẩu. Quan điểm này có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu và
thúc đẩy sản xuất phát triển cụ thể:
6
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có liên quan phát triển theo.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia,

phần ăn hàng ngày thì năng lượng từ gạo cung cấp chiềm 50% đến 60% ở các
nước đang phát triển và từ 20% đến 30% ở các nước phát triển. Trên thực tế,
sự biến động nhu cầu gạo theo đầu người ở các nước đang phát triển giảm
nhưng ở các nước đang phát triển lại tăng lên chút ít. Hơn nữa, do dân số thế
giới không ngừng tăng nên nhu cầu về lúa gạo không những giảm mà còn
tăng lên. Theo thống kê thì khu vực Châu Á tiêu thụ trên 90% tổng lượng gạo
tiêu thụ toàn cầu. Các nước tiêu thụ gạo nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và
Inđonesia, tiếp đó là Negieria và Ai Cập là hai nước tiêu thụ gạo lớn của Châu
Phi. Trong tổng tiêu dùng gạo thì gạo làm thức ăn trong khẩu phần ăn hàng
ngày của người dân chiếm từ 90% đến 93%, dùng cho chăn nuôi khoảng 5%,
dùng cho chế biến từ 3% đến 5%. Hiện nay, người dân trong nước cũng như
trên thế giới có mức sống ngày càng cao. Nhu cầu của họ không chỉ dừng lại
ở mức đủ gạo để ăn mà là đòi hỏi những loại gạo cao sản. Chính vì vậy, để
xuất khẩu gạo ổn định và hiệu quả cao thì sản xuất trước tiên phải có dư thừa
ngoài việc cho tiêu dùng trong nước thì cần đảm bảo đáp ứng đủ tiêu chuẩn
lúa gạo cho xuất khẩu. Hơn nữa, khi có sự tập trung cho xuất khẩu sẽ thu hút
được nhiều đơn vị kinh doanh, cơ quan nhà nước, hợp tác xã, trang trại, hộ
gia đình cùng tham gia vào sản xuất vì họ biết rằng sản phẩm xuất khẩu sẽ thu
được nhiều lợi nhuận hơn là bán sản phẩm trong nước và sản phẩm của họ
tiêu dùng nhanh và nhiều hơn. Từ việc thu hút được các thành phần kinh tế
cùng tham gia vào sản xuất lúa gạo để xuất khẩu thì chất lượng gạo xuất khẩu
sẽ tăng lên, giá sẽ cạnh tranh hơn, gạo của chúng ta sẽ phát huy được lợi thế
8
so sánh so với gạo của các quốc gia khác và tất nhiên hiệu quả xuất khẩu sẽ
tăng lên.
- Ngày nay, trước nhu cầu khắt khe của thị trường thế giới, để xuất khẩu
có hiệu quả thực sự thì chúng ta phải coi chất lượng gạo là yếu tố quan trọng,
là mục tiêu mà sản xuất hướng tới có như vậy mới có sự kết hợp đồng bộ giữa
người dân, nhà khoa học và nhà xuất khẩu.
1.1.4.2. Vai trò, ý nghĩa của xuất khẩu gạo.

gạo với kim ngạch gần 6670 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu gạo tăng đã góp
phần không nhỏ vào việc thu ngoại tệ cho đất nước nhằm đẩy nhanh tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Xuất khẩu gạo không những góp phần cải thiện cán cân thương mại
mà còn là điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng
ngoại. Xuất khẩu gạo sẽ kéo theo sự phát triển sản xuất lúa theo hướng
chuyên môn hoá, phát triển của nghành chế tạo máy nông nghiệp, công
nghiệp chế biến bảo quản, hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển để đáp ứng việc
đẩy mạnh xuất khẩu. Như vậy, xuất khẩu gạo đã tạo điều kiện cho các nghành
liên quan phát triển theo, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi
cho sự tăng trưởng và phát triển của đất nước.
