bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo minh hà Nội - Pdf 22

Lời mở đầu
Bình minh của thế kỷ mới đang đa tới cho nền kinh tế đất nớc ta những thử
thách và cơ hội to lớn. Quá trình công nghiệp hoá - hiên đại hoá đất nớc với sự ra
đời của một loạt những nghành sản xuất mới, sự gia tăng đầu t nớc ngoài vào Việt
Nam đang tạo đà cho sự phát triển của nền kinh tế sản xuất kinh doanh nói
chung và bảo hiểm nói riêng.Bên cạnh đó, yêu cầu của quá trình gia nhập tổ chức
thơng mại quốc tế WTO cũng đã đặt ra những cơ hội lớn cho sự phát triển của khu
vực bảo hiểm phi nhân thọ ởViệt Nam., đặc biệt là bảo hiểm hoả hoạn.
Trong những năm gần đây, một loạt các vụ cháy lớn trên thế giới nh vụ
cháy nổ hai toà nhà thơng mại Mỹ trong vụ khủng bố 11/9/2001 hay vụ cháy toà
nhà Trung tâm thơng mại Quốc tế ngày 29/10/2002 ở Thành phố Hồ Chí Minh đã
làm cho ngời dân càng hiểu rõ hơn mức độ thiệt hại vô cùng to lớn của hoả hoạn
cũng nh tầm quan trọng của bảo hiểm hoả hoạn và ý thức quản lý rủi ro của các
công ty bảo hiểm.
Qua thời gian tìm hiểu thực tế tại Bảo Minh Hà Nội, em thấy rằng bên cạnh
các nghiệp vụ bảo hiểm khác, nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn có một vị trí tơng đối
quan trọng trong hoạt động kinh doanh cảu Công ty với hiệu quả kinh doanh khá
cao. Nếu thực hiện tốt hoạt động triển khai nghiệp vụ này thì không những góp
phần nâng cao đợc doanh thu, lợi nhuận cho Công ty mà còn giúp Công ty có một
vị trí vững chắc trên thị trờng bảo hiểm. Vì trình độ hiểu biết có hạn nên em xin đi
sâu vào tìm hiểu: Tình hình triển khai bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc
biệt tại Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2000 2005 Bài viết gồm 3 chơng:
Chơng 1: Lý thuyết cơ bản về bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt.
Chơng 2: Tình hình triển khai bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại
Bảo Minh Hà Nội giai đoạn2000 2005.
Chơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh
Hà Nội.
1
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo, Thạc sỹ Tôn Thị Thanh Huyền cũng với
các anh chị Phòng Tài sản và kỹ thuật của Bảo Minh Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, h-

trong những năm gần đây phải kể đến nh :
3
* Vụ cháy chợ Đồng Xuân Hà Nội ngày 4/7/1994 đã gây thiệt hại khoảng
140 tỷ đồng.
* Vụ cháy kinh hoàng trong lịch sử hoả hoạn Việt Nam ngày 26/6/1996 tại kho
xăng dầu 131 Thuỷ Nguyên, Hải Phòng do sét gây thiệt hại lên tới 31 tỷ đồng.
* Vụ cháy nhà máy giầy Đồng Nai ngày 15/9/1998 gây thiệt hại khoảng 12,5 tỷ
đồng .
* Năm 2000 vụ cháy tại công ty Phú Tài tổn thất ớc tính 12,5 tỷ đồng, vụ cháy
tại công ty may Hải Sơn thiệt hại 7,5 tỷ đồng, Muraya Việt Nam thiệt hại 6,25 tỷ
đồng
* Vụ cháy lớn nhất trong năm 2001 là vụ cháy Vising Pack thiệt hại khoảng 1,2
1,4 triệu USD.
* Năm 2002 cũng là một năm kinh hoàng với một loạt các vụ cháy lớn nh: vụ
cháy rừng U Minh kéo dài hàng tháng không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế mà
còn ảnh hởng nghiêm trọng tới môi trờng sống và cảnh quan; vụ cháy nhà máy
toàn lực Viễn Đông với số tiền bồi thờng lên tới 28 tỷ đồng; vụ cháy toà nhà trung
tâm thơng mại quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/10/2002 với thiệt hại -
ớc tính khoảng 12,5 tỷ đồng.
