luận văn chuyên ngành bảo hiểm Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Trụ sở chính Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp - Pdf 27

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt là một trong những nghiệp vụ
truyền thống của Trụ sở chính Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông
nghiệp (ABIC). Trong những năm qua việc khai thác nghiệp vụ này luôn là
thế mạnh của công ty, doanh thu của nghiệp vụ thường chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm gốc. Đặc biệt kể từ sau khi có quy định
chế độ Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc thì đối tượng tham gia bảo hiểm ngày càng
được mở rộng, tạo tiền đề cho các doanh nghiệp khai thác tiềm năng này. Tuy
nhiên hiện tại thị trường bảo hiểm cháy còn nhiều khoảng trống, việc khai thác
nguồn doanh thu này không hề đơn giản, số tiền bồi thường ngày càng cao, đặt
ra bài toán khó cho tất cả các doanh nghiệp trong đó có cả ABIC.
Nhận thức được tầm quan trọng của bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro
đặc biệt đối với đời sống xã hội, sau một thời gian thực tập em đã chọn đề
tài: “ Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Trụ sở chính Công ty
Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp”.
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này, em
đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn: TS Hoàng Mạnh
Cừ và các cán bộ công tác tại Phòng Bảo hiểm Tài sản Kỹ thuật thuộc ABIC.
Em xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó!
Bài khóa luận này chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết
về nội dung cũng như cách trình bày, vì vậy em rất mong được sự góp ý của
các thầy cô giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Thịnh
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM

Tuy chúng ta đã chú ý ngăn ngừa đề phòng hạn chế tổn thất nhưng rủi
ro vẫn xảy ra ở bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu và nằm ngoài sự kiểm soát của
con người. Một trong những biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu tổn thất là bảo
hiểm, cụ thể là bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt. Đây thực sự là giá
đỡ cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia bảo hiểm trước những
rủi ro không lường trước được. Do đó, xuất phát từ nhu cầu thực tế là đảm
bảo an toàn cho cuộc sống cũng như giảm thiểu thiệt hại khi rủi ro xảy ra thì
bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt thật sự cần thiết và đóng vai trò cực
kỳ quan trọng.
1.1.2. Vài nét về lịch sử ra đời và phát triển của nghiệp vụ Bảo hiểm
hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt
a) Trên thế giới
Vào thời kỳ Trung đại rồi Phục hưng, ở Châu Âu vẫn chưa có hệ thống
phòng cháy, chữa cháy hữu hiệu. Khi hỏa hoạn xảy ra, họ thường dựa vào sự
giúp đỡ của các phường hội. Hiệp hội bảo hiểm hoả hoạn lần đầu tiên ra đời
trên thế giới là ở Đức năm 1591 mang tên Feuer Casse. Một thời gian ngắn
sau đó xuất hiên thêm vài Công ty nữa nhưng không để lại dấu ấn gì lớn cho
tới giữa thế kỷ 17.
Đến năm 1666, sau vụ cháy lớn ở Luân Độn kéo dài trong nhiều ngày,
thiêu hủy gần như toàn bộ thành phố, người ta mới ý thức được tầm quan
trọng của việc thiết lập hệ thống phòng cháy, chữa cháy và bồi thường cho
người bị thiệt hại. Năm 1667, ở Anh xuất hiện một số văn phòng cung cấp
dịch vụ phòng cháy, chữa cháy và bảo hiểm hỏa hoạn.
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
Năm 1684, công ty BHHH đầu tiên (công ty Friendly Society) ra đời,
hoạt động trên nguyên tắc tương hỗ. Sau đó, hàng loạt các công ty BHHH
khác được thành lập và dần lan rộng sang các nước khác trên lục địa Châu

