tiểu luận Thực trạng về gian lận và sai sót trên Báo cáo tài chính và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót tại Việt Nam giai đoạn 2011 -2014 - Pdf 27

Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong nền kinh tế thị trường, thông tin, đặc biệt là các thông tin tài chính đóng
vai trò rất quan trọng trong việc ra các quyết định kinh doanh. Thông tin sai lệch, bất
cân xứng dẫn đến sai lầm trong việc ra quyết định, gây thiệt hại lớn cho các đối tượng
sử dụng. Vì vậy, đảm bảo tính minh bạch, tính trung thực của thông tin tài chính là
vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu. Thời gian gần đây, thế giới liên tục đưa tin
nhiều vụ gian lận tài chính lớn gây chấn động dư luận. Người ta không chỉ bất ngờ về
những tổn thất kinh tế do gian lận gây ra mà còn cả các phương pháp thực hiện gian
lận hết sức tinh vi. Người thực hiện gian lận, ngoài nhân viên và tầng lớp lãnh đạo cao
cấp của công ty, còn có sự tiếp tay của kiểm toán viên độc lập
Tại Việt Nam cũng xảy ra không ít những vụ gian lận tài chính. Việc không
phát hiện ra các sai sót, gian lận nay do rất nhiều nguyên nhân trong đó có một phần
trách nhiệm thuộc về các kiểm toán viên và công ty kiểm toán. Tuy nhiên do đang còn
là lĩnh vực mới mẻ đối với nước ta nên trình độ chuyên môn cũng như là những kiến
thức, chuẩn mực của thế giới nước ta vẫn chưa theo kịp được. Hành lang pháp lý cho
việc thực hiện kiểm toán cũng còn nhiều bất cập
Vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, tăng cường trách
nhiệm của kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận và sai sót trên Báo cáo tài
chính là một chủ đề mang tính thời sự nhằm nâng cao tính minh bạch, tính đáng tin
cậy của thông tin tài chính trong việc ra các quyết định kinh tế. Đề án tập trung phân
tích một vài sai sót, gian lận và cách thức giải quyết của thế giới, đồng thời nêu rõ
thực trạng, những tồn tại tại Việt Nam và đề suất những giải pháp cải thiện.
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu:
- Tìm hiểu kinh nghiệm các nước trên thế giới trong nhận diện gian lận sai sót
cũng như trách nhiệm kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót
- Khảo sát thực trạng về trách nhiệm kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót
tại Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm kiểm
toán viên trong việc phát hiện gian lận, sai sót.

- Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính;
- Sửa đổi chứng từ, tài liệu kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính;
- Biển thủ tài sản;
- Che dấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế làm sai
lệch báo cáo tài chính;
- Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế không đúng sự thật;
- Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán,
chính sách tài chính;
- Cố ý tính toán sai về số học.
Sai sót: Là những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, như:
- Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai.
- Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế.
- Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán,
chính sách tài chính nhưng không cố ý.
- Áp dụng phương pháp đánh giá không đúng.
1.1.2 Sự nảy sinh và phát triển của gian lận
Gian lận xuất hiện cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người.
Cùng với quá trình phát triển của xã hội, hành vi gian lận ngày càng tinh vi hơn và
biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Gian lận xuất hiện trong mọi nghề nghiệp
ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển xã hội. Chính vì vậy, trên thế giới đã có khá
nhiều công trình nghiên cứu về gian lận đứng trên nhiều góc độ khác nhau nhằm giúp
các nghề nghiệp có liên quan tìm được các biện pháp ngăn ngừa, phát hiện gian lận.
Công trình nghiên cứu của Donald R. Cressey (nhà nghiên cứu về tội phạm tại
trường Đại học Indiana (Mỹ) vào những năm 40 của thế kỷ 20) phân tích về gian lận
dưới góc độ tham ô và biển thủ thông qua khảo sát khoảng 200 trường hợp tội phạm
kinh tế đã đưa ra mô hình: Tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày về các
nhân tố dẫn đến các hành vi gian lận mà ngày nay đã trở thành một trong những mô
hình chính thống dùng trong nhiều nghề nghiệp khác nhau trong việc nghiên cứu gian
lận, trong đó có nghề kiểm toán.
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C

% Thiệt hại
(USD)
Biển thủ 85,7% 80.000 92.7% 93.000 91,5 150.000
Tham ô 12,8% 530.000 30,1% 250.000 30,8 538.000
Gian lận trên
BCTC
5,1% 4.250.000 7,9% 1.000.000 10,6 2.000.000
Bảng trên cho thấy dù gian lận trên báo cáo tài chính xảy ra ít thường xuyên
hơn nhưng tác động của chúng đối với báo cáo tài chính lớn hơn nhiều lần so với hành
vi tham ô, biển thủ và theo thời gian thì tỷ trọng của nó ngày càng gia tăng. tuy nhiên,
nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khó mà xác định được thiệt hại thực sự bởi lẽ không
phải tất cả những gian lận đều bị phát hiện và không phải tất cả các gian lận được phát
hiện đều được báo cáo và không phải tất cả gian lận đã báo cáo đều bị khởi tố theo
đúng pháp luật.
Dưới đây là thống kê các loại gian lận phổ biến trên BCTC
Bảng 2: Các loại gian lận phổ biến trên BCTC
Loại gian lận Trường hợp báo cáo % (trường hợp)
Che dấu công nợ 54 45%
Ghi nhận DT không có thật 52 43.3%
Định giá sai tài sản 45 37.5%
Ghi nhận sai niên độ 34 28,3%
Công bố thông tin quan trọng 56 48%
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
3
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
Các phương pháp gian lận thường dùng là:
a. Che dấu công nợ và chi phí
Che dấu công nợ đưa đến giảm chi phí là một trong những kỹ thuật gian lận
phổ biến trên BCTCnhằm mục đích khai khống lợi nhuận. Khi đó, lợi nhuận trước
thuế sẽ tăng tương ứng với số chi phí hay công nợ bị che dấu. Đây là phương pháp dễ