* Theo thống kê năm 2003, tổng số tiền bồi thờng cho nghiệp vụ bảo hiểm
cháy là khoảng 6,5 triệu USD, cao hơn 15% so với năm 2002, với các vụ cháy:
công ty Interfood là khoảng 4,6 triệu USD, công ty Tainnan với số tiền bồi thờng
khoảng 1,1 triệu USD
* Năm 2004 có một số vụ tổn thất điển hình nh Pou Yuen (1,5 triệu USD), bút
bi Thiên Long (7,2 tỷ đồng), giày Thợng Thăng (3,5 triệu USD)
Nh vậy có thể thấy rằng thiệt hại do cháy gây ra không chỉ là đối với tài sản
mà còn là tính mạng con ngời và cảnh quan môi trờng sinh thái.Do đó nhất thiết
cần phải có các biện pháp hữu hiệu để đối phó với hoả hoạn. Con ngời đã sử dụng
rất nhiều các biện pháp khác nhau nh các biện pháp phòng cháy chữa cháy, đào
tạo nâng cao trình độ kiến thức và ý thức, thông tin tuyên truyền về phòng cháy

đêm, các đội tuần tra đợc giao nhiệm vụ đi dọc các phố để kiểm tra và phát hiện
thấy nhà nào có nguy cơ cháy là họ báo ngay cho chủ nhà. Còn nếu có hoả hoạn
xảy ra, ngời bị thiệt hại có thể đợc phờng hội giúp đỡ với điều kiện họ là hội
5
viên.Tuy nhiên, các khoản này chỉ có ý nghĩa tơng trợ là chính và cha đợc xem nh
một khoản bồi thờng thực sự. Phờng hội đầu tiên kiểu này do các nhà buôn thành
phố Rowen (Pháp) thnàh lập năm 1374. Nhng lúc đó, việc hạn chế, khắc phục hậu
quả do cháy gây ra còn gặp nhiều trở ngại vì ngời dân vẫn cho rằng hoả hoạn cũng
nh nạn đói, chiến tranh và các dịch bệnh khác là những rủi ro không thể tránh
khỏi.
Hiệp hội bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời là ở Đức năm 1591 mang tên
Feuer Casse.Một thời gian ngắn sau có xuất hiện một số các công ty khác nữa nh-
ng cũng không để lại dấu ấn gì lớn cho tới giữa thế kỷ 17. Đó là vào năm 1666,
một vụ hoả hoạn khủng khiếp tại ngay thủ đô Luân Đôn diễn ra trong 7 ngày 8
đêm đã thiêu huỷ 13 200 ngôi nhà, 87 nhà thờ và vô số các tài sản giá trị khác.
Đến lúc này, ngời dân Anh mới thực sự nhận thức đợc tầm quan trọng của việc
thiết lập hệ thống phòng cháy chữa cháy và bồi thờng cho ngời bị thiệt hại. Mức
độ nghiêm trọng của thảm hoạ này đã đánh thức đợc ý thức cộng đồng chia sẻ rủi
ro hảo hoạn của họ và từ đó đã dẫn đến sự ra đời của công ty bảo hiểm cháy đầu
tiên ở Anh.
