luận văn tài chính ngân hàng Hướng dẫn phương pháp xác định giá trị, phương thức thanh toán tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước - Pdf 27

MỤC LỤC
TRỮ LƯỢNG 29
c) Các văn bản tham khảo 39
c. Về đơn giá sử dụng để tính toán 41
1
MỞ ĐẦU
Mỏ sắt Thạch Khê thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh được phát hiện
từ những năm 1960. Mỏ có nguồn gốc skarn, phân bố từ ở độ sâu 50m đến
700m, nằm gần bờ biển. Trữ lượng mỏ đạt 544.080,1 nghìn tấn quặng sắt,
thuộc loại quy mô lớn, hàm lượng quặng trung bình của mỏ đạt 58,38%.(Theo
báo cáo thăm dò tỉ mỷ năm 1985 của Đoàn Địa chất 402).
Chính phủ đã giao Bộ Công Thương phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh
Hà Tĩnh thành lập Công ty cổ phần sắt Thạch Khê(TIC) do Tập đoàn Công
nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam(TKV) chủ trì với sự tham gia của các cổ
đông chính là Tập đoàn TKV, Tổng công ty Thép Việt Nam(VSC) và Tổng
công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh (MITRACO) .
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Thông báo
số 119/TB - VPCP về việc triển khai Dự án mỏ sắt Thạch Khê và nhà máy Thép
liên hợp Hà Tĩnh ngày 28 tháng 05 năm 2007, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
cấp phép khai thác mỏ sắt Thạch Khê cho Công ty TIC tại Quyết định số
QĐ/BTNMT-GPKT ngày 22 tháng 02 năm 2009
Thủ tướng Chính phủ cũng có ý kiến chỉ đạo tại công văn số 2124/VPCP-
KTN ngày 01/04/2010 về việc góp vốn bằng giá trị tài liệu mỏ sắt Thạch Khê và
căn cứ vào ý kiến chỉ đạo này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có công văn
3677/BTNMT-TC ngày 14/09/2010 giao cho Cục Địa chất và Khoáng sản Việt
Nam tổ chức xác định lại giá trị tài liệu mỏ sắt Thạch Khê do Nhà nước đã đầu
tư điều tra, thăm dò tại mỏ này.
Điểm cần nhấn mạnh rằng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh là mỏ có quy mô
lớn nhất nước ta, mỏ đã được điều tra, thăm dò và nghiên cứu từ năm 1960
cho đến nay với một khối lượng thi công rất lớn và số lượng tài liệu đồ sộ và
đa dạng.

Thông tư liên tịch số 186/2009/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/11/2009 của
liên bộ Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường “Hướng dẫn phương
pháp xác định giá trị, phương thức thanh toán tiền sử dụng số liệu, thông tin
về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước” và trên cơ sở “ Đề án
tổ chức xác định tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò
khoáng sản của Nhà nước” đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt
tại quyết định số 1547/QĐ-BTNMT ngày 23/8/2010, tập thể các tác giả đã
tiến hành:
- Thu thập toàn bộ các tài liệu có liên quan
- Phân loại, xử lý và phân tích các tài liệu đã thu thập
- Tổ chức các phiên làm việc phối hợp với Tổng Công ty thép Việt Nam
và Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh
- Tổ chức Hội thảo chuyên môn về nguyên tắc và phương pháp tính toán
- Tổ chức khảo sát thực tế tại mỏ sắt Thạch Khê
- Tổ chức Hội thảo trao đổi kết quả tính toán với các bên liên quan
- Thành lập Báo cáo kết quả xác định tiền sử dụng số liệu, thông tin điều
tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước mỏ sắt Thạch Khê.
Báo cáo đã được hoàn thành với nỗ lực lớn của tập thể tác giả. Bên cạnh
đó, tập thể tác giả còn nhận được sự phối hợp nhiệt tình và có hiệu quả của
Tổng Công ty thép Việt nam và Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà
Tĩnh, sự giúp đỡ của các cán bộ kinh tế, kỹ thuật trong và ngoài ngành. Xin
trân trọng cảm ơn tất cả những giúp đỡ quý báu đó.
4
Chương I
KHÁI QUÁT VỀ MỎ SẮT THẠCH KHÊ
I.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG
I.1.1 Vị trí địa lý
Mỏ quặng sắt Thạch Khê nằm trên địa phận 3 xã Thạch Khê, Thạch
Đỉnh và Thạch Hải thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, cách thị xã Hà Tĩnh
8km về phía Đông, trung tâm của mỏ cách bờ biển Đông khoảng 1,6km.