tóan, thông tin về bên có liên quan, các những thay đổi về chính sách kế toán…
1.2 Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót theo chuẩn mực
kiểm toán quốc tế ISA
1.2.2.1 Trách nhiệm kiểm toán viên theo chuẩn mực kiểm toán ISA 200 năm 2010
ISA 200 yêu cầu KTV đưa ra một sự bảo đảm hợp lý rằng các báo cáo tài chính
đã được kiểm toán không còn các sai phạm trọng yếu dù bản chất của nó là gian lận
hay sai sót. Điều này đạt được khi KTV thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán
thích hợp để giảm bớt rủi ro đưa ra một ý kiến không phù hợp tới một mức độ chấp
nhận được.Vì vậy kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện các sai phạm không
trọng yếu. Công việc kiểm toán không phải là việc điều tra gian lận sai sót, vì vậy
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
4
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
kiểm toán viên không có quyền hạn pháp lý cụ thể đối với gian lận và sai sót.
KTV phải luôn có thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong cả lập kế hoạch và thực hiện
kiểm toán theo các bước công việc:
- Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu, cho dù do gian lận hay sai sót
dựa trên sự hiểu biết đơn vị kinh doanh, môi trường kinh tế pháp lý bao gồm cả hệ
thống kiểm soát nội bộ của đơn vị.
- Thu được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về việc liệu có tồn tại các
sai phạm trọng yếu thông qua thiết kế thực hiện theo những rủi ro đánh giá
Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp kiểm toán viên và công ty
kiểm toán thu thập bằng chứng chứng minh rằng báo cáo tài chính đã được lập trung
thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu theo quy định và những chuẩn mực kiểm
toán được chấp nhận rộng rãi.
Trong mọi trường hợp KTV không đưa ra được mức độ đảm bảo hợp lý thì
kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến từ chối cho ý kiến hoặc rút khỏi hợp đồng kiểm
toán.
Khi nghi ngờ về độ tin cậy của thông tin thu thập được kiểm toán viên cần phải
điều tra thêm và xác định những sửa đổi bổ sung các thủ tục kiểm toán cần thiết.

Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
5
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
tài chính.
Do những hạn chế vốn có của kiểm toán, nên dù đã tuân thủ các nguyên tắc và
thủ tục kiểm toán thì rủi ro do không phát hiện hết các gian lận và sai sót của KTV
làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính vẫn có thể xảy ra. Khi xảy ra rủi ro do
không phát hiện hết các gian lận và sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài
chính đã được kiểm toán thì phải xem xét việc chấp hành đầy đủ nguyên tắc và thủ tục
kiểm toán trong từng hoàn cảnh cụ thể và tính thích hợp của các kết luận trong báo
cáo kiểm toán dựa trên kết quả của các thủ tục kiểm toán đã thực hiện.
Rủi ro không phát hiện hết các sai phạm trọng yếu do gian lận cao hơn rủi ro
không phát hiện hết các sai phạm trọng yếu do sai sót, vì gian lận thường đi kèm với
các hành vi cố ý che dấu gian lận. KTV có quyền chấp nhận những giải trình, các ghi
chép và tài liệu của khách hàng khi có bằng chứng về việc không có gian lận và sai
sót. Tuy vậy, KTV phải có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong quá trình
lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán và phải luôn ý thức được rằng có thể tồn tại
những tình huống hoặc sự kiện dẫn đến những sai sót trọng yếu trong báo cáo tài
chính.
Như vậy trong quá trình kiểm toán, KTV có trách nhiệm giúp đỡ đơn vị được
kiểm toán trong việc phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các gian lận và sai sót, nhưng
KTV và công ty kiểm toán không phải chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc ngăn ngừa
các gian lận và sai sót ở đơn vị mà mình kiểm toán khi lập kế hoạch và khi thực hiện
kiểm toán. KTV phải đánh giá rủi ro về các có giân lận và sai sót có thể có, làm ảnh
hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính và phải thiết lập các thủ tục kiểm toán thích
hợp nhằm đảm bảo các gian lận và sai sót có ảnh hưởng tất yếu đến BCTC đều được
phát hiện.
Khi phát hiện gian lận và sai sót, KTV và công ty kiểm toán phải:
- Thông báo cho giám đốc hoặc người đứng đầu: KTV phải thông báo kịp thời
những phát hiện của mình cho Giám đốc đơn vị được kiểm toán trong thời hạn nhanh

kiểm toán phải xét tới ảnh hưởng của gian lận hoặc sai sót này tới Báo cáo kiểm toán.
- Thông báo cho cơ quan chức năng có liên quan:
KTV và công ty kiểm toán có trách nhiệm bảo mật các thông tin, số liệu của khách
hàng, trừ trường hợp đơn vị được kiểm toán có gian lận hoặc sai sót mà theo qui định
của pháp luật, KTV phải thông báo hành vi gian lận hoặc sai sót đó cho cơ quan chức
năng có liên quan. Trường hợp này, KTV và công ty kiểm toán được phép trao đổi
trước với chuyên gia tư vấn pháp luật.
KTV và công ty kiểm toán được phép chấm dứt hợp đồng kiểm toán khi xét
thấy đơn vị được kiểm toán không có biện pháp cần thiết để xử lý đối với gian lận mà
KTV cho là cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể, kể cả các gian lận không ảnh hưởng
trọng yếu đến báo cáo tài chính.
Trường hợp rút khỏi hợp đồng kiểm toán, nếu KTV khác được thay thế yêu cầu
cung cấp thông tin về khách hàng thì KTV hiện tại phải thông báo rõ lý do chuyên
môn dẫn tới buộc phải chấm dứt hợp đồng. KTV hiện tại có thể thảo luận và thông
báo với KTV khác được thay thế về các thông tin của khách hàng phù hợp với luật
pháp, yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán có liên quan và phạm vi cho phép
của khách hàng. Nếu khách hàng không cho phép thảo luận về công việc của họ thì
KTV hiện tại cũng phải thông báo về việc không cho phép này cho KTV được thay
thế.
Ngoài ra còn có các chuẩn mực kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch liên
quan đến trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận và sai sót như: ISA 300-
Lập kế hoạch, ISA 315- Hiểu biết về công ty khách hàng và đánh giá những rủi ro
trọng yếu, ISA 330- Đối phó với gian lận và sai sót trên Báo cáo tài chính, 520 –Thủ
tục phân tích
1.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Đồng hành với sự phát triển của nền kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng của gian
lận cả về quy mô và những phương pháp thực hiện và che dấu tinh vi. Trong đó gian
lận trên báo cáo tài chính ngày tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng lại gây thiệt hại nghiêm
trọng nhất thông qua việc gây quyết định sai lầm cho người sử dụng BCTC. Vì vậy vai
trò của Kiểm toán độc lập ngày càng quan trọng. Các gian lận và sai sót mà Kiểm toán