Ngay từ năm 1667, các nhà chức trách thành phố Luân Đôn đã mở văn
phòng cháy đầu tiên với tiền thân là những lính cứu hoả Luân ĐônỉTong thời gian
xây lại thành phố, Nicolas Bavbon - một nhà vật lý ngời Anh chuyển ngạch sang
lĩnh vực xây dựng, đã bắt đầu nhận bảo hiểm hoả hoạn cho các ngôi nhà xây dựng
lại.Công ty này đầu tiên đợc điều hành theo kiểu công ty t nhân nhng sau đó , năm
1680, đã đợc đổi thành công ty cổ phần lấy tên là The Fire Office.Năm 1684, một
công ty bảo hiểm hoả hoạn khác là Friendly Society Fire Office ra đời hoạt động
trên nguyên tắc tơng hỗ và hệ thống phí cố định, ngời đợc bảo hiểm cũng phải
chịu một phần thiệt hại xảy ra. Sau đó, các công ty bảo hiểm khác cũng ra đời ở
Anh nh: Hand in hand (1696), Sun Fire Office (1710), Union (1714), Lon Don

Vì vậy, ngay từ năm 1990 đã có 16 công ty bảo hiểm các địa phơng tiến
hành triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn với giá trị bảo hiểm lên tới 6200 tỷ
đồng và trở thành nghiệp vụ bảo hiểm có giá trị bảo hiểm ban đầu lớn nhất. Đến
năm 1994 thì nghiệp vụ này đã đợc tiến hành ở hầu hết 53 tỉnh thành trong cả nớc
với tổng giá trị tham gia bảo hiểm lên tới 27000 tỷ đồng. Đặc biệt theo thông t số
7
82/TCCN của Bộ Tài Chính ngày 31/12/1991 hớng dẫn việc thực hiện chỉ thị
332/HĐBT về bảo toàn vốn kinh doanh đối với cac doanh nghiệp Nhà nớc đã quy
định bắt buộc: Các doanh nghiệp cần phải mua bảo hiểm tài sản để tạo nguồn bù
đắp cho những thiệt hại của các công ty bảo hiểm Việt Nam và phí bảo hiểm sẽ đ-
ợc tính vào giá thành.Vấn đề này còn đợc đề cập đến rất cụ thể trong Nghị định
59/CP. Nh vậy việc triển khai loại hình bảo hiểm này sẽ có nhiều lợi thế.
Năm 1989, sau khi Bảo Việt triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn thì
đến năm 1994 1995 hàng loạt các công ty khác ra đời nh : Bảo Minh, Pjico,
Bảo Long cũng đã triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này.Trong giai đoạn từ 1995
đến nay, sự góp mặt của các công ty bảo hiểm dới các hình thức doanh nghiệp
Nhà nớc, liên doanh, cổ phần đã đánh dấu một b ớc ngoặt mới về sự phát triển đa
dạng của thị trờng, làm cho thị trờng bảo hiểm hoả hoạn Việt Nam ngày càng
thêm sôi động.
Những năm đầu mới triển khai nghiệp vụ này các công ty bảo hiểm non trẻ
còn gặp nhiều khó khăn và nghiệp vụ này thực sự cha phát triển lắm. Nam 1991,
số đơn bảo hiểm cấp ra mới chỉ là 413 đon. Nhng đến năm 1994, số đơn này đã là
2000 đơn.Và đến năm 1998 , doanh thu trên toàn thị trờng đã bắt đầu tăng từ
11.719.000 USD lên đến 14.266.000 USD. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
năm 1997 đã làm doanh thu phí bảo hiểm hoả hoạn giảm đi đáng kể trong những
năm tiếp theo.Nhng dến năm 2000 doanh thu phí bảo hiểm đã phục hồi và tiếp tục
tăng trởng.Theo thống kê, doanh thu phí bảo hiểm đạt đợc vợt dự kiến của các
doanh nghiệp là 1,7%.
Năm 2001 là một năm đầy những thách thức và thuận lợi đối với nghiệp vụ
bảo hiểm hoả hoạn. Sự ra đời của luật kinh doanh bảo hiểm đã tạo hành lang pháp

Nh vậy, có thể nói bảo hiểm hoả hoạn đã dần dần đi vào tiềm thức của ngời
Việt Nam, đáp ứng đợc yêu cầu đòi hỏi tất yếu của không chỉ các doanh nghiệp
nói riêng mà của toàn xã hội nói chung.Và đó cũng là cơ sở để bảo hiểm hoả hoạn
ngày càng củng cố thêm vị trí vững chắc của mình trong cơ cấu chung của nghành
bảo hiểm Việt Nam.