. Năm 1980 Hội đồng chất 8 (nay là 402) tiến hành kiểm
tra dị thường từ bằng công tác khoan và đã phát hiện được thân quặng sắt
5
magnetit. Để khảo sát chi tiết, năm 1963 đến năm 1964 Đoàn 8 đã tiến hành lập
bản trữ lượng Nhà nước đã phê chuẩn báo cáo thăm dũ sơ bộ mỏ sắt Thạch Khê
với trữ lượng tính được 511.550 nghìn tấn, trong đó cấp C
1
là 171.000 nghìn tấn
và khẳng định mỏ có giá trị công nghiệp.
Từ năm 1981 đến 1984 mỏ được tiến hành thăm dò tỉ mỉ. Hội đồng xét
duyệt trữ lượng khoáng sản đã phê chuẩn báo cáo địa chất về kết quả thăm dò
tỉ mỉ mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh tại Quyết định số: 153/QĐHĐ, ngày 12
tháng 04 năm 1985với trữ lượng quặng sắt đã tính là 544.080,1 nghìn tấn.
Trong đó trữ lượng cấp B là 86.042,5 nghìn tấn; cấp C
1
325.913,5 nghìn tấn;
cấp C
2
132.124,1 nghìn tấn.
Năm 2007, báo cáo chuyển đổi cấp trữ lượng đã được Hội đồng đánh giá
trữ lượng khoáng sản phê duyệt. Kết quả chuyển đổi các cấp trữ lượng và cấp
tài nguyên quặng sắt mỏ sắt Thạch Khê tính đến 30 tháng 06 năm 2007 được
thể hiện trong bảng 1 như sau :
Bảng 1. Tình hình trữ lượng và tài nguyên quặng sắt sau chuyển đổi
Lo¹i
quÆng
T×nh h×nh tr÷ lîng vµ tµi nguyªn quÆng s¾t sau chuyÓn ®æi
CÊp tr÷ lîng(ngh×n tÊn) CÊp tµi nguyªn(ngh×n tÊn)
121 122 221 222 333
QuÆng gèc 77.729,7 200.313,0 8.312,8 123.864,6 78.169,7

I.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT MỎ THẠCH KHÊ
I.2.1. Địa tầng
Tham gia vào cấu trúc địa chất của vùng có các phân vị địa tầng như sau:
GIỚI PALEOZOI (PZ)
Hệ Devon, thống dưới – thống giữa (D
1-2
)
Hệ tầng Thạch Khê (D
1-2
tk)
Các đá trầm tích Devon tập trung ở phía bắc - tây bắc vùng mỏ. Thành
phần gồm trầm tích lục nguyên: cát kết, bột kết xen kẽ đá phiến sét, phiến
silic, đá phiến sét vôi, đá vôi phân lớp mỏng, sọc dải phần trên gặp những
thấu kính đá vôi khá dày. Các đá của hệ tầng bị uốn lượn, vò nhàu mạnh, hầu
hết bị sừng hóa, hoa hóa và quaczit hóa, góc dốc thay đổi từ 45
o
– 80
o
. Chiều
dày của hệ tầng ở vùng mỏ có thể lớn hơn 1000m.
Hệ Carbon – thống dưới (C
1
?)
Đá của tầng phân bố ở phía bắc vùng mỏ và được phát hiện chưa đầy đủ
trong các lỗ khoan 56
A
, 78
A
, 127, 230, 109
B