Ví dụ này cho thấy những thất bại trong kiểm toán thường bắt nguồn từ các kiểm toán
viên thiếu kinh nghiệm. Nhiều kiểm toán viên thường bộc lộ nhược điểm của họ là
thiếu tính thận trọng và tính hoài nghi nghiệp vụ cần thiết, và do đó thường tin vào lời
giải thích của các vị lãnh đạo quản lý công ty. Điều này tạo ra rủi ro lớn cho các kết
luận kiểm toán. Mặt khác tính độc lập của kiểm toán viên cũng đang bị đe dọa nghiêm
trọng bởi các lợi ích kinh tế. Vì vậy cần chú trọng nâng cao năng lực, kinh nghiệm,
tính thận trọng và đạo đức nghề nghiệp cho các kiểm toán viên thông qua các quy
định, hướng dẫn và đào tạo.
Hệ thống kiểm soát chất lượng.
Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán là một vấn đề phức tạp, cần có sự
tham gia của nhiều tổ chức. việc kiểm soát chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu
không chỉ của các công ty kiểm toán mà của cả Nhà nươc, Ủy ban Chứng khoán. Tại
Việt Nam, thị trường chứng khoán đã hình thành và phát triển mạnh trong những năm
gần đây. Để ổn định thị trường chứng khoán, một trong những biện pháp không thể
thiếu là thông tin cung cấp phải trung thực. Muốn vậy, dịch vụ kiểm toán phải đảm bảo
chất lượng. Muốn nâng cao chất lượng, cần tiến hành kiểm soát chất lượng hoạt động
kiểm toán. Nhận thức tầm quan trọng của kiểm soát chất lượng từ bên ngoài đối với
hoạt động kiểm toán, từ năm 1998, Bộ Tài chính đã tổ chức các cuộc kiểm tra đối với
công ty kiểm toán. Vào ngày 15/05/2007, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định
32/2007/QĐ-BTC về Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán. Quy
chế này dù có những ưu điểm đáng kể, tuy nhiên vẫn còn những bất cập làm cho việc
kiểm soát chất lượng không phát huy tác dụng đầy đủ. Vì vậy, việc nghiên cứu mô
hình kiểm soát chất lượng của các quốc gia phát triển cao như Hoa Kỳ có thể giúp Việt
Nam rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc hoàn thiện kiểm soát chất lượng cho
hoạt động kiểm toán độc lập.
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
8
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
Chương 2: Thực trạng về gian lận và sai sót trên Báo cáo tài chính
và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót tại

phải bòn rút từ lòng đường, từ nguyên vật liệu để bù vào. Rồi khi thiết kế cơ quan dự
toán thiết kế đã "quên mất " không trừ các phần trùng nhau, tính thừa khối lượng sai số
học, áp dụng không đúng hệ số dự toán, sai thừa thêm thành phần công việc trong quá
trình lập dự toán, dự toán giá nguyên vật liệu tăng gấp 2,3 lần so với giá thị trường,
làm tăng giá công trình. Cuối cùng là móc nối với bộ phận nghiệm thu công trình
không đúng khối lượng thực hiện, đường ngắn tính dài, đường rộng tính hẹp, thế là trót
lọt. Đơn cử vụ án đình đám PMU18 đã gây thất thoát cho nhà nước đến hàng tỷ đồng.
Những điều tra đã chỉ ra nguyên nhân sai phạm chủ yếu là do những yếu kém trong
công tác quán lý của ban quản lý dự án, sự lỏng lẻo trong công tác kiểm tra kiểm soát
quản lý một cách minh bạch và có trách nhiệm đối với các dự án.
Gian lận trong công ty cổ phần niêm yết.
Nhằm mục đích thu hút vốn đầu tư với giá rẻ các công ty này luôn mong muốn
có báo cáo tài chính đẹp, thể hiện tình hình tài chính lành mạnh sẽ tăng sự hấp dẫn với
các nhà đầu tư. Tuy nhiên không phải lúc nào doanh nghiệp kinh doanh cũng thuận lợi,
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
9
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
cho nên để đạt được mục đích họ phải phù phép báo cáo của mình, cố ý hạch toán sai,
ghi tăng lợi nhuận bằng cách khai tăng doanh thu, giảm chi phí, ghi giảm các khoản nợ
phải trả,… hoặc hạch toán không đúng kì để san đều lợi nhuận. Phân loại và trình bày
sai nhằm thay đổi cấu trúc tài chính và các tỷ suất.
- Các doanh nghiệp là tổng công ty có nhiều công ty con thì các công ty này sẽ
lợi dụng các công ty con để dấu lỗ của mình thông qua việc hợp nhất báo cáo tài chính.
- Còn đối với những doanh nghiệp kinh doanh tốt lại muốn khai giảm lợi nhuận
để chốn, tránh thuế.
Gian lận ở các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH cũng tương tự trong
công ty cổ phần niêm yết làm đẹp báo cáo tài chính để đi vay ngân hàng, các tổ chức
tín dụng, vay tư nhân. Tuy nhiên họ lại thích ghi giảm lợi nhuận hơn nhằm mục đích
giảm thuế TNDN phải nộp. Khai sai thuế giá trị gia tăng phải nộp.
Gian lận tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài: Các công ty này thường