- Cháy: hiểu theo nghĩa thông thường thì cháy là phản ứng hóa học có
tỏa nhiệt và phát ra ánh sáng.
- Hỏa hoạn: là cháy xảy ra ngoài sự kiểm soát của con người, ngoài
nguồn lửa chuyên dùng và gây thiệt hại về người và/hoặc tài sản.
- Sét là hiện tượng phóng điện từ các đám mây tích điện và mặt đất và
tác động vào đối tượng bảo hiểm.
- Nổ: là hiện tượng cháy xảy ra rất nhanh tạo ra một áp lực lớn kèm theo
tiếng động mạnh, phát sinh do sự giãn nở đột ngột của chất lỏng, rắn, khí.
- Đơn vị rủi ro: Khi những tài sản ở trong các tòa nhà, kho tàng khác
nhau và mỗi tòa nhà, kho tàng cách nhau một khoảng trống lớn hơn khoảng
cách tối thiểu hoặc có bức tường chống lửa giữa các tòa nhà, kho tàng thì
được gọi là rủi ro riêng biệt hoặc đơn vị rủi ro.
- Độ chịu lửa của công trình: Đặc trưng cho khả năng chịu lửa theo tính
chất của nhà và công trình, được xác định bằng giới hạn chịu lửa của các kết
cấu xây dựng chính. Các công trình có độ chịu lửa khác nhau thì tỷ lệ phí
bảo hiểm cũng khác nhau.
- Giới hạn chịu lửa: là thời gian tính từ khi bắt đầu thử chịu lửa theo
một tiêu chuẩn nhất định cho tới khi xuất hiện một trong các trạng thái giới
hạn của kết cấu.
- Tổn thất toàn bộ: trong bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt, được
chia thành 2 loại:
+ Tổn thất toàn bộ thực tế: là tài sản được bảo hiểm bị phá hủy hoặc hư
hỏng hoàn toàn hoặc số lượng còn nguyên nhưng giá trị không còn gì.
+ Tổn thất toàn bộ ước tính: là tài sản được bảo hiểm bị phá hủy đến
mức nếu sửa chữa thì số tiền bằng hoặc lớn hơn số tiền bảo hiểm.
Đối tượng của bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt bao gồm các tài
sản là bất động sản, động sản (trừ phương tiện giao thông, vật nuôi, cây
trồng và tài sản đang trong quá trình xây dựng lắp đặt thuộc loại hình bảo
hiểm khác) thuộc quyền sở hữu và quản lý hợp pháp của các đơn vị tổ chức,
cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Đối tượng bảo hiểm bao gồm:

Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
6
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
+ Việc phát sinh nguồn lửa phải bất ngờ hay ngẫu nhiên phát ra, chứ
không do hành động cố ý của người được bảo hiểm hay có sự đồng lõa của
họ. Tuy nhiên, hỏa hoạn xảy ra do sự bất cẩn của người được bảo hiểm thì
vẫn thuộc phạm vi bảo hiểm.
+ Hỏa hoạn gây nên thiệt hại được bảo hiểm phải do yếu tố tác động từ
bên ngoài. Những yếu tố nội tại, tự phát trong bản thân tài sản được bảo
hiểm bất ngờ phát huy tác dụng và gây nên thiệt hại không được coi là hỏa
hoạn được bảo hiểm.
- Sét: Sét là hiện tượng phóng điện từ các đám mây tích điện và mặt
đất, tác động vào đối tượng bảo hiếm. Người được bảo hiểm sẽ được bồi
thường khi tài sản bị phá hủy trực tiếp do sét hoặc do sét đánh gây cháy. Nếu
sét đánh mà không phát lửa hoặc không phá hủy trực tiếp tài sản thì không
thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường. Khi sét đánh phá hủy trực tiếp các
thiết bị điện tử thì được bồi thường còn sét đánh làm thay đổi dòng điện dẫn
đến thiệt hại cho thiết bị điện tử thì không được bồi thường.
- Nổ: là hiện tượng cháy xảy ra rất nhanh tạo ra một áp lực lớn kèm
theo tiếng động mạnh, phát sinh do sự giãn nở đột ngột của chất lỏng, rắn
hoặc khí. Phạm vi bảo hiểm gồm: Nổ nồi hơi phục vụ sinh hoạt hoặc hơi đốt
phục vụ sinh hoạt như thắp sáng, hay sưởi ấm trong một ngôi nhà không phải
nhà xưởng làm các công việc sử dụng hơi đốt, nhưng loại trừ những thiệt hại
gây ra do động đất, núi lửa phun hoặc các biến động khác của thiên nhiên.
b) Những rủi ro đặc biệt (rủi ro phụ)
- Nổ: Là rủi ro không nằm trong rủi ro nổ ở trên, công ty bảo hiểm bồi
thường những thiệt hại do nổ nhưng loại trừ:
+ Thiệt hại xảy ra đối với nồi hơi, thùng đun nước bằng hơi đốt, bình
chứa, máy móc, hoặc thiết bị có sử dụng áp lực hoặc đối với các chất liệu