silic, sạn kết (LK 581, LK 576). Do ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo, của sự
xuyên lên của khối granit và của sự tạo quặng, đá của tầng bị biến chất nhiệt
gây sừng hóa mạnh mẽ. Tuy vậy trong một số lỗ khoan 72
A
, 576, 11, 27, 543,
572 thấy rằng phần trên của tầng bị biến chất yếu hoặc không bị biến chất,
chiều dày của phần này đạt đến 20-25m. Chiều dày của tầng chưa được khống
chế đầy đủ, tại LK 561 đạt được 929m.
Hệ Jura không phân chia (J)
Trầm tích Jura không phân chia phân bố ở phía tây vùng mỏ. Đá của
tầng này phủ không chỉnh hợp góc lên tất cả các trầm tích cổ hơn nó và phủ
lên khối granit trong vùng. Chúng gồm cuội kết, dăm kết, sạn kết, cát kết, bột
kết và sét kết mầu nâu tím, nâu đỏ. Chiều dày của tầng ở vùng mỏ chưa không
chế được và đạt khoảng trên 500m.
GIỚI KAINOZOI (KZ)
Hệ Neogen
Hệ tầng Thạch Hà (N
th
)
8
Trầm tích Neogen phủ bất chỉnh hợp lên tất cả những đá tuổi cổ hơn và
phổ biến trên toàn diện tích của vùng mỏ. Chúng gồm hai phần:
- Phần dưới gồm: cuội cơ sở, quặng deluvi, cát sạn kết đa khoáng, bột
kết, sét kết, trầm tích proluvi màu sắc loang lổ xen kẹp những thấu kính sét
than, than nâu chất lượng thấp. Đá có cấu tạo phân lớp mỏng, vừa, năm
ngang. Phần hạt thô có mức độ gắn kết yếu.
Phần trên gồm cuội, sạn kết, cát kết, bột kết, sét kết, mềm bở, kẹp những
thấu kính sét than .
Chiều dày chung của Hệ tầng đạt đến 197m.
Hệ Đệ tứ (Q)

- P
1.
Tầng kiến trúc này chia thành hai phụ tầng:
- Phụ tầng kiến trúc dưới: bao gồm trầm tích lục nguyên silic xen kẽ
trầm tích cacbonat tuổi D
1-2
.
- Phụ tầng kiến trúc trên: bao gồm trầm tích cacbonat xen trầm tích lục
nguyên tuổi C
1
và trầm tích cacbonat đơn thuần C
2
- P
1
, nằm chồng trái khớp
lên các đá các đá phụ tầng kiến trúc dưới.
2. Tầng kiến trúc Mesozoi: Bao gồm trầm tích lục nguyên có tuổi giả
định T
2-3
và trầm tích lục nguyên màu đỏ tuổi J. Tầng kiến trúc này phân
thành hai phụ tầng.
- Phụ tầng kiến trúc dưới: Bao gồm các trầm tích lục nguyên màu xám,
xám sẫm phân lớp có tuổi giả định T
2-3
.
- Phụ tầng kiến trúc trên: Bao gồm các trầm tích màu đỏ tía tuổi Jura
phủ không chỉnh hợp lên tất cả những trầm tích có tuổi cổ hơn và thành
tạo macma.
3. Tầng kiến trúc Kainozoi: Bao gồm các trầm tích trẻ, hệ Neogen và hệ
Đệ tứ, có nguồn gốc đầm hồ, lòng sông, bãi bồi, biển và gió. Đất đá của tầng