- Xuất khẩu gạo góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Cơ
sở kinh tế của xu hướng đó là lợi ích của các tác nhân khi tham gia vào quá
trình đó thường lớn hơn khi không tham gia vào giao thương quốc tế, trong đó
các nước xuất khẩu thì tìm cách khai thác về lợi thế về tài nguyên thiên nhiên,
lao động rẻ... để phát triển kinh tế còn nhóm các nước nhập khẩu lại tìm cách
xuất khẩu tư bản, tìm môi trường đầu tư có lợi về mặt tài chính. Xuất khẩu
gạo trong những năm qua của chúng ta còn rất nhiều hạn chế mà các hạn chế
đó lại xuất phát từ chính bản thân xản phẩm lúa gạo. Sự hạn chế trong chất
lượng gạo đã làm cho hiệu quả xuất khẩu gạo của chúng ta chưa xứng đáng
vơí tiềm năng vốn có cuả nó.
10
Xuất khẩu gạo giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này
hoàn thiện hơn, năng động hơn bởi lẽ chỉ có sự luôn đổi mới thì mới làm cho
doanh nghiệp đứng vững được trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường thế
giới.
1.2. Đặc điểm của thị trường gạo.
1.2.1. Đặc điểm của thị trường gạo :
Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời, phát triển của
sản xuất và trao đổi hàng hoá, cũng như các thị trường khác thị trường gạo là

xuất khẩu và nhập khẩu là không ổn định, sự không ổn định này là do sự tác
động của thời tiết khí hậu. Trong cùng một năm, diễn biết thời tiết khí hậu có
thể tác động tích cực đến sản xuất lúa gạo của nước này nhưng cũng có thể
tác động tiêu cực đến sản xuất lúa gạo của nước khác. Đối với các chủ thể
xuất khẩu nếu như được sự tác động tích cực của thời tiết khí hậu đến sản
xuất luá gạo thì lượng cung ra thị trường thế giới sẽ lớn và ngược lại nếu chịu
sự tác động tiêu cực đến sản xuất lúa gạo thì không những chỉ là cung ra thị
trường ít mà cũng có thể phải nhập khẩu. Còn đối với những nước nhập khẩu
nếu như được sự hỗ trợ của thời tiết khí hậu thì năm đó họ sẽ nhập một lượng
ít đi. Chẳng hạn như Inđonêsia năm 1998 phải nhập 6,081 triệu tấn gạo nhưng
đến năm 2000 thời tiết thuận lợi cho sản xuất lúa nên lượng nhập của họ chỉ
khoảng 2 triệu tấn.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề an
ninh lương thực, cùng với sự thuận hoà của thời tiết khí hậu đã khiến cho cầu
về lúa gần như bão hoà và chính điêù này là một vấn đề đáng quan tâm với
các Quốc gia xuất khẩu gạo nói chung và Việt Nam nói riêng.
Thứ tư: Các nước lớn đóng vai trò chi phối thị trường gạo thế giới:
Gạo là hàng hoá thiết yếu cho nên các nước đều trực tiếp có chính sách
điều hành hoặc độc quyền, tập trung kinh doanh và coi trọng xây dựng dự trữ
Quốc gia. Chính sách của Nhà nước tác động khá mạnh đến sản xuất, xuất
12
khẩu và nhập khẩu gạo. Các nước lớn tác động trực tiếp, chi phối đến chiều
hướng của thị trường gạo như: Mỹ, EU, Trung Quốc,... họ có thể điều tiết
khối lượng mua vào hay bán ra trên thị trường Quốc tế và qua đó ảnh hưởng
đến giá cả và các tác nhân tham gia thị trường.
Thứ năm: Trên thị trường, chủng loại gạo phong phú và có sự khác biệt
về thị hiếu của mỗi nước.