+ Binh biến, dấy binh, bạo loạn, khởi nghĩa, cách mạng, bạo động, đảo
chính.
- Những thiệt hại xảy ra trực tiếp hay gián tiếp từ:
+ Nguyên liệu vũ khí hạt nhân.
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
8
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
+ Phóng xạ, ion hay nhiễm phóng xạ từ nhiên liệu hạt nhân hoặc từ chất
thải hạt nhân do bốc cháy nguyên liệu hạt nhân.
- Những thiệt hại gây ra do ô nhiễm, nhiễm bẩn.
- Những thiệt hại xảy ra đối với bất kỳ máy móc, khí cụ điện hay bất kỳ
bộ phận nào của thiết bị điện do chạy quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt
nóng, rò điện do bất kỳ nguyên nhân nào.
- Hàng hóa nhận ủy thác hay nhận bảo quản, vàng bạc và đá quý (tiền
giấy hay tiền kim loại), séc, thư bảo lãnh, tín phiếu…
- Thiệt hại của tài sản được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải.
- Thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào.
1.2.3. Mở rộng phạm vi bảo hiểm
Cùng với thiệt hại về tài sản, thường phát sinh thêm thiệt hại về kinh
doanh và chi phí mà người được bảo hiểm phải gánh chịu trước, trong hoặc
sau khi có tổn thất xảy ra. Đáp ứng nhu cầu của khách hàng, người bảo hiểm
mở rộng phạm vi bằng cách đưa ra một số điều khoản bảo hiểm bổ sung để
người tham gia bảo hiểm chọn, chấp thuận tham gia và nộp thêm phí bảo
hiểm. Dưới đây là những điều khoản bổ sung đảm bảo cho:
- Nhóm điều khoản đảm bảo cho các chi phí phát sinh như chi phí dọn
dẹp hiện trường, chi phi cho kiến trúc sư và giám định, chi phí cứu hỏa ở tại
nơi hoặc gần nơi chứa tài sản được bảo hiểm, chi phí cho việc định vị lắp đặt
lại máy móc thiết bị do hậu quả của việc phá hủy hay hư hại phát sinh từ các
rủi ro được bảo hiểm.

và được giới hạn ở một mức nhất định. Vì vậy khi áp dụng điều khoản bổ
sung cho đối tượng bảo hiểm hoặc hạng mục tài sản có giá trị lớn, người bảo
hiểm nên tách đối tượng thuộc hạng mục tài sản ra thành đơn riêng biệt theo
đơn bảo hiểm đã có cho các rủi ro mở rộng.
1.2.4. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
a. Giá trị bảo hiểm
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
Giá trị bảo hiểm (GTBH) là giá trị thực tế của tài sản được bảo hiểm.
Giá trị bảo hiểm là cơ sở để người bảo hiểm và người được bảo hiểm thỏa
thuận số tiền bảo hiểm. Do tài sản được bảo hiểm bị cháy thường có giá trị
lớn vì vậy khi xác định giá trị bảo hiểm người ta cũng chia ra các loại sau
đây:
- Đối với nhà cửa, vât kiến trúc: GTBH được xác định trên chi phí
nguyên vật liệu và xây lắp tài sản đó( giá trị xây dựng mới) trừ đi khấu hao
trong thời gian đã sử dụng. Giá trị xây dựng mới có thể xác định dựa trên cơ
sở thiết kế và bản dự toán, quyết toán xây dựng ban đầu hoặc xác định giá trị
mới cho từng phần như nền móng, sàn nhà, tường trần, mái
- Đối với máy móc thiết bị và các loại tài sản cố định khác: GTBH
được xác định trên cơ sở giá cả thị trường, chi phí vận chuyển và lắp đặt của
máy móc thiết bị cùng chủng loại, công suất ; hoặc xác định trên cơ sở giá
mua mới sản phẩm tương đương trừ đi khấu hao đã sử dụng.
- Đối với vật tư, hàng hóa, đồ dùng trong kho, trong dây chuyền sản
xuất, trong cửa hàng, văn phòng và nhà ở Giá trị bảo hiểm được xác định
theo giá trị bình quân hoặc tối đa của các loại vật tư, hàng hóa có mặt trong
thời gian bảo hiểm.
b. Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm (STBH) là giới hạn bồi thường tối đa của người được

thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm thì nhà bảo hiểm sẽ bồi thường với số
tiền không vượt quá giá trị trung bình này.
Loại 2: Giá trị tối đa
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
Nếu bảo hiểm theo giá trị tối đa thì người được bảo hiểm ước tính và
thông báo cho công ty bảo hiểm biết số lượng và giá trị của số lượng vật tư,
hàng hóa tối đa đạt tại một thời điểm nào đó trong thời gian bảo hiểm. Phí
bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị tối đa này nhưng nhà bảo hiểm chỉ thu
trước 75% mức phí. Tuy nhiên 2 bên thỏa thuận với nhau cứ đầu tháng, đầu
quý khách hàng phải thông báo về số lượng hàng và giá trị thực tế. Cuối thời
hạn bảo hiểm trên cơ sở những giá trị được thông báo, công ty bảo hiểm tính
giá trị tối đa của cả thời gian bảo hiểm và tính lại phí bảo hiểm. Khi tổn thất
xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế
nhưng không vượt quá giá trị tối đa đã khai báo.
Trong thời gian bảo hiểm, tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm được người
bảo hiểm bồi thường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bình quân
thì phí bảo hiểm được tính trên số tiền bảo hiểm đã trả. Trong trường hợp
này số tiền bồi thường được coi là số tiền bảo hiểm.
1.2.5. Phí bảo hiểm.
Phí bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt thực chất là giá cả của
dịch vụ này. Việc tính phí và thu phí trong bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro
đặc biệt là sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảo
hiểm.
Với những rủi ro cơ bản (hỏa hoạn, sét, nổ nồi hơi và hơi đốt phục vụ
sinh hoạt), tùy theo từng loại tài sản, việc định phí dựa vào các yếu tố:
- Ngành nghề kinh doanh chính của người được bảo hiểm khi sử dụng
những tài sản được bảo hiểm vào kinh doanh.

Hiệu lực của hợp đồng được ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
Thường thì hiệu lực của hợp đồng được bắt đầu khi người tham gia bảo hiểm
nộp khoản phí lần đầu tiên và kết thúc vào 16 giờ ngày cuối cùng của thời
hạn bảo hiểm. Tùy theo yêu cầu của người tham gia bảo hiểm mà hợp đồng
có thể có thời hạn 1 năm hoặc ngắn hơn, phí đóng một lần hoặc nhiều lần.
1.3. QUY TRÌNH TRIỂN KHAI BẢO HIỂM HỎA HOẠN VÀ
CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1.3.1. Công tác khai thác
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
Đây là khâu quan trọng nhất vì tìm được khách hàng và thuyết phục họ
ký hợp đồng làm tăng doanh thu cho công ty, đồng thời thực hiện được
nguyên tắc số đông của bảo hiểm. Chính vì vậy, công tác khai thác cần có
một quy trình hợp lý và hiệu quả.
Quy trình khai thác bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt như sau:
Bước 1: Tiếp cận và hướng dẫn, tư vấn khách hàng.
Bước 2: Đánh giá các yếu tố liên quan đến tỷ lệ phí (đánh giá rủi ro).
Bước 3: Chào phí bảo hiểm và hướng dẫn khách hàng kê khai bảo
hiểm.
Bước 4: Hoàn tất hồ sơ bảo hiểm và theo dõi hồ sơ.
1.3.2. Công tác đề phòng hạn chế tổn thất
Đề phòng hạn chế tổn thất là hoạt động cụ thể của con người nhằm mục
đích ngăn ngừa những hậu quả rủi ro có thể xảy ra gây thiệt hại cho đối
tượng bảo hiểm. Nếu công tác này được thực hiện tốt thì tổn thất sẽ giảm bớt
do đó số tiền bồi thường cũng sẽ giảm đi nếu có tổn thất xảy ra, đồng thời
giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc cung cấp các
dịch vụ bảo hiểm chất lượng tốt.
Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt là

nguyên nhân trực tiếp, trách nhiệm bảo hiểm sẽ được xác định sau khi
nguyên nhân tổn thất đã được xác định.
- Mô tả, tính toán mức độ thiệt hại, trường hợp thiệt hại xảy ra do nhiều
nguyên nhân cần phân định rõ mức độ thiệt hại do từng rủi ro riêng biệt.
b. Bồi thường tổn thất
Dựa trên kết quả giám định, cán bộ bồi thường sẽ xác định mức độ thiệt hại
của từng đối tượng và từ đó đưa ra số tiền bồi thường( STBT) chính xác,
thỏa đáng. Việc xác định số tiền bồi thường phải căn cứ vào giá trị thiệt hại,
số tiền bảo hiểm, giá trị bảo hiểm và các mức miễn thường.
Trường hợp tổn thất toàn bộ: Khi tài sản được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ
tức là thiệt hại bằng giá trị thực tế( GTTT) của tài sản vào thời điểm xảy ra
tổn thất.
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
+ Nếu STBH