sản), hay gián tiếp (có ảnh hưởng nào đó, tăng quyền lực, sự đền ơn, tiền thưởng ).
- Khi tổ chức (thường là nhân viên hành động trên tư cách tổ chức) thực hiện
gian lận thì lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức thu nhập của công ty
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
10
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
tăng lên.
2.1.4 Các khoản mục hoạt động thường phát sinh gian lận
Các hoạt động đấu thầu và giao thầu giao dịch không hợp pháp; Hoạt động
thanh lý tài sản; Các hoạt động về tiền mặt; Hoạt động mua bán và thanh toán; hoạt
động bất thường; hoạt động phân chia quyền lợi; hoạt động thu mua, khấu hao TSCĐ;
hoạt động xảy ra vào thời điểm giao cắt niên độ kế toán…
- Doanh thu khai bị khai tăng, chi phí bị khai giảm => lợi nhuận tăng nhằm thổi
phồng kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Doanh thu có thể bị khai thiếu, chi phí bị
khai tăng để giảm lợi nhuận, giảm thuế thu nhập phải nộp. Cũng có thể cá nhân khai
khống chi phí để đút túi tiền của doanh nghiệp hoặc ghi những khoản chi phí không
hợp lý
- Tài sản cố định và hao mòn tài sản cố định: Khai tăng chi phí mua làm tăng
nguyên giá, không ghi doanh thu thanh lý TSCĐ
- Hàng tồn kho: Cố tình áp dụng sai phương pháp tính giá, không lập dự phòng
giảm giá hàng tồn kho
- Lương phải trả: Khai khống hệ số lương, số lượng người lao động, khối lượng
công việc hoàn thành
- Tiền và khoản tương đương tiền thường bị khai tăng, nợ phải trả bị khai giảm
để tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp
2.1.5 Kỹ thuật thực hiện gian lận.
Dưới đây là những gian lận báo cáo tài chính thường gặp.
a. Phù phép thời gian
Vào những ngày cuối năm, công ty có thể ghi nhận doanh thu trước khi thực sự
xuất hàng để đạt chỉ tiêu doanh thu. Việc hạch toán doanh thu được thực hiện ngay khi

cũng được hạch toán vào chi phí công ty. Kiểu gian lận này có thể được dùng nhiều,
khi liên quan tới bất động sản và phương tiện đi lại.
d. Che giấu giao dịch
Với nhiều mục đích khác nhau, nhiều giao dịch bị che giấu bằng cách không
hạch toán hoặc hạch toán dưới nội dung khác. Doanh thu bán phế phẩm, hoa hồng và
chiết khấu nhận từ nhà cung cấp không được ghi vào sổ sách nhằm đem lại lợi ích cho
cá nhân.
Những công ty mà hoạt động xuất khẩu là chính có thể không xuất hóa đơn và ghi
nhận doanh thu với hàng bán trong nước nhằm trốn thuế. Những khoản chi hoa hồng,
tiền hối lộ, chi phí cho cá nhân được hợp thức hóa bằng các hợp đồng tư vấn. Các chi
phí chưa nhận được hóa đơn vẫn không được trích trước dù đã phát sinh trong kỳ báo
cáo, nhằm làm tăng lợi nhuận và giảm nợ phải trả. Thuế không được tính và kê khai
đầy đủ. Các khoản nợ xấu và hàng chậm luân chuyển, trợ cấp thôi việc không được
trích lập dự phòng…
e. Thay đổi chính sách kế toán
Các chính sách kế toán thường xuyên bị biến hóa bao gồm phương pháp xác
định giá thành sản phẩm, chính sách lập dự phòng, phương pháp khấu hao. Chi phí sản
xuất có thể không được phân bổ đủ vào thành phẩm mà treo tại chi phí sản phẩm dở
dang, dẫn đến giá vốn hàng bán giảm và lợi nhuận tăng. Ngược lại, chi phí sản xuất có
thể bị hạch toán thẳng vào giá vốn hàng bán hay chi phí khác để làm giảm giá trị thành
phẩm tồn kho và giá vốn hàng bán trong năm tới. Tỉ lệ nợ xấu và hàng hỏng cần lập dự
phòng được giảm đi để cải thiện tình hình lợi nhuận trong năm. Thời gian khấu hao của
tài sản được kéo dài để giảm chi phí khấu hao.
Đối với các ngành nghề khác nhau, các hình thức gian lận báo cáo tài chính
thường gặp cũng khác nhau. Thủ thuật hay được sử dụng trong ngành ngân hàng là
phân loại sai các khoản vay theo mức độ rủi ro nhằm giảm chi phí dự phòng và tăng
thu nhập từ tiền lãi. Thủ thuật thứ hai là không lập hoặc lập dự phòng không đủ cho
các khoản đầu tư chứng khoán, đặc biệt là chứng khoán trên thị trường tự do và những
khoản đầu tư dài hạn vào các công ty. Một thủ thuật nữa là bán những khoản đầu tư
cho các bên liên quan với giá cao hơn giá thị trường nhằm đạt chỉ tiêu lợi nhuận.

tư. Theo đó các trách nhiệm của kiểm toán viên để đạt được những giá trị này được
quy định trong Điều 17, Điều 4 với các nội dung chính:
Điều 4: Tuân thủ pháp luật, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam; Chịu trách nhiệm
trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp và kết quả kiểm toán; Tuân thủ đạo đức nghề
nghiệp kiểm toán; Bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ, lợi ích và tính
trung thực, đúng pháp luật, khách quan của hoạt động kiểm toán độc lập; Bảo mật các
thông tin của đơn vị được kiểm toán, trừ trường hợp đơn vị được kiểm toán đồng ý
hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 17: Chấp hành các nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập quy định tại
Điều 4; Trong quá trình thực hiện dịch vụ, kiểm toán viên không được can thiệp vào
công việc của đơn vị đang được kiểm toán; Ký báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm
về hoạt động nghề nghiệp của mình; Từ chối làm kiểm toán cho khách hàng nếu xét
thấy không đủ năng lực chuyên môn, không đủ điều kiện hoặc khách hàng vi phạm quy
định của Nghị định này; Thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm
nghề nghiệp. Thực hiện chương trình cập nhật kiến thức hàng năm theo quy định của
Bộ Tài chính.
2.2.1.2 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200
Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với sai phạm của đơn vị xuất phát từ mục
tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính. Theo đoạn 11 VSA 200, mục tiêu của kiểm toán
báo cáo tài chính được xác định là “… giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán
đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế
độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có
phản ảnh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không? Mục tiêu của
kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại,
sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị
Trên cơ sở mục tiêu đó, trách nhiệm của kiểm toán viên được xác định là “kiểm
tra, chuẩn bị và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính”. Kiểm toán viên thực
hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
13