I.2. Vai trò của bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
9
Bảo hiểm là một hoạt động kinh tế quan trọng trên cơ sở xây dựng quỹ bảo
hiểm dới hình thức nhất định để bồi thờng hoặc trả tiền bảo hiểm cho những tổn
thất về con ngời và tài sản xảy ra do tai nạn, rủi ro bất ngờ.Trong khi đó, hoả hoạn
là loại rủi ro có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời điểm nào và thiệt hại do nó
gây ra thờng rất lớn và phức tạp.Bảo hiểm hoả hoạn chính là sự bảo đảm cho
những tổn thất trực tiếp do cháy gây ra. Nếu những tổn thất do cháy gây ra thuộc
phạm vi bảo hiểm thì ngời đợc bảo hiểm sẽ đợc nhận đợc một khoản tiền bồi th-
ờng từ các nhà bảo hiểm . Chính vì vậy, hoạt động bảo hiểm nói chung và hoạt
động bảo hiểm hoả hoạn nói riêng có những tác dụng to lớn thể hiện ở các khía
cạnh sau:
I.2.1. Đối với cá nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm
Bảo hiểm hoả hoạn là một loại hình bảo hiểm tài sản nhằm áp dụng đối với
các xí nghiệp, khách sạn, nhà máy, văn phòng, nhà hàng thuộc mọi thành phần
kinh tế .Giá trị bao rhiểm cháy thờng là rất lớn, khi xảy ra rủi ro thì tổn thất không
chỉ là một đơn vị nhỏ mà có khi là đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.Vì
vậy, việc các đơn vị này tham gia bảo hiểm là tất yếu và có nh vậy mới đảm bảo
ổn định kinh doanh của các doanh nghiệp này .
Khi quy mô sản xuất ngày càng mở rộng nh hiện nay thì giá trị tài sản của
các doanh nghiệp cũng ngày càng tăng lên.Vì vậy, khi có rủi ro xảy ra, thiệt hại sẽ
thật khôn lờng và sẽ ảnh hởng lâu dài không chỉ tới bản thân doanh nghiệp đó mà
còn ảnh hởng tới tất cả các doanh nghiệp khác có liên quan.Khi đó, sự ra đời của
các công ty bảo hiểm sẽ không những giúp các doanh nghiệp ổn định tình hình sản
xuất kinh doanh mà còn giúp các chủ thể khác trong nền kinh tế ổn định cuộc

trong cuộc sống, trong hoạt động sản xuất kinh doanh.Bảo hiểm cũng thể hiện tính
cộng đồng, tơng trợ, nhân văn sâu sắc.Việc tham gia bảo hiểm hoả hoạn còn giúp
tạo tâm lý yên tâm trong sản xuất kinh doanh, giúp các nhà thầu và các nhà đầu t
mạnh dạn hơn trong đầu t .Do đó, nó cũng gián tiếp góp phần tạo thêm công ăn
việc làm cho ngời lao động. Nó cũng đồng thời giải toả đợc sự lo lắng bất ổn của
ngời dân sống xunh quanh khu vực thờng xuyên có hoả hoạn hoặc có nguy cơ xảy
ra hoả hoạn cao .
11
Hơn nữa, bảo hiểm hoả hoạn còn góp phần đề phòng các rủi ro có thể xảy
ra, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp vì thông qua việc tham gia
bảo hiểm hoả hoạn, chính ngời tham gia sẽ có ý thức hơn về việc tự bảo vệ tài sản
của mình cũng nh của cả cộng đồng. Ngoài ra, các công ty bảo hiểm khi tiến hành
kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy, họ cũng không muốn rủi ro tổn thất xảy ra
để phải bồi thờng nên họ luôn tích cực tìm kiếm các biện pháp để đề phòng hạn
chế tổn thất.Bằng một khoản trích theo một tỷ lệ nhất định rừ nguồn phí thu đợc,
các công ty bảo hiểm sẽ thực hiện các biện pháp đó một cách hiệu quả thông qua
công tác thống kê tình hình tổn thất hàng năm, xác định nguyên nhân gây cháy, t
vấn cac khu vực có nguy cơ cao xảy ra hoả hoạn, hỗ trợ các doanh nghiệp tham
gia bảo hiểm có đợc các biện pháp đề phòng hạn chế một cách hữu hiệu nhất.Họ
cũng có thể đào tạo những chuyên gia đánh giá rủi ro.Những chuyên gia này một
mặt giúp các doanh nghiệp biết cách đề phòng hạn chế tổn thất mà còn gợi ý giúp
các họ áp dụng các trang thiết bị phòng cháy chữa cháy thích hợp với điều kiện
hoàn cảnh cảu công ty. Bên cạnh đó, công ty bảo hiểm còn thờng xuyên kiểm tra
đôn đốc, tạo cơ sở vật chất và sẵn sàng hỗ trợ kinh phí để các doanh nghiệp thực
hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy tốt hơn.