GTTT của tài sản vào thời điểm xảy ra tổn thất, người bảo
hiểm sẽ bồi thường:
STBT = Thiệt hại – Mức khấu trừ
Trường hợp người được bảo hiểm thu được giá trị thu hồi thì người bảo hiểm
sẽ tính toán bồi thường:
STBT = Thiệt hại - Giá trị thu hồi – Mức khấu trừ
+ Nếu STBH < GTTT của tài sản được bảo hiểm thì người bảo hiểm sẽ bồi
thường: STBT = STBH – Mức khấu trừ
Trường hợp người được bảo hiểm thu được giá trị thu hồi thì người bảo hiếm
sẽ tính toán bồi thường như sau:
STBT =( Thiệt hại- Giá trị thu hồi) x STBH/GTTT – Mức khấu trừ
1.4. VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM HỎA HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC

đó có ý thức hơn trong việc bảo vệ tài sản của mình, đồng thời có những
biện pháp để phòng tránh hạn chế tổn thất khi gặp rủi ro.
- Thứ tư: Khuyến khích đầu tư.
Một nguyên tắc của bảo hiểm đó là số đông bù số ít. Hàng năm công ty sẽ
thu được một lượng phí khổng lồ từ phía khách hàng. Khoản phí này một
phần dùng để chi trả cho các chi phí hoạt động của công ty, một phần dùng
để bồi thường khi hỏa hoạn xảy ra. Do đó, khi chưa có tổn thất, phần phí
dùng để bồi thường sẽ được công ty mang đầu tư nhằm mục đích sinh lời từ
đó góp phần tạo ra nguồn đầu tư dồi dào kích thích thị trường vốn phát triển.
Như vậy, bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt có vai trò hết sức quan
trọng, đóng góp vào sự thành công và phát triển của nền kinh tế.
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BẢO HIÊM HỎA HOẠN
VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI TRỤ SỞ CHÍNH CÔNG TY CỔ
PHẦN BẢO HIỂM NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
2.1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Thực hiện chiến lược đưa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam (AGRIBANK) trở thành một tập đoàn tài chính, ngân hàng
hàng đầu ở Việt Nam và lớn mạnh trong khu vực với cấu trúc đa sở hữu,
hoạt động kinh doanh đa dạng và có khả năng cung cấp hệ thống các sản
phẩm dịch vụ tài chính ngày càng hoàn hảo cho nên kinh tế xã hội, Ban lãnh
đạo Ngân hàng Nông nghiệp đã quyết định mở rộng kinh doanh sang lĩnh
vực bảo hiểm phi nhân thọ bằng việc đề xướng thành lập Công ty Cổ phần
bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp. Quyết định này đã nhận được sự chấp
thuận của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước. Ngày 18/10/2006, Bộ trưởng

Qua xem xét và đánh giá vị thế của ABIC trong tương lại, tập đoàn Tái
bảo hiểm Thụy Sỹ - SwissRe đã chính thức lụa chọn ABIC là đối tác chiến
lược lâu dài để phát triển hoạt động của SwissRe tại thị trường Việt Nam.
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng
Nông nghiệp
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
21
Phòng Bảo hiểm
tài sản kỹ thuật
Chủ tịch Hội đồng
quản trị
Ban kiểm soát
Phòng Tái bảo
hiểm
Chi nhánh Hải
Phòng
Phòng Thư ký
pháp chế
Chi nhánh Hà
Nội
Phòng Kế toán
Phòng Bảo hiểm
hang hải
Các Phó tổng giám
đốc