và phải trao đổi với Giám đốc đơn vị về mọi gian lận hoặc sai sót quan trọng phát hiện
được.
- Phát hiện: Trên cơ sở đánh giá rủi ro, KTV phải thiết lập các thủ tục kiểm toán
thích hợp nhằm đảm bảo các gian lận và sai sót có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC đều
được phát hiện. KTV phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để chứng
minh là không có gian lận hoặc sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC; hoặc nếu
có gian lận, sai sót thì đã được phát hiện, được sửa chữa hoặc đã trình bày trong
BCTC, và KTV phải chỉ ra ảnh hưởng của gian lận và sai sót đến BCTC. KTV phải có
thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện
kiểm toán và phải luôn ý thức rằng có thể tồn tại những tình huống hoặc sự kiện dẫn
đến những sai sót trọng yếu trong các BCTC.
- Những thủ tục cần được tiến hành khi có dấu hiệu gian lận hoặc sai sót
Trong quá trình kiểm toán, khi xét thấy có dấu hiệu về gian lận hoặc sai sót, KTV và
DNKT phải xem xét những ảnh hưởng của gian lận và sai sót đến BCTC. Nếu KTV và
DNKT cho rằng gian lận hoặc sai sót có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC thì phải
thực hiện sửa đổi và bổ sung những thủ tục kiểm toán thích hợp. Nếu kết quả của các
thủ tục sửa đổi và bổ sung không xoá bỏ được nghi ngờ về gian lận và sai sót, thì KTV
và DNKT phải thảo luận vấn đề này với Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán và phải
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
14
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
đánh giá ảnh hưởng của nó đến BCTC và Báo cáo kiểm toán.
- KTV và DNKT phải thông báo về gian lận và sai sót đã phát hiện cho Giám
đốc (hoặc người đứng đầu đơn vị được kiểm toán), cho người sử dụng báo cáo kiểm
toán, cho cơ quan chức năng có liên quan.
2.2.1.4 Trách nhiệm pháp lý
KTV không những phải tuân thủ trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp mà còn phải tuân
thủ trách nhiệm pháp lý của mình. Viêc xác định trách nhiệm pháp lý của KTV tuỳ
thuộc vào pháp luật của từng quốc qia gồm:
Trách nhiệm dân sự

Coopers Việt Nam, Công ty TNHH Dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán
AASC,Vaco, E&Y, KPMG… là loại hình công ty kiểm toán phổ biến nhất ở Việt Nam
Công ty hợp danh kiểm toán: Công ty Hợp danh Kiểm toán Tâm Việt Tâm Việt, Công
ty Hợp danh Kiểm toán Trí Tuệ SMART, Công ty Hợp danh Kiểm toán Hà Nội
2.2.3 Đội ngũ kiểm toán viên hành nghề.
Đến tháng 6/2010, Bộ Tài chính đã tổ chức 15 kỳ thi tuyển KTV cho người Việt
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
15
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
Nam và 10 kỳ thi sát hạch cho người nước ngoài và đã cấp khoảng 1.800 chứng chỉ
KTV cho những người đạt kết quả thi. Đến 06/2010, trong 162 doanh nghiệp kiểm
toán có khoảng 1.200 KTV đủ điều kiện đã đăng ký hành nghề, trong đó có hơn 1.000
người là hội viên của Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam,480 người có chứng chỉ
KTV quốc tế: ACCA (Hiệp hội Kế toán công chứng Anh), CPA Úc, CPA Singapore…
hơn 600 người khác làm những việc không liên quan. Tuy nhiên, đội ngũ kiểm toán
viên Việt Nam hiện nay đang thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, nhu cầu kiểm toán
hết sức cấp thiết. Mục tiêu đến 2020, Việt Nam sẽ có khoảng 7.000 kiểm toán viên mới
chỉ đáp ứng một phần nhu cầu, chưa kể chất lượng đội ngũ “bác sĩ” này vẫn cần thêm
nhiều thời gian mới đáp ứng được yêu cầu công việc chuyên môn. Bên cạnh đó, khả
năng ngoại ngữ cũng là trở ngại khá lớn với Kiểm toán viên Việt nam. Theo đánh giá
của giám đốc một công ty Kiểm toán Việt nam, quá trình hội nhập xuất hiện nhiều
danh nghiệp liên doanh, 100% vốn nước ngoài cùng các hợp đồng kiểm toán khá hấp
dẫn. Nhưng nếu các Công ty Kiểm toán Việt Nam chỉ có những Kiểm toán viên vững
về nghiệp vụ mà kém ngoại ngữ thì cũng không thể cạnh tranh với các Công ty Kiểm
toán quốc tế ngay trên “sân nhà”.
Ngoài ra hiện tượng “chảy máu chất xám” đang diễn ra trong ngành kiểm toán,
các kiểm toán viên giỏi có xu hướng chuyển sang các lĩnh vực hoạt động khác hoặc
chuyển từ công ty kiểm toán này sang công ty kiểm toán khác, nơi mà có mức lương
cao hơn và có nhiều cơ hội thăng tiến.
Một vấn đề đau đầu nữa là có nhiều kiểm toán viên không giữ gìn đạo đức nghề