I.3. ĐẶC ĐIỂM CÁC THÂN QUẶNG MAGNETIT THẠCH KHÊ
Mỏ sắt Thạch Khê có hai thân quặng tự nhiên:
- Thân quặng deluvi.
- Thân quặng magnetit gốc bao gồm: quặng magnetit nguyên sinh, quặng
magnetit bị oxy hoá).
I.3.1. Thân quặng deluvi
Quặng sắt deluvi là loại quặng thứ sinh, tạo thành trong quá trình phá
huỷ bào mòn thân quặng gốc. Quặng phân bố dưới dạng một hình dẻ quạt bắt
đầu từ trung tâm tuyến LXXIX trở ra phía biển, đáy kéo dài từ tuyến LXXX
đến quá tuyến XCVIII với diện tích khoảng trên 2km
2
. Thân quặng nằm
ngang họăc cắm rất thoải trong phần thấp của trầm tích Neogen hoặc trải trực
tiếp trên thân quặng gốc. Chiều dày quặng deluvi thay đổi từ 1,5m đến gần
100m (LK 250, 260, 246…)
Quặng deluvi có thành phần rất phức tạp, gồm các tảng, hòn cục quặng
manhetit đã bị ôxy hoá mạnh mẽ xen lẫn những mạnh vụn đá vây quanh và
vật chất sét “bẩn”.
Thành phần khoáng vật quặng deluvi gồm: hematit, manhetit, hydroxyt
11
sắt (gotit, hydrogotit, hydrohematit) và những khoáng vật phi quặng.
I.3.2. Thân quặng gốc
Thân quặng gốc có phương kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam,
phương vị 10
0
-15
0
, chiều dài thân quặng khoảng 3000m. Thân quặng nằm
trong đới tiếp xúc của khối granit với các đá cacbonat và alumosilicat, dọc
theo đới cà nát kiến tạo của đứt gẫy cổ số (I).

nứt lớn hình thành trong quá trình hoạt động kiến tạo. Trên các bình đồ phân
tầng theo các mức cao, đặc biệt trên các mặt cắt dọc thấy rõ hiên tượng phân
nhánh gần như hình thành những quặng biệt lập.(xem bình đồ mức cao).
Chiều rộng thân quặng phần phía Nam khoảng 600-700m, chiều
dầy(biểu kiến) gặp quặng nhỏ nhất 17.5m(LK50 tuyến LXXVIII)lớn nhất
12
403.4m(LK2-T.LXXIV)và 387.9(LK70-T.LXXVI), trung bình khoảng 150m.
Vách quặng bắt gặp nông nhất ở độ cao -42.18m(LK96-T.LXXVIII) sâu
nhất ở độ cao -658.20m(LK116-T.LXVI). Trụ quặng gặp nông nhất ở độ cao-
419.75m(LK47-T.LXXVIII)sâu nhất ở độ cao đến 706.4m(LK116-T.LXVI).
b) Phần phía Bắc thân quặng magnetit: nằm trong đới tụt của vùng có
hoạt động kiến tạo mạnh mẽ, do đó quặng bị vỡ vụn và bị oxy hoá triệt để. Do
ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo nên hình dạng thân quặng bị phức tạp hoá.
Trên các mặt cắt địa chất quan sát thân quặng có dạng “chân sứa”, cắm dốc về
phía Tây. Tuy vậy nửa phần Đông thân quặng “các chân sứa” không đơn
thuần, chúng có sự thay đổi kích thước. Từ tuyến LXXXVI có chiều hướng
mở rộng, kéo dài và đến tuyến LXXXVIII thì không còn giữ nguyên hình
dạng nữa, đến tuyến XC(90) thì co ngắn lại.
Chiều rộng thân quặng trong phạm vi phần phía Bắc có sự biến đổi, từ
tuyến LXXXIV đến tuyến XC, chiều rộng thân quặng khoảng 300 - 400m.
Phía Nam tuyến LXXXII tăng lên đến 700m. Chiều dầy gặp quặng trong các
lỗ khoan dao động từ 22m(LK80-T.XXXIV)đến 273m(LK79-T.LXXXIV)và
có xu hướng giảm dần về phía Bắc. Chiều dầy gặp quặng lớn nhất bắt gặp
trong các lỗ khoan: 59A, 127, 78A, 79, 103….
Vách quặng bắt gặp nông nhất trong khoảng độ cao -14.3m(LK221
T.LXXXI) đến -189.7m (LK73A-T.LXXX). Trụ quặng bắt gặp sâu nhất ở độ
cao - 415.14m (LK79-TLXXXIV).
Trong phần phía Bắc cũng như phía Nam ranh giới giữa quặng và đá vây
quanh rất rõ rệt, đột ngột bằng mắt thường có thể quan sát, phân biệt một cách
dễ dàng. Có hiện tượng như vậy là do tại đây đã xảy ra quá trình thay thế