Ngày nay, do có sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã đem lại
những thành tựu to lớn cho ngành nông nghiệp nhất là những thành tựu về
công nghệ sinh học, nhờ áp dụng các loại giống mới có năng suất, chất lượng

xuất gạo cũng thật đơn giản, những loại giống lúa nào ngắn ngày, cho năng
suất cao đều được cho là giống tốt và được áp dụng rộng rãi còn đối với các
giống lúa đặc sản truyền thống mặc dù có hương vị nhưng năng suất thấp nên
việc bảo tồn hầu như bị coi nhẹ. Cùng với sự văn minh của xã hội hiện đại thì
nhu cầu của con người cũng không ngừng được nâng lên. Nhu cầu của con
người ngày nay không chỉ dừng lại ở mức đủ gạo để ăn mà đòi hỏi những loại
gạo có chất lượng cao, những loại gạo tự nhiên. Sở dĩ có gạo "tự nhiên" bởi lẽ
cùng với những thành tựu của khoa học kỹ thuật là những tác hại của lượng
hoá chất còn tồn đọng trong sản phẩm. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu
đã phát hiện ra rằng tiêu dùng những loại gạo còn lưu một lượng hoá chất là
vô cùng tác hại. Hơn nữa, những loại gạo được thâm canh theo phương pháp
cổ truyền, tự nhiên, bao giờ cũng có hương vị đậm đà hơn các sản phẩm cùng
loại mà việc sản xuất ra nó có sử dụng quá nhiều hoá chất. Chính điều đó đã
dẫn đến một xu hướng có tính quy luật về nhu cầu gạo như hiện nay: cầu về
số lượng gạo có xu hướng tăng chậm thậm chí giảm còn cầu về gạo chất
lượng cao vẫn không ngừng tăng lên.
Giá:
Nhìn chung, giá lúa gạo thế giới gần đây có xu hướng giảm xuống
nguyên nhân của sự giảm giá này là do nhu cầu về gạo tương đối ổn định
trong khi đó cung ngày càng tăng lên.
14
Đứng trước xu hướng của thị trường gạo thế giới, Việt Nam với cương vị
là một nước xuất khẩu. Biện pháp thức thời đưa ra đối với ngành lúa gạo để
đáp ứng tình hình hiện nay trước tiên là chất lượng lúa gạo và thị trường tiêu
thụ. Nếu chúng ta giải quyết được 2 vấn đề này thì có nghĩa là chúng ta đã có
lối đi cho ngành lúa gạo Việt Nam.
1.3. Một số nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu gạo.
1.3.1. Sự biến động của thị trường.
Thị trường là phạm trù kinh tế gắn liền sản xuất và tiêu dùng, ở đâu có
sản xuất, lưu thông hàng hoá thì ở đó có thị trường. Để nắm vững các qui luật

và thời tiết rất thuận hoà cho việc phát triển sản xuất lúa gạo) dẫu đến giá gạo
trên thị trường thế giới rất thấp, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người nông
dân nhất là những vùng chuyên trồng lúa. Để khắc phục tình trạng này, Chính
phủ cần quan tâm hơn nữa đến những biện pháp để hỗ trợ nông dân trồng lúa
và những doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo.
1.3.2. Thị hiếu người tiêu dùng.
Tuỳ theo mức sống, tập quán, việc tiêu thụ gạo ở các nước, các khu vực
trong những thời gian nhất định có những yêu cầu khác nhau. Thông thường,
gạo đánh bóng và xát trắng được ưa chuộng hơn. Tuy vậy có những vùng
nông thôn người ta lại ưa loại gạo xát không kỹ chứa nhiều vitamin và ngày
nay trên thế giới thì xu hướng thiên về gạo ngon hạt dài. Từ những khác nhau
về thị hiếu đó thì ta thấy rằng khi thâm nhập vào một thị trường nào đó trước
hết chúng ta cần phải tìm hiểu thị hiếu của họ, xem họ cần loại gạo nào từ đó
mới cung ứng có như vậy thì mới nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo.