luật của khách thể kiểm toán. Bởi vì để làm được các thủ tục đó thì công sức bỏ ra rất
lớn. Trong chuyện kiểm toán không thể có “nhiều, nhanh, tốt, rẻ” được. Nhiều kiểm
toán viên và công ty kiểm toán không giữ được đạo đức nghề nghiệp vì lợi ích trước
mắt với những vụ thỏa hiệp với khách hàng, dẫn đến đưa ra kết quả kiểm toán sai lệch,
gây ảnh hưởng đến các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán. Ngoài ra dịch vụ kiểm
toán mới chỉ chú trọng đến tính minh bạch của thông tin chứ vẫn chưa tạo ra nhiều giá
trị gia tăng cho doanh nghiệp thông qua những kiến nghị trong thư quản lý
2.2.5 Kết quả hoạt động của các công ty kiểm toán
Theo Bộ Tài chính, thị trường kiểm toán rộng mở, doanh thu của toàn ngành
kiểm toán tăng mạnh, từ mức 622 tỷ đồng (năm 2005) lên hơn 2.191 tỷ đồng vào năm
2009, trong đó doanh thu từ dịch vụ kiểm toán chiếm tới 62,37%. Cụ thể hơn, 20% số
lượng công ty kiểm toán có lợi thế (là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế có uy
tín hoặc ban lãnh đạo, kiểm toán viên đã từng làm việc tại các công ty kiểm toán nước
ngoài) chiếm tới 76% doanh thu của toàn ngành; 80% số công ty kiểm toán còn lại
“giành giật” 24% số doanh thu còn lại bằng mọi cách kể cả là hạ phí kiểm toán, giảm
chất lượng kiểm toán.
Thế nhưng, lợi nhuận của ngành kiểm toán lại không tăng tương xứng, mà lại có
chiều hướng giảm, từ mức 29,9 tỷ đồng (năm 2004), năm 2005 là 24,39 tỷ đồng, năm
2006 là 33,01 tỷ đồng, năm 2007 là 51,78 tỷ đến năm 2008 con số lợi nhuận của toàn
ngành chỉ còn 18,8 tỷ đồng và kết thúc năm 2009, toàn ngành kiểm toán bị… thua lỗ
trên 39,1 tỷ đồng. trong đó Big 3 công ty kiểm toán cũng đã đóng góp vào thua lỗ đó
đến 96 tỷ đồng
2.3. Thực trạng về quy định trách nhiệm kiểm toán viên đối với việc phát
hiện gian lận và sai sót trong cuộc kiểm toán tại các công ty kiểm toán
Ở các doanh nghiệp kiểm toán nước ta vẫn chưa có những quy định cụ thể về
trách nhiệm của kiểm toán viên với gian lận và sai sót trên báo cáo tài chính nói chung
hay là trong từng cuộc kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng. Tuy nhiên để trợ giúp các
kiểm toán viên thực hiện tốt trách nhiệm của mình các hãng kiểm toán lớn như KPMG,
E&Y, AASC, A&C…đã sớm nhận ra sự cần thiết của công tác kiểm soát chất lượng
kiểm toán và đã áp dụng thủ tục kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt của mình trong rất

hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó góp phần lành mạnh hóa môi trường kinh doanh,
và đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của thị trường cổ phiếu các công ty niêm
yết. Chất lượng của kiểm toán BCTC bước đầu đã được khách hàng tin tưởng và ngày
càng có uy tín, được xã hội thừa nhận. Nhiều doanh nghiệp kiểm toán có số lượng
KTV lớn, KTV dày dạn kinh nghiệm đã tạo lập được vị thế và danh tiếng trên thị
trường, được nhiều khách hàng lớn lựa chọn. Thông qua các hoạt động dịch vụ kiểm
toán và tư vấn tài chính, kế toán, các doanh nghiệp kiểm toán đã góp phần phổ cập cơ
chế chính sách kinh tế tài chính, thực hiện công khai minh bạch BCTC của các doanh
nghiệp, ngăn ngừa lãng phí, tham nhũng, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý và điều
hành kinh tế - tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Trong 3 năm gần đây, kiểm toán BCTC là biện pháp không thể thiếu được để công
khai, minh bạch thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán.
Thông qua dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ có liên quan, đặc biệt là kiểm toán
BCTC, các công ty đã góp phần giúp các doanh nghiệp, tổ chức, các dự án quốc tế nắm
bắt được kịp thời, đầy đủ và tuân thủ đúng các chính sách kinh tế, tài chính, loại bỏ
được chi phí bất hợp lý, tạo lập được thông tin tin cậy, từng bước đưa công tác quản lý
tài chính, kế toán trong các doanh nghiệp vào nề nếp Hoạt động kiểm toán độc lập đã
xác định được vị trí trong nền kinh tế thị trường và đã góp phần quan trọng trong việc
làm lành mạnh hoá môi trường đầu tư và nền tài chính quốc gia.
Thông qua kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, các doanh nghiệp
kiểm toán đã giúp các đơn vị xác định giá trị vốn đầu tư đúng đắn, góp phần loại bỏ
các chi phí không hợp lý, hợp lệ, tiết kiệm chi phí đầu tư XDCB, góp phần làm lành
mạnh hoá tài chính trong quản lý đầu tư XDCB
Tinh thần trách nhiệm của kiểm toán viên còn thể hiện ở việc họ không ngừng
nâng cao trình độ chuyên môn, thường xuyên cập nhật các quy đinh mới trong các lĩnh
vực kinh tế và kế toán kiểm toán để luôn là những người tiên phong giúp doanh nghiệp
kịp thời phát hiện và điều chỉnh những sai sót cho thích hợp.
2.4.2. Tồn tại
Về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của các kiểm toán viên: Các kiểm toán
viên là những “bộ lọc” quan trọng giúp ngăn ngừa và phát hiện các sai sót và gian lận.