I.2.2. Đối với Nhà nớc và nền kinh tế
Các doanh nghiệp bảo hiểm là các trung gian tài chính lớn nên từ nguồn
quỹ tạm rỗi huy động đợc từ sự đóng góp ngời tham gia bảo hiểm họ sẽ sử dụng
một cách hết sức linh hoạt và năng động.Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó sẽ đợc
các doanh nghiệp bảo hiểm đem vào kinh doanh nh cho vay, mua trái phiếu, kinh

đẩy quá trình mở rộng phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại của nớc ta.
Tóm lại, bảo hiểm cháy đã góp phần quan trọng trong việc ổn định và phát
triển kinh tế xã hội.Thông qua việc giúp các doanh nghiệp thực hiện tốt các biện
pháp phòng cháy chữa cháy, đề phòng hạn chế tổn thất, từ đó giúp doanh nghiệp
có thể yên tâm đầu t, mở rộng sản xuất. Đồng thời cũng giúp ngời dân xung quanh
tránh đợc sự lo lắng, hoang mang để ổn định cuộc sống, tạo một nếp sống văn
minh và an toàn. Nguồn phí thu đợc sẽ đợc đầu t trở lại nền kinh tế, làm phong
phú thêm các hoạt động kinh tế và tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động
trong xã hội.
13
Bảo hiểm hoả hoạn là loại hình bảo hiểm tài sản nhằm áp dụng đối với các
nhà máy, xí nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội.Khi tiến hành triển
khai bảo hiểm hoả hoạn, mặc dù các nớc trên thế giới có khác nhau về tình hình
kinh tế chính trị, xã hội, văn hoá nhng đều phải tính đến các đặc điểm chung sau :
Giá trị đợc bảo hiểm thờng rất lớn nh các công trình kiến trúc, các máy móc
thiết bị, nhà xởng, văn phòng, phơng tiện vận tải, hàng hoá, vật t trong kho, bể
xăng Đây là những tài sản rất có giá trị, có khi lên tới hàng chục, hàng trăm tỷ
đồng.Trong khi đó thì mặc dù đã hết sức cảnh giác đề phòng hạn chế tổn thất và
có những biện pháp phòng cháy chữa cháy hiện đại, tiên tiến thì rủi ro hoả hoạn
vẫn rất dễ xảy ra, không thể lờng trớc đợc.Thêm vào đó, thiệt hại do hoả hoạn là
rất lớn, không chỉ là một đơn vị nhỏ mà có khi là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
hay tổ chức.
Đối tợng và phạm vi bảo hiểm trong nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn là khá
rộng. Đối tợng bảo hiểm hầu hết là tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý hợp
pháp của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các tổ chức và các cá nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội. Phạm vi bảo hiểm cũng rất phong phú,
bao gồm các rủi ro chính nh cháy, nổ, sét..mà những rủi ro đó rất dễ xảy ra trong
cuộc sống hàng ngày.
Nghiệp vụ bảo hiểm có tính kỹ thuật trong hoạt động rất phức tạp, thể hiện
ở mọi khâu của nghiệp vụ nh :cách xác định phân chia rủi ro, cách tính phí, giám

hoạn do sự bất cẩn của ngời đợc bảo hiểm vẫn thuộc phạm
vi trách nhiệm bồi thờng.
II.1.3.Nổ
Có hai loại nổ chính sau:
* Nổ lý học:
Nổ lý học là nổ do áp suất trong một thể tích tăng lên qua cao, vỏ thể tích
không chịu nổi áp lực nên bị nổ. Các nhà khoa học coi hiện tợng nổ này là một
việc san bằng bất thình lình sự khác nhau về áp lực giữa hai khối khí hơi.
* Nổ hoá học:
15
Nổ hoá học là hiện tợng nổ do cháy quá nhanh gây ra.Nổ hoá học có đầy đủ 3
yếu tố của hiện tợng cháy là :có phản ứng hoá học, có toả nhiệt và phát ra ánh
sáng.Vậy, thực chất nổ hoá học là hiện tợng cháy với tốc độ nhanh , toả ra nhiều
sức nóng và sinh ra nhiều hơi.
Nổ hoá học thờng gây thiệt hại có tính cơ học cho môi trờng xung quanh nh
phá huỷ hay lan sang rất mạnh.