Kết quả phân tích 4.851 mẫu hoá cơ bản và 863 mẫu nhóm cho thấy
quặng sắt Thạch Khê thuộc loại quặng giàu, không cần làm giàu khi sử dụng.
Hàm lượng sắt (TFe) trung bình cho toàn mỏ là 58,38% (theo hàm lượng
biên 20%), hàm lượng các nguyên tố có ích: Mn, Cr, Ni, Co… có hàm lượng
không đáng kể. Đặc biệt các tạp chất có hại rất thấp Zn = 0,03, S = 0,07, P = 0,05.
Trong quặng ôxy hoá phần phía Bắc hàm lượng S chỉ đạt đến 0,032%. Trong
quặng nguyên sinh phần phía Nam hàm lượng S = 0,188%. Nếu tách riêng các
khối trữ lượng có S lớn hơn 1% thì hàm lượng S trong quặng magnetit là 0,07%.
c) Tính chất vật lý quặng
Quặng sắt Thạch Khê mang thuộc tính axit có modun kiềm nhỏ hơn
0.501 và độ từ tính cao.
Tỷ trọng, thể trọng, độ ẩm cuả quặng được xác định dựa vào kết quả
phân tích 143 mẫu thể trọng trong quặng nguyên sinh và 158 mẫu trong quặng
oxy hoá cho thấy:
Thể trọng của quặng nguyên sinh trung bình 4.28T/m
3
, độ ẩm 0.42%, tỷ
trọng 4.6g/cm
3
.
Thể trọng của quặng oxy hoá 3.62T/m
3
, độ ẩm 5.24%, tỷ trọng
4.19g/cm
3
.
d) Tính chất công nghệ quặng
Để nghiên cứu tính chất công nghệ của quặng sắt Thạch Khê đã tiến
hành lấy hai đợt mẫu. Đợt một lấy 5 mẫu, mỗi mẫu có trọng lượng gần bằng
300kg gửi phân tích ở khu Gang thép Thái Nguyên. Đợt hai lấy hai mẫu mỗi

3
1
) mức độ chứa nước thay
đổi mạnh có xu hướng tăng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, KM = 11.0 -
105m
2
/ng.
4) Phức hệ chứa nước trầm tích Neogen(N) mức độ chứa nước thay đổi
mạnh, phụ thuộc vào số lượng và chiều dầy lớp cát cuội, sỏi, gắn kết yếu.
Trong trầm tích Neogen sơ bộ có thể phân thành hai khu:
- Khu phía Tây Bắc nghèo nước (KM = 30m
2
/ng)
- Khu trung tâm và phía Đông Nam giàu nước(KM = 30 - 581m
2
/ng).
16
5) Đới chứa nước nứt nẻ đá gốc và thân quặng mức độ giàu nước rất
không đồng đều, phụ thuộc vào thành phần thạch học mức độ nứt nẻ đá gốc
và thân quặng. Giàu nước hơn cả là đá hoa karst ở phía Đông khu mỏ (KM =
527 -2674m
2
/ng) sau đó đến đá sừng xen đá hoa phía Bắc - Tây Bắc(KM = 32
- 981m
2
/ng), thân quặng manhetit ở trung tâm(KM = 57 - 1558m
2
/ng).
Vai trò dẫn nước theo đứt gẫy kiến tạo được xác định như sau. Đứt
gẫy cổ (I) là đứt gẫy có trước tạo quặng dẫn nước yếu, còn các hệ thống đứt