giá cuộc kiểm toán, năng lực của kiểm toán viên còn chưa được chú trọng xây dựng ở
mức độ sâu hơn. Nghị định về kiểm toán độc lập chưa bao quát đầy đủ các quy định
cần điều chỉnh, chưa tương xứng với vai trò, vị trí hoạt động kiểm toán độc lập trong
nền kinh tế quốc dân. Các văn bản pháp luật hiện hành chưa qui định đầy đủ các nội
dung cần thiết để góp phần tăng cường chất lượng dịch vụ kiểm toán và đáp ứng yêu
cầu hội nhập. Nhà nước chưa đưa ra được các quy định mang tính chất bắt buộc cao
đối với trách nhiệm của kiểm toán viên. Thiệt hại do hành vi thiếu trách nhiệm của
kiểm toán viên có thể gây thiệt hại rất lớn đến đối tượng sử dụng báo cáo tài chính và
cho xã hội nhưng hầu hết các văn bản quy định trách nhiệm của kiểm toán viên chỉ
mang tính chuẩn mực hướng dẫn. Điều này làm cho nhiều kiểm toán viên không tuân
thủ, không sợ bị phát hiện ra sai phạm của mình. Bộ tài chính phải nhanh chóng đưa ra
các quy định bắt buộc và hình thức sử phạt có tính chất răn đe để nâng cao trách nhiệm
của kiểm toán viên. Mặt khác, trên thực tế báo cáo kiểm toán độc lập dễ bị các cơ quan
liên quan can thiệp nếu không có những điều khoản trách nhiệm rõ ràng. Rất dễ xảy ra
câu chuyện “bình thông nhau”, khi vai trò kiểm toán độc lập bị xem nhẹ, kết quả kiểm
toán độc lập thường không được công nhận hoặc bị dừng khi Kiểm toán Nhà nước
tham gia vào. Thực tế, rất nhiều dự án kiểm toán độc lập được các đơn vị mời vào
nhưng phải làm theo ý Kiểm toán Nhà nước, nếu không họ mời doanh nghiệp khác.
Thời gian tới, báo cáo kiểm toán độc lập cũng phải nâng cao được giá trị pháp lý như
báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế…
Về phía các công ty kiểm toán: Hầu hết các công ty kiểm toán cũng chưa thiết
lập được hệ thống kiểm soát chất lượng vì phải nghiên cứu kỹ lưỡng khi thiết kế và chi
phí vận hành tốn kém mà hầu hết doanh nghiệp kiểm toán là doanh nghiệp nhỏ nên họ
thường bỏ qua hệ thống này trong khi hệ thống này có giá trị gia tăng rất lớn, nó hướng
dẫn quy trình thực hiện, trợ giúp, giám sát quá trình thực hiện và kiểm tra kết quả và
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
19
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
thưởng phạt hợp lý. Trách nhiệm của kiểm toán viên cũng theo đó mà được nâng cao,
nếu không họ sẽ bị công ty đào thải.

quy luật cạnh tranh, tự do chủ nghĩa, quy luật thị trường chi phối. Trong lĩnh vực kiểm
toán độc lập, chúng ta đã hình thành một hệ thống văn bôtản pháp luật khá đầy đủ, đồng
bộ đã phát huy tác dụng trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động kiểm toán độc lập
trong gần 20 năm qua. Tuy nhiên hệ thống văn bản pháp luật về kiểm toán độc lập đã có
đến nay đã bắt đầu không còn phù hợp. Chúng ta phải nhanh chóng tiếp tục bổ sung,
hoàn chỉnh hệ thống này, cụ thể:
- Ban hành Luật kiểm toán độc lập và các văn bản hướng dẫn;
- Cập nhật và ban hành các Chuẩn mực kiểm toán phù hợp Chuẩn mực quốc tế
- Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm toán độc lập
Tuy nhiên, do việc nghiên cứu, soạn thảo chuẩn mực kiểm toán chủ yếu hướng
dẫn KTV hành nghề thực hiện các thủ tục và kỹ thuật kiểm toán nhằm kiểm tra và đánh
giá các thông tin một cách trung thực và khách quan. Do vậy VACPA sẽ có nhiều thuận
lợi hơn trong việc nghiên cứu, soạn thảo và cập nhật các chuẩn mực nghề nghiệp.Trên
thực tế, KTV và đồng thời là hội viên của VACPA ở 4 CtyKT nước ngoài và 17 công ty
là thành viên của các CtyKT quốc tế, hàng năm đều phải tự cập nhật các quy định mới
và bổ sung, sửa đổi trong các chuẩn mực kiểm toán quốc tế theo yêu cầu bắt buộc của
các hãng kiểm toán quốc tế. Đây là lực lượng quan trọng hỗ trợ cho quá trình triển khai
nghiên cứu, soạn thảo và cập nhật chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù hợp với hệ
thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Vì vậy ngày 13/05/2008 Bộ Tài chính ban hành
Quyết định số 1053/QĐ-BTC về việc “Ủy quyền cho Hội KTV hành nghề Việt Nam
thực hiện nghiên cứu, soạn thảo, cập nhật hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù
hợp với chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành”. Đây là trách nhiệm to lớn, có ý nghĩa
quan trọng đối với sự phát triển của VACPA trong vai trò quản lý nghề nghiệp chuyên
nghiệp, phù hợp thông lệ quốc tế và có cơ sở thực tiễn để được quốc tế công nhận. Về
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
21
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
phía VACPA, cần tăng cường hoàn chỉnh bộ máy, tăng thêm lực lượng chuyên trách, tổ
chức các ban chuyên môn để đảm bảo tổ chức thực hiện việc cập nhật các chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam hiệu quả với chất lượng cao nhất. Về phía Bộ Tài chính, cử cán bộ

đức nếu xảy ra. Hội hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự quản, độc lập khách quan nên rất
kịp thời và hiệu quả.
Cơ chế hành chính Nhà nước, dù có đổi mới, cải cách thế nào thì vẫn bị chậm so
với cơ chế tổ chức, hoạt động của Hội nghề nghiệp trong kinh tế thị trường. Do đó cần
nâng cao vai trò hoạt động của Hội nghề nghiệp để hỗ trợ cơ quan Nhà nước tăng
cường quản lý hành nghề kiểm toán là giải pháp hữu hiệu giúp kiểm toán Việt Nam
vững mạnh hơn hiện nay cũng như sau này.
3.1.3 Luôn cập nhật các chuẩn mực kiểm toán đã được ban hành
Song hành với sự phát triển kiểm toán độc lập, Nhà nước đã không ngừng hoàn
thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển
của hoạt động kiểm toán độc lập. Từ năm 1999 đến năm 2005, Bộ Tài chính đã ban
hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và 01 chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế
toán, kiểm toán Việt Nam phù hợp với hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Thực tế
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
22
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
cho thấy, hệ thống 38 chuẩn mực kiểm toán đã trở thành tiền đề cho kiểm toán viên
(KTV), các công ty kiểm toán (CtyKT) kiểm tra, đánh giá các báo cáo tài chính (BCTC)
một cách khoa học, khách quan, đồng thời là cơ sở cho việc chỉ đạo, giám sát, kiểm tra
và đánh giá chất lượng dịch vụ kiểm toán.
Tuy nhiên, trong 10 năm qua, hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế đã có
nhiều thay đổi, yêu cầu về chất lượng dịch vụ cũng như trách nhiệm của KTV cũng
không còn như trước. Việc phân loại các dịch vụ có liên quan đến hoạt động xác nhận
thông tin cũng đã được phân loại lại từ năm 2004 thành dịch vụ có đảm bảo và các
dịch vụ liên quan. Đánh giá của một số chuyên gia của các tổ chức tài chính quốc tế
như WB, ADB, cho thấy hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành từ năm
1999 đến 2005 đã bị lạc hậu, chưa cập nhật kịp thời với hệ thống chuẩn mực kiểm
toán quốc tế mới, phần nào ảnh hưởng đến độ tin cậy của các thông tin được kiểm
toán trên cơ sở các chuẩn mực kiểm toán chưa cập nhật. Do đó, Việt Nam cần thiết
phải ban hành mới các chuẩn mực chưa có và cập nhật kịp thời các chuẩn mực đã ban