II.1.4.Đơn vị rủi ro
Đơn vị rủi ro là nhóm tài sản tách biệt khỏi nhóm tài sản khác với khoảng
cách không cho phép lửa cháy lan từ nhóm này sang nhóm khác.
Đơn vị rủi ro còn có thể là một hay một nhóm ngôi nhà. Các ngôi nhà đợc
coi là tách rời nhau về mặt không gian thì khoảng trống phân cách giữa hai ngôi
nhà ít nhất bằng chiều cao của ngôi nhà cao hơn.Theo quy định chung hiện nay thì
khoảng cách gần nhất là không dới 12m.
Khoảng trống tối thiểu theo quy định chung là :
- Giữa các kho bãi ngoài trời có chứa nguyên vật liệu dễ cháy là 20m
- Giữa các khối nhà trong đó có chứa các vật liệu dễ cháy với các ngôi
nhà khác là 15m
- Giữa các đối tợng khác là 10m.
Tờng ngăn cách đơn vị rủi ro đợc hiểu là cấu trúc xây dựng để phân chia
ngôi nhà thành từng đơn vị rủi ro, do đó loại tờng này phải có kỹ thuật chống cháy

II.3. Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn các rủi ro đợc bảo hiểm và giới hạn trách
nhiệm của công ty bảo hiểm.Khi xảy ra rủi ro cháy, ngời đợc bảo hiểm sẽ đợc bồi
thờng những thiệt hại và các chi phí khác có liên quan sau:
- Những thiệt hại do những rủi ro đợc bảo hiểm ghi trong giấy chứng nhận
bảo hiểm hoặc danh mục kèm theo giấy chúng nhận bảo hiểm nếu ngời đợc bảo
hiểm đã nộp phí và những thiệt hại đó xảy ra trớc 16h ngày cuối cùng của thời hạn
bảo hiểm ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm, gây ra cho tài sản.
- Những chi phí cần thiết để hạn chế tổn thất tài sản đợc bảo hiểm trong và
sau khi cháy nh: chi phí chữa cháy, chi phí bảo quản trong và sau khi cháy.
- Những chi phí dọn dẹp hiện trờng sau khi cháy.
17
Khi rủi ro cháy xảy ra, muốn xác định các tổn thất đó là thuộc phạm vi bảo
hiểm hay không để từ đó có phơng án đền bù chính xác và thoả đáng, cac nhà bảo
hiểm phải xác định rõ các rủi ro bảo hiểm và các rủi ro không đợc bảo hiểm.
II.3.1.Rủi ro đợc bảo hiểm
Trong bảo hiểm hảo hoạn thì các rủi ro đợc bảo hiểm bao gồm :
* Rủi ro chính : cháy Rủi ro A. Thực chất rủi ro này bao gồm : cháy, sét
và nổ.
+ Cháy sẽ đợc bảo hiểm trong trờng hợp hội tụ đầy đủ 3 yếu tố sau:
- Phải thực sự có phát ra lửa.
- Lửa đó không phải lửa chuyên dùng
- Lửa đó phải là ngẫu nhiên hay bất ngờ phát ra
Khi đã có đầy đủ các yếu tố trên và có những thiệt hại về vật chất thì
thiệt hại đó sẽ đợc bồi thờng, dù đó là do cháy hay do nhiệt hay khói gây ra.
+Sét: là tác động trực tiếp của tia chớp vào tài sản đợc bảo hiểm.Ngời đợc
bảo hiểm chỉ đợc bồi thờng khi tài sản bị phá huỷ trực tiếp do sét hoặc do sét đánh
gây cháy.Nếu sét đánh mà không gây cháy hay không phá huỷ trực tiếp tài sản thì
không thuọc phạm vi trách nhiệm bồi thờng .Ví dụ nh sét đánh phá huỷ trực tiếp
các thiết bị điện tử thì các thiết bị này vẫn đợc bồi thờng nhng nếu sét đánh vào

+ Vỡ tràn nớc từ các bể chứa: nhng loại trừ tài sản bị phá huỷ do nớc
chảy, rò rỉ từ hệ thống thiết bị phòng cháy chữa cháy tự động.