1.3.3. Chất lượng gạo xuất khẩu.
Chất lượng gạo là một trong những yếu tố quyết định tới sự cạnh tranh
trên thị trường, đồng thời nó cải thiện được hiệu quả xuất khẩu. Chất lượng
gạo xuất khẩu cần được hiểu một cách rộng hơn với ý nghĩa là một chỉ tiêu
16
tổng hợp phản ánh mức độ thoả mãn nhu cầu của gạo xuất khẩu về qui cách,
phẩm chất, kiểu dáng, sở thích, tập quán tiêu dùng. Chất lượng gạo không phụ
thuộc vào nhiều yếu tố trong đó giống kỹ thuật canh tác và bảo quản chế biến
là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng gạo.
Giống:
Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng gạo bởi lẽ giống tốt
thì bản thân nó đã đảm bảo các chỉ tiêu:
+ Khả năng chống chọi với điều kiện tự nhiên.
+ Cho phép sinh trưởng và phát triển mạnh.
+ Tạo ra sản phẩm với năng suất, chất lượng cao, mẫu mã đẹp.
+ Có khả năng hạn chế các loại sâu bệnh.

biến màn và bạc bụng không đảm bảo tiêu chuẩn cho gạo xuất khẩu. Hơn nữa,
bản thân quá trình sấy khô lúa gạo nếu không đúng qui trình tức là cho máy
sấy một khối lượng lúa gạo quá lớn hoặc một lượng nhiệt quá cao sẽ dẫn đến
việc tạo ra một lượng lúa gạo có độ ẩm không đều và nhiều hạt vỡ.
Với kho bảo quản.
Sở dĩ lúa gạo có kho bản quản bởi lẽ nó là sản phẩm của ngành nông
nghiệp, do nó có tính thời vụ trong sản xuất nên nó cũng có tính thời vụ trong
trao đổi. Bất kỳ một Quốc gia nào có lúa gạo thì đều có kho bảo quản. Kho
bảo quản là một hệ thống các kho từ kho bảo quản ở các chợ thu mua, kho
bảo quản ở nơi tập trung xay xát và kho bảo quản ở các cảng giao hàng. Việc
xây dựng hệ thống các kho một cách hiện đại, bảo đảm và yêu cầu cần thiết
đặt ra đối với mọi quốc gia đặc biệt là các quốc gia xuất khẩu lúa gạo bởi lẽ
có như vậy thì mới tạo nên sự thuận lợi trong hoạt động kinh doanh, điều hoà
thị trường, thiết lập ổn định dự trữ quốc gia và cung cấp ra thị trường thế giới
theo đúng tiến độ giao hàng.
18
Với chế biến.
Kỹ thuật xay xát được đánh giá theo chất lượng hạt gạo nguyên đạt
được. Tuy nhiên, lượng hạt nguyên cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào kỹ thuật
xay xát và giống lúa. Thị hiếu tiêu dùng quyết định tới cách chế biến như thế
nào. Có nhiều nước ưa chuộng gạo xát trắng, không còn phôi và lớp cám
ngoài cùng, có nhiều nước lại ưa chuộng loại gạo hấp chứa nhiều vitamin và
có giá trị dinh dưỡng cao. Việc chế biến sao cho phù hợp với thị hiếu người
tiêu dùng cũng đồng nghĩa với chất lượng hạt gạo được nâng lên để đáp ứng
được yêu cầu của người tiêu dùng.
1.3.4. Cơ chế chính sách đối với xuất khẩu.
Cơ chế quản lý, chính sách kinh tế và các quan hệ đối ngoại là các yếu tố
rất nhạy cảm, tác động trực tiếp nền kinh tế nói chung và xuất khẩu gạo nói
riêng.