trong quá trình khai thác.
Đối với đá gốc tính chất công trình tuy có đơn giản hơn so với tầng phủ,
nhưng không đều và bị phức tạp hoá bởi đặc điểm cấu trúc điạ chất, các hoạt
động kiến tạo trước và sau quặng cũng như các quá trình ngoại sinh khác.
18
Chng II
CễNG TC TèM KIM, THM Dề V
KHI LNG THC HIN
Cụng tỏc tỡm kim, thm dũ m st Thch Khờ, H Tnh ó thc hin
bao gm cỏc giai on nh sau:
-Sau khi phỏt hin c d thng t nm 1963, on a cht 8 (nay l 402)
tin hnh kim tra s b d thng t bng cụng tỏc khoan. Nm 1963-1964,
on 8 ó tin hnh lp bn ng t t l 1:10.000 trờn din tớch 80 km
2
. Nm
1969 on a cht 8 ó tin hnh thnh lp Bn a cht t l 1:25.000
(cú s dng khoan nụng) trờn din tớch 65km
2
. Cú th coi cỏc dng cụng tỏc
ny tng ng vi tỡm kim s b (theo quy ch hin ti c xp vo
cụng tỏc iu tra ỏnh giỏ khoỏng sn)
- Cụng tỏc tỡm kim t m thc hin trong cỏc nm 1971 -1974 v ó
ỏnh giỏ tr lng qung cp C
2
.
- Cụng tỏc thm dũ s b thc hin trong cỏc năm 1975 - 1981 v ó
đánh giá trữ lợng quặng cấp C
1
+ C
2

Thăm
dò tỉ
mỉ
Ghi
chú
Lập lưới khống mặt phẳng
- Lưới tam giác hạng IV điểm 4
- Lưới giải tích 1 điểm 5 2
- Lưới giải tích 2 điểm 7 2
- Lưới giải tích 3 điểm 68 24
Lập lưới khống chế độ cao
- Lưới khống chế độ cao hạng 4 km 45,5
- Lưới khống chế độ cao kỹ thuật km 62,8 4,3
- Lưới khống chế độ cao đo đạc km 42,879 159,121
- Đường sườn đo công trình (tính bằng 1/3
đường sườn thị cự)
km 24/3 km 25/3km
Đo vẽ bản đồ địa hình
- Bản đồ tỷ lệ 1:2.000 km
2
14,5
- Thu về bản đồ 1:5.000 km
2
14,5
- Sửa chữa bản đồ tỷ lệ 1:10.000 km
2
53
Phóng công trình từ TK ra thực địa
- Công trình chủ yếu điểm 110 157
- Công trình thứ yếu (Đo sơ đồ ĐCTV và

Chiều sâu trung bình một lỗ khoan là 188m.
+ Cấu trúc lỗ khoan: mở lỗ 150mm, kết thúc 110mm, 91mm và 73mm
+ Các loại máy khoan đã sử dụng ZIP 1200, ZIP650, ZIP300 và YKB 500
+ Các loại đá thường gặp trong các lỗ khoan gồm:
-Tầng phủ: cát, cát pha sét, cát kết, cát cuội kết, sét kết
-Đá gốc: quặng sắt magnetit, đá sừng, đá hoa, dolomit, granit
Bảng số: 3. Bảng tổng hợp khối lượng khoan máy
theo các giai đoạn tìm kiếm - thăm dò
21
Stt
Giai đoạn
TK - TD
Tổng khối
lượng(m/LK)
Các dạng khoan máy m/LK
Địa chất
Địa chất kết
hợp ĐCTV
Chuyên môn
ĐCTV
1
Tìm kiếm sơ bộ
(1961 - 1970) và
kiểm tra dị
thường địa vật lý
2.115,4m/
8LK
2.115,4m/
8LK
Lập sơ đồ địa chất