các công ty kiểm toán cung cấp là tương đối tốt nhưng do môi trường tài chính Việt
Bùi Thị Lan Phương Kiểm toán 49C
23
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy
Nam chưa chuyên nghiệp và minh bạch nên cũng gặp phải những khó khăn nhất định.
Trình độ năng lực chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp của KTV ngày càng
được nâng cao như so với các nước tiên tiến trên thế giới vẫn có một khoảng cách khá
xa.
Công ty kiểm toán phải xem xét, đánh giá kỹ năng và năng lực chuyên môn của
các KTV và nhân viên chuyên nghiệp. Năng lực chuyên môn của các KTV, các nhân
viên cần được xem xét không những trong quá trình thực hiện kiểm toán mà phải được
cân nhắc ngay trong quá trình tuyển dụng và đào tạo. Xây dựng và áp dụng các tiêu
chuẩn cho từng cấp bậc, chức danh và tạo cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho các nhân
viên là cách thức hiệu quả để tăng động lực khuyến khích các kiểm toán viên không
ngừng nâng cao khả năng chuyên môn. Hơn nữa, để góp phần nâng cao năng lực và kỹ
năng cho các nhân viên, các công ty kiểm toán cần tiến hành đánh kết quả công tác và
định kỳ thông báo cho họ triển vọng và cơ hội thăng tiến của từng cá nhân.
Yếu tố tiếp theo ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC là việc tuyển dụng cán bộ,
KTV: KTV là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng kiểm toán, ngoài những tiêu
chuẩn của một công chức khi tuyển dụng KTV cần đặc biệt chú ý đến hai tiêu chuẩn đó
là: phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và có kiến thức về pháp luật có nghĩa là
người đó đã tốt nghiệp theo một chuyên ngành về mặt pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn
trong lĩnh vực được đào tạo. Việc đánh giá về phẩm chất đạo đức được thực hiện chủ
yếu là đánh giá trên hai góc độ đó là về mặt lý lịch về lịch sử cá nhân thông qua cơ quan
quản lý cán bộ và các tổ chức, đoàn thể mà người đó đã từng tham gia đồng thời phải
kết hợp với việc thăm dò dư luận của quần chúng để xác định đối chiếu những ý kiến
nhận xét đã nêu trong lí lịch.
Mặt khác chính sách cán bộ và đào tạo cũng ảnh hưởng đến chất lượng kiểm
toán BCTC. Chính sách này luôn tác động trực tiếp đến tâm lý làm việc của KTV, nếu
chính sách cán bộ tốt sẽ khuyến khích KTV hăng say có trách nhiệm trong công việc

để cơ quan quản lý nhà nước giám sát chất lượng đối với ngành nghề này. Lĩnh vực
kiểm toán mang tính chất dịch vụ chuyên ngành, hoạt động kiểm toán cũng có những
điều kiện riêng và đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, phải được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quản lý. Mặt khác hoạt động kiểm toán có phạm vi ảnh hưởng khá
rộng, không chỉ cơ quan quản lý nhà nước sử dụng báo cáo kiểm toán mà còn các tổ
chức, DN và công chúng đầu tư. Việc ban hành khuôn khổ pháp lý cao, chặt chẽ, sẽ tạo
điều kiện cho công tác giám sát chất lượng, phòng ngừa những thiệt hại cho nền kinh tế
cũng như cho các DN, các nhà đầu tư.
Dự án Luật KTĐL gồm 7 Chương với 69 Điều, được Bộ Tài chính xây dựng
trên cơ sở tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực tế sau 19 năm hoạt động kiểm toán,
kế thừa những quy định còn phù hợp trong các văn bản pháp luật hiện hành, bổ sung
những quy định cần thiết để đảm bảo cho hoạt động kiểm toán độc lập vừa đáp ứng yêu
cầu trước mắt, vừa phù hợp với xu hướng phát triển hoạt động kiểm toán độc lập trong
tương lai.
Bộ Tài chính xác định, quan điểm chỉ đạo và nguyên tắc xây dựng Luật KTĐL
phải đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, nhất là Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,
Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm, pháp luật về
Hội. Đồng thời giải quyết các vấn đề đặt ra mà các luật này chưa quy định hoặc quy
định chưa phù hợp với hoạt động kiểm toán độc lập như: Quy định về đối tượng kiểm
toán bắt buộc, tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề, vị trí, vai trò của Hội nghề nghiệp,
quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm toán độc lập
Bên cạnh đó, Luật KTĐL được xây dựng trên cơ sở tham khảo có chọn lọc nội
dung các quy định pháp lý về kiểm toán hiện hành của các nước trong khu vực và trên
thế giới, phù hợp với các cam kết của Việt Nam và tiến trình hội nhập giữa nước ta với
các nước trong khu vực và thế giới. Bộ Tài chính đã tổ chức nghiên cứu, tham khảo
kinh nghiệm của các nước có hệ thống quản lý hoạt động kiểm toán độc lập hiệu quả,
tiến bộ (như Singapore, Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc ). Đúc kết những
bài học mà Việt Nam có thể áp dụng được.
Có thể thấy, việc ban hành Luật KTĐL sẽ nâng cao vai trò của cơ quan quản lý
nhà nước thông qua việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động DN kiểm toán, cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status