Sự tác đồng của cơ chế chính sách đến xuất khẩu gạo theo 2 hướng: kìm

là đòn bẩy để điều tiết cung cầu. Tỷ giá hối đoái thấp sẽ có tác dụng khuyến
khích nhập khẩu nhưng tỷ giá hối đoái cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu nhưng lại
khuyến khích xuất khẩu. Vì khi đó hàng xuất khẩu sẽ có giá tương đối thấp.
Nói tóm lại, trước xu thế vận động và phát triển không ngừng của xã hội,
khoa học công nghệ ngày càng hiện đại cùng với đó là nhu cầu tiêu dùng của
con người ngày càng được nâng cao, ngành sản xuất lúa gạo cũng phải thay
đổi để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó. Vì vậy, một chính sách cho ngành lúa gạo
khi đưa ra không chỉ đúng, phù hợp mà còn phải kịp thời nữa.
20
Chương 2 :
LỢI THẾ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ
XUẤT KHẨU GẠO Ở VIỆT NAM
2.1. Về tự nhiên:
Việt Nam có lợi thế về nguồn tài nguyên và các điều kiện tự nhiên, khí
hậu ưu đãi và thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp đặc biệt là cây lúa
nước. Những yếu tố đó đã tạo cho Việt Nam có một lợi thế so sánh về mặt
hàng gạo so với nhiều nước trên thế giới.
2.1.1 Đất đai:
Ở Việt Nam sản xuất lúa gạo là ngành sản xuất cổ truyền, có từ lâu đời
và gắn với lịch sử phát triển nông nghiệp. Đặc điểm của ngành sản xuất nông
nghiệp là sử dụng một diện tích lớn ruộng đất để gieo trồng thì Việt Nam có
một nguồn tài nguyên đất rất giàu có. Với diện tích đất trồng lúa hiện có 4,4
triệu hecta chiếm 55% trong tổng số 8 triệu hecta đất trồng trọt nông nghiệp,
43% trong tổng diện tích 10,3 triệu hecta đất đang sử dụng (không kể đất
rừng của cả nước) và 13,3% diện tích lãnh thổ, trong đó diện tích Đồng Bằng
Sông Cửu Long (ĐBSCL) là xấp xỉ 3954 triệu hecta, diện tích Đồng Bằng
Sông Hồng (ĐBSH) là 1251 triệu hecta và diện tích Đồng Bằng Nam Bộ
(ĐBNB) là 2347 triệu hecta. Đặc biệt ĐBSCL và ĐBSH là hai đồng bằng
rộng lớn, hàng năm được hai sông lớn bù đắp phù sa, được đánh giá vào loại
phì nhiêu trên thế giới, rất thích hợp cho việc trồng cây lúa nước. Độ màu mỡ

Trong điều kiện kinh tế Việt Nam, nông nghiệp và nông thôn là khu vực
tạo việc làm chủ yếu.Với dân số 84 triệu người, trong đó 75% dân số sống ở
nông thôn và 50% dân số ở trong độ tuổi lao động, Việt Nam có nguồn lao
động dồi dào, giá nhân công rẻ . Đây là một lợi thế đối với việc sản xuất và
xuất khẩu gạo ở nước ta. Lực lượng lao động ở nông thôn tuy có kinh nghiệm
về nghề trồng lúa của ông cha truyền lại nhưng lao động có trình độ ở khu
vực này nhìn chung còn bất cập, về cơ bản vẫn chỉ là lao động phổ thông.
22
Hiểu biết của nông dân về khoa học kỹ thuật (nhất là công nghệ sinh học) còn
kém, về thị trường còn rất hạn chế vì vậy họ rất dè dặt trong việc thay đổi các
giống lúa, áp dụng những thành tựu mới vào sản xuất lúa gạo,… để nâng cao
chất lượng phù hợp với thị trường, điều đó làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động
xuất khẩu gạo. Do đó để phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và sản
xuất lúa gạo nói riêng thì trong thời gian tới Việt Nam cần đầu tư ngân sách
Nhà nước vào phát triển nguồn nhân lực, xây dựng và củng cố các trường dạy
nghề phục vụ phát triển nông nghiệp, bên cạnh đó cũng cần có các chính sách
thoả đáng đối với đội ngũ trí thức tình nguyện làm việc tại nông thôn…Nâng
cao chất lượng lực lượng lao động trong nông nghiệp là cơ sở để hạt gạo Việt
Nam bay xa hơn.