II.3.2.Rủi ro loại trừ
Trên thực tế có những rủi ro mà nhà bảo hiểm không thể nhận bảo hiểm đ-
ợc.Những điểm loại trừ trong bảo hiểm hoả hoạn đợc áp dụng nh sau:
+ Những thiệt hại tổn thất do hành động cố ý hay đồng loã của ngời đợc bảo
hiểm gây nên.
+ Những tổn thất do:nổi loạn, đình công trừ khi những rủi ro này đã đợc bảo
hiểm kèm theo các rủi ro chính, có thoả thuận trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
+ Những tổn thất có liên quan đến phóng xạ, hay nhiễm phóng xạ
19
+ Những tổn thất về hàng hoá nhận uỷ thác, tiền bạc, chứng khoán, bản
thảo, sổ sách kinh doanh, bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi đã có thoả thuận là trả
thêm phí bảo hiểm cho những tổn thất trong trờng hợp này.
+ Tài sản bị cớp hay mất cắp nhng nếu chứng minh đợc là bị mất cắp thì
vẫn đợc bồi thờng.
+ Những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba
+ Những thiệt hại tổn thất mang tính chất hậu quả dới bất kỳ hình thức nào
do phải ngừng kinh doanh, ô nhiễm môi trờng trừ thiệt hại về tiền thuê nhà đ ợc
xác nhận trong giấy bảo hiểm là đợc bảo hiểm.
+ Chất nổ không bao gồm nguyên nhiên liệu xăng dầu, ngời, dộng thực vật
sống.
+ Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất đợc bảo hiểm theo đơn
bảo hiểm hàng hải, trừ phần thiệt hại vợt quá só tiền bồi thờng theo đơn bảo hiểm
hàng hải.
+ Những thiệt hại tổn thất trong mức miễn thờng.Thông thờng, trong áp
dụng mc miễn thờng cso khấu trừ tối thiểu là 2% số tiền bảo hiểm trên một đơn vị
rủi ro/vụ tổn thất nhng tối thiểu không dới 100 USD/vụ và tối đa là 2000 USD/vụ.
II.4. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
II.4.1.Giá trị bảo hiểm

ngời đợc bảo hiểm sẽ phải quyết toán nốt số tiền phí bảo hiểm còn lại dựa trên giá
trị hàng hoá thực tế hàng tháng hay hàng quý.Khi có thiệt hại tổn thất thì công ty
bảo hiểm sẽ bồi thờng thiệt hại thiệt hại thực tế nhng không vợt quá giá trị tối đa
đã khai báo trớc đó.
Nếu thiệt hại xảy ra trong thời hạn bảo hiểm và đã đợc bồi thờng vợt qua
giá trị tối đa bình quân thì lúc này việc tính phí bảo hiểm sẽ không dựa vào giá trị
tối đa nữa mà sẽ dựa vào số tiền bồi thờng đã trả (nghĩa là coi số tiền bồi thờng
chính là số tiền bảo hiểm). Nên trong mọi trơng hợp thì số tiền bồi thờng vẫn
không đợc vợt qúa số tiền bảo hiểm.Và nếu ngời đợc bảo hiểm bồi thờng nhiều lần
thì tổng số tiền bồi thờng cũng không đợc vợt quá số tiền bảo hiểm.
21
Tuy nhiên, để không phải điều chỉnh lại cuối thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo
hiểm, phí bảo hiểm và tiện cho công tác tái bảo hiểm thì các nhà bảo hiểm và ngời
đợc bảo hiểm nên chọn bảo hiểm theo giá trị trung bình.
II.4.2.Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là giới hạn bồi thờng tối đa của ngời bảo hiểm trong trờng
hợp tài sản đợc bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ.Ngòi đợc bảo hiểm cũng có thể tham
gia bảo hiểm tài sản của mình với số tiền lớn hơn giá trị bảo hiểm nhng không vợt
quá 110% giá trị bảo hiểm. Cũng nh nói ở trên, số tiền bảo hiểm chính là căn cứ
để tính phí bảo hiểm và cơ sở để xác định số tiền bảo hiểm chính là giá trị bảo
hiểm.