104LK
2.474,80m/11
LK
4.201,27m/
60LK+15G
Tổng cộng
65.736,43/
348+15G
45.605,46m/2
13LK
9.113,6m/
30LK
11.017,37m/
105+15G
c. Chất lượng công trình:
+ Tỷ lệ mẫu lõi khoan trong tất cả các tầng đá và quặng ở mỏ sắt Thạch
Khê tỷ lệ lấy mẫu lõi khoan thấp thường rơi vào đoạn quặng oxy hoá vỡ vụn,
đất đá bở rời, các lớp cuội sỏi và quặng deluvi. Ở giai đoạn thăm dò tỉ mỉ nhờ
có cải tiến về phương pháp khoan và lấy mẫu nên tỉ lệ đạt cao hơn.
+ Độ cong xiên lỗ khoan: Nhìn chung các lỗ khoan ở phía Nam khu mỏ
bị cong nhiều hơn do cấu tạo, độ cứng của đất đá, độ sâu lỗ khoan. Phương vị
các lỗ khoan này đã hiệu đính dựa vào kết quả đo ở 15 lỗ khoan bằng hai loại
máy Ig36 và LK2. Tất cả các lỗ khoan cong quá giới hạn cho phép đều được
chiếu thẳng góc vào tuyến khi vẽ mặt cắt. Độ cong xiên lỗ khoan trong khu
vực tính trữ lượng cấp B không ảnh hưởng lớn đến kết quả tính trữ lượng, bởi
vì trữ lượng cấp B chỉ tính đến -300m.
+ Mức độ khống chế quặng: Nhìn chung thân quặng được khống chế khá
22
chặt chẽ, trừ một số lỗ khoan do bị sự cố không thể cứu chữa được nên chưa
khống chế hết chiều sâu gặp quặng.

đoạn
TKTM
Số
lượng
giai
đoạn
TDSB
Số
lượng
giai
đoạn
TDTM
Tổng
cộng
1 Hoá cơ bản 310 712 2.667 1.162 4.851
2 Hoá nhóm 203 853
Phân tích 15 chỉ tiêu 4 110 379 493
Phân tích 25 chỉ tiêu 203 360
3 Hoá toàn phần 26 26
4 Kiểm tra nội bộ 283 1.115
- Mẫu hoá cơ bản 30 203 593 229 1.031
- Mẫu nhóm 30 54 84
5 Kiểm tra ngoại bộ 113 537
- Mẫu hoá cơ bản 19 130 261 113 523
- Mẫu nhóm 14 0 14
6 Quang phổ đơn
- Đơn khoáng và quặng sắt 97 76 7 573 753
- Các loại đá 1 206 109 316
7 Quang phổ nhóm 4 115 153 272
8 Thạch học 126 316 761 361 1.564

TKSB
Số
lượng
giai
đoạn
TKTM
Số
lượng
giai
đoạn
TDSB
Số
lượng
giai
đoạn
TDTM
Tổng
cộng
Mẫu vi cổ sinh 17 17
16 Mẫu bào tử phấn hoa 71 71
17 Mẫu silicat 13 13
18 Mẫu phân tích vàng bạc 11 11
19 Mẫu phóng xạ 5 5
20 Mẫu lưu huỳnh 5 5
21 Mẫu vật liệu nung 19 19
II.4. CÔNG TÁC ĐỊA VẬT LÝ
Có thể khẳng định công tác địa vật lý có vai trò to lớn trong phát hiện và tìm
kiếm thăm dò mỏ sắt Thạch Khê. Các dạng công tác chủ yếu đã tiến hành gồm:
- Bay đo từ hàng không tỷ lệ 1:200.000;
- Lập bản đồ đẳng từ (∆z) tỷ lệ 1:10.000 trên diện tích 80 km


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status