2.3. Về kết cấu hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng của sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam luôn được
Nhà nước ta quan tâm đầu tư và nâng cấp nhằm nâng cao năng suất, sản
lượng lúa cũng như hiệu quả và chất lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Trước hết, đối với sản xuất gạo, các công trình thuỷ lợi được đầu tư tu
bổ và xây mới thuận lợi cho tưới tiêu, nâng cao năng suất lúa. Bên cạnh đó
phải kể đến trình độ cơ giới hoá ngày càng nâng cao đã làm giảm tổn thất tỷ
lệ tổn thất trước và sau thu hoạch lúa, và làm giảm chi phí sản xuất gạo…
Thứ hai là đối với gạo xuất khẩu, bấy lâu nay hầu hết khối lượng gạo
buôn bán quốc tế của Việt Nam thường được vận tải bằng đường biển. So
với phương tiện vận tải đưòng sắt, đưòng hàng không , vận tải bằng đưòng

Ngoài ra Nhà Nước còn khuyến khích các Doanh nghiệp hình thành các
tổ chức hiệp hội, hợp tác để thống nhất về quy cách, ký kết hợp đồng dài hạn,
bảo đảm thanh toán để giảm bớt rủi ro, tránh hiện tượng ép cấp, ép giá trong
buôn bán.
24
Tăng cường các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu gạo như: cung cấp miễn phí
các thông tin về thị trường và các văn bản có liên quan đến xuất khẩu cho các
Doanh nghiệp.
Bên cạnh đó các thông lệ thương mại luôn ưu tiên và đảm bảo quyền lợi
cho xuất khẩu gạo.
Việc Nhà nước đặt mục tiêu xuất khẩu hàng nông sản là mũi nhọn trong
hoạt động kinh tế đối ngoại và phát triển kinh tế đất nước cũng đã tạo điều
kiện thuận lợi và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo mạnh mẽ hơn.
2.5. Mức tiêu thụ gạo của thế giới:
Từ năm 1989 – 2001, sản lượng tăng 2%/năm, đạt mức 908 triệu tấn
vào năm 2001, trong đó 90% làm lương thực cho người, số còn lại phục vụ
cho chăn nuôi và chế biến công nghiệp. Tuy nhiên nhu cầu gạo ở mỗi quốc
gia và mỗi vùng là khác nhau.
Châu Mỹ La Tinh, Châu Âu, Bắc Mỹ , Caribê: mức tiêu dùng cho một
người trong một năm là tăng, trong khi đó ở vùng Trung cận đông có xu
hướng giảm, ở khu vực viễn đông: Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan,
Singapore, tuy thu nhập bình quân đầu người có tăng nhưng nhu cầu tiêu
dùng gạo giảm do cơ cấu bữa ăn có sự thay đổi.
Châu Phi dự kiến tiêu dùng bình quân đầu người là 16 kg, tăng 2
kg/người so với thời kỳ trước đây. Châu Phi đang ngày càng trở thành một thị
trường gạo hấp dẫn. Nhập khẩu gạo Châu Á vào Châu Phi ngày một tăng và
tiếp tục tăng hơn nữa. Châu Á là nơi sản xuất lượng gạo nhiều nhất, chiếm
79% trong đó Trung Quốc chiếm 34%, Ấn Độ chiếm gần 20%, Inđônêsia
chiếm 8 – 9%.
Nhu cầu nhập khẩu gạo thực chất còn phụ thuộc vào khả năng thanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status