Thứ hai: Cải tiến cơ chế, chính sách kinh doanh, ban hành đồng bộ cơ
chế, chính sách kinh doanh các năm theo mục tiêu, định hướng chuyển đổi;
ban hành cơ chế phân phối thu nhập, lương thưởng mới theo hướng gắn liền
với kết quả kinh doanh ( doanh thu, lợi nhuận) của từng đơn vị thành viên và
từng cá nhân. Tổng doanh thu phí hoạt động kinh doanh đến hết ngày
31/12/2011 đạt 408,057 tỷ đồng tăng 10,6% so với năm 2010. Theo số liệu
thống kê của toàn thị trường (nguồn: hiệp hội bảo hiểm Việt Nam), với tổng
doanh thu đạt đến cuối năm 2011, ABIC giữ được vị trí thứ 13/29 công ty
bảo hiểm phi nhân thọ tại thì trường Việt Nam về thị phần bảo hiểm gốc.
Thứ ba: Phát triển nguồn lực, mở rộng mạng lưới, kênh phân phối.
ABIC tiếp tục coi trọng công tác tuyển dụng, đào tạo cán bộ trên toàn hệ
thống. Năm vừa qua công ty tập trung tuyển dụng và chọn lọc khối cán bộ
khai thác đồng thơi triển khai các khóa đào tạo nâng cao trình độ chuyên
môn của khối nghiệp vụ, giám định bồi thường. Tổng số cán bộ tính đến thời
điểm này khoảng hơn 410 nhân viên làm việc tại 8 chi nhánh trên toàn quốc.
Những kết quả kinh doanh cụ thể mà ABIC đã đạt được như sau:
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
22
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của ABIC
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011
Doanh thu phí bh gốc 132.338 284.215 383.986 408.057
Tổng doanh thu phí 76.359 215.707 306.325 330.756
Doanh thu thuần 62.939 173.209 275.989 294.886
Doanh thu từ đầu tư 48.334 38.643 57.231 65.728
Lợi nhuận trước thuế 12.839 10.846 49.518 52.635
( Nguồn: Các báo cáo kết quả kinh doanh của ABIC)
Biểu 2.1. Biểu đồ doanh thu và lợi nhuận

0
1
1
52.635
Triệ
u
đồng

m
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Hoàng Mạnh Cừ
Tổng doanh thu phí BH tính đến cuối năm 2011( 330.756 triệu đồng) đã tăng
vượt bậc so năm 2008 (76.359 triệu đồng) trong đó phải kể đến sự tăng truởng
khá lớn của doanh thu phí BH gốc ( từ 132.338 triệu đồng lên 408.057 triệu
đồng). Cùng với việc doanh thu phí BH năm 2011 tăng nhanh so năm 2008
thì lợi nhuận của doanh nghiệp cũng có những bước tiến bộ đáng kể. Năm
2008, do ảnh hưởng của tình hình kinh tế không mấy khả quan, việc chi quá
nhiều vào bán hàng và quản lý doanh nghiệp đã ngốn của công ty không ít
chi phí. Thêm vào đó là nhiều công ty BH mở rộng thêm chi nhánh hoạt
động và cũng là năm đầu tiên đi vào kinh doanh, lợi nhuận trước thuế của
công ty chỉ dừng lại là 12.839 triệu đồng nhưng đến năm 2011 lợi nhuận của
công ty đã đạt được 52.635 triệu đồng. Tất cả là nhờ những nỗ lực không
ngừng, đồng thời nhờ ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý công ty đã
giảm thiều được rất nhiều chi phí. Kết quả này đã khẳng định sự nỗ lực rất
lớn của ABIC trong tình hình nền kinh tế nước ta còn nhiều biến động.
Bên cạnh đó công ty cũng tham gia vào hoạt động nhận và nhượng tái
BH.
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động tái bảo hiểm năm 2008 – 2011
Đơn vị: triệu đồng
Năm Phí BH gốc Phí nhận tái BH Phí nhượng tái BH
2008 132.338 3.723 59.702

nước và ngược lại các công ty bảo hiểm không được từ chối bán bảo hiểm
nếu như các cơ sở đã đáp ứng đủ các yêu cầu về an toàn phòng cháy chữa
cháy theo quy định. Vì vậy rất thuận lợi cho khai thác bảo hiểm hỏa hoạn.
Sinh viên: Đỗ Thị Thịnh Lớp
CQ46/03.02
25

Trích đoạn Tình hình khai thác Công tác đề phòng hạn chế tổn thất Tăng cường chất lượng công tác khai thác. Củng cố và mở rộng quan hệ tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm với các đối tác trong và ngoài nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status