Trong bảo hiểm hoả hoạn thì các nhà bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm
theo kiểu chọn điểm.Nghĩa là không nhận bảo hiểm cho bộ phận tài sản, những
công đoạn sản xuất có nhiều rủi ro nhất vì khả năng phải bồi thờng cho ngời đợc
bảo hiểm là rất cao và rất dễ xảy ra trục lợi bảo hiểm. Tuy nhiên, công ty bảo hiểm
cũng có thể chấp nhận bảo hiểm tới 50% giá trị tài sản.
II.5. Phí bảo hiểm và phơng pháp xác định phí bảo hiểm
II.5.1.Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là giá cả của dịch vụ bảo hiểm.Việc tính mức phí bảo hiểm có
ý nghĩa sống còn đối với tất cả các nhà bảo hiểm vì mức giá này vừa phải phù hợp

có một số yếu tố cơ bản sau có thể ảnh hởng tói tỉ lệ phí nh :Vật liệu xây dựng,
ảnh hởng của các tầng nhà, công tác phòng cháy chữa cháy, cách phân chia đơn vị
rủi ro, bao bì đóng gói, chủng loại hàng hóa, cách thức sắp đặt .
II.5.2. Phơng pháp xác định tỷ lệ phí bảo hiểm
a. Theo phân loại
Đây là cách kết hợp các đơn vị có thể so sánh với nhau cùng một loại, sau
đó tính tỷ lệ mỗi loại phản ánh số tổn thất và cac chi phí khác của loại đó.Phơng
pháp này phù hợp với các tài sản tơng đối đồng đều nhau nh : nhà ở, nhà thờ Khi
xác định tỷ lệ phí theo cách phân loại này cần xem xét các yếu tố ảnh hởng đến tỷ
lệ phí sau:
- Vật liệu xây bằng gì.
- Khă năng phòng cháy chữa cháy
23
- Ngời sử dụng (chủ nhà hay cho thuê)
- Vật bố trí xunh quanh, bên ngoài ( những công trình đặc biệt dễ cháy để
gần lửa lan nhanh tới tài sản đợc bảo hiểm).
b. Theo danh mục
Bao gồm các bớc:
Bớc 1: Rà xét lại danh mục tài sản tham gia bảo hiểm hoả hoạn rồi phân
loại từng loại tài sản theo danh mục khác nhau do mỗi loại tài sản thì có khả năng
cháy nổ là khác nhau.
Bớc 2: Căn cứ vào ngành nghề sản xuất kinh doanh để chọn một tỷ lệ phí
thích hợp trong bảng tỷ lệ phí có sẵn.
Bớc 3:Điều chỉnh tỷ lệ phí đã chọn theo các yếu tố tăng giảm.Việc điều
chỉnh này phải căn cứ vào:
(1) Khả năng chịu lửa của công trình.
Thông thờng các công ty bảo hiểm thờng quy định:
- Loại D (Discount Class): vật liệu nặng, khó bất lửa và có khả năng chịu lửa tốt
nh bê tông, cốt thép, đá Loại này có thể giảm tối đa là 10% phí bảo hiểm trong
biểu phí nếu kết cấu xây dựng phải đảm bảo đợc các điều kiện sau:

- Có các thiết bị và phơng tiện phòng cháy chữa cháy nh sau:
+ Công trình có hệ thống phun nớc bằng tay thì sẽ đợc giảm tối đa
10%, nếu có hệ thống tự động thì đợc giảm tối đa 20%.
+ Có hệ thống dập tắt bằng khí CO2 thủ công thì giảm 10%, còn nếu
tự động thì giảm 20%.
+ Có ô tô chữa cháy và đội ngũ nhân viên chữa cháy riêng chuyên
nghiệp thì đợc giảm tối đa 15% còn nếu bán chuyên nghiệp thì giảm 7%.
+ Có hệ thống tự động dập tia lửa điện đợc giảm tối đa 20%
+ Có hệ thống thoát khói, nhiệt nếu thủ công thì đợc giảm tối đa là
3%, nếu là tự động thì giảm 5%.
+ Gần đội chữa cháy công cộng thì đợc giảm nhiều nhất là 5%.
Thông thờng các công ty sẽ áp dụng mức giảm phí là khác nhau, nhng
tổng mức giảm phí về các thiết bị và các phơng tiện phòng cháy chữa cháy của
mỗi đơn vị rủi ro không quá 45%.
25

Trích đoạn Phơng hớng trong thời gian tới của côngty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status