Lun vn thc s qun lý hnh chớnh cụng Dng Th Tỡnh Thng
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận đợc sự động viên, giúp đỡ tận tình
và quý báu của các thầy, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp trong và ngoài Học
viện chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Với tình cảm chân thành, tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn tới Giáo s, Tiến
sĩ Đinh Văn Tiến - Phó giám đốc học viện tận tình hớng dẫn và giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám đốc cùng các giảng viên
của Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Tụi xin chõn thnh cm n lónh o Ban cụng tỏc i biu ca y ban
thng v Quc hi, V cụng tỏc i biu - Vn phũng Quc hi cựng cỏc
ng nghip ó giỳp tụi trong quỏ trỡnh nghiờn cu, su tm hon thnh
lun vn
Với khả năng và thời gian nhất định, luận văn chắc chắn còn có những
thiếu sót. Tôi rất mong đợc đợc góp ý để hoàn thiện, có thể tiếp tục nghiên
cứu theo hớng đã chọn lên mức cao hơn và toàn diện hơn./.
Tác giả luận văn
Dơng Thị Tình Thơng
MC LC
PH LC
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. HĐ ND : Hội đồng nhân dân
2. UBND : Uỷ ban nhân dân
3. MTTQ : Mặt trận tổ quốc
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
MỞ ĐẦU
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
huy đầy đủ và thực chất chưa được cải cách đúng tầm với thực tiễn. Kể cả
việc mới ban hành luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm
2003 và nhiều văn bản, hội thảo cũng như các công trình nghiên cứu nhằm
đánh giá thực trạng, tìm giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động và vai trò
của hội đồng nhân dân trong việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình
được hiến pháp và luật quy định.Nhưng vẫn chưa đưa ra được những giải
pháp đổi mới mang tính đột phá để Hội đồng nhân dân thực sự là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định những vấn để quan trọng về phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương. Trong giai đoạn
đất nước đang trên đà đổi mới, hội nhập sâu rộng, và với nghị quyết của Đảng về
phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Do đó vai trò của
HĐND xã, thị trấn trong việc quyết định những vấn đề về phát triển kinh tế ở địa
phương trong giai đoạn hiện nay càng quan trọng hơn bao giờ hết.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Xuất phát từ tầm quan trọng của cấp chính quyền địa phương trong tổ
chức bộ máy Nhà nước nhất là vai trò của HĐND xã, thị trấn trong phát triển
kinh tế ở địa phương trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nên thời
gian gần đây, trong quá trình tìm kiếm những giải pháp đổi mới nâng cao hoạt
động của HĐND cấp xã, thị trấn, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về
chính quyền địa phương nói chung về HĐND nói riêng được triển khai trên
các bình diện và cấp độ khác nhau. Các kết quả nghiên cứu đã được công bố
dưới nhiều hình thức ấn phẩm có thể kể ra một cách chưa thật sự đầy đủ như:
+ Cuốn “Tổ chức chính quyền Nhà nước ở địa phương- Lịch sử và hiện
tại” của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung- NXB Đồng Nai 1997;
+ Cuốn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở
Việt Nam hiện nay” do PGS.TS Lê Minh Thông và PGS.TS Nguyền Như
Phát chủ biên- NXB chính trị Quốc gia 2002;
2
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
dân xã, thị trấn trong việc phát triển kinh tế ở địa phương.
b) Nhiệm vụ nghiên cứu
- Vận dụng lý luận cơ bản về kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
vào thực tế sản xuất hàng hoá và nâng cao hiệu quả kinh tế ở mỗi địa phương.
- Nêu rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn
trong hệ thống chính quyền Nhà nước ở địa phương. Sự phát triển của hội
đồng nhân dân xã, thị trấn từ năm 1960 đến nay qua các định chế luật pháp.
Phân tích đánh giá thực trạng địa bàn tổ chức quản lý và hoạt động của chính
quyền xã, thị trấn. Tìm ra các nguyên nhân tồn tại trong tổ chức và hoạt động
của HĐND xã, thị trấn hiện nay.
- Phân tích làm nổi bật vai trò của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong
việc phát triển kinh tế ở địa phương. Từ đó đề xuất một số giải pháp về quản
lý Nhà nước đối với việc phát triển kinh tế trên địa bàn.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành và phát triển của
Hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong hệ thống chính quyền địa phương ở nước
ta.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình thực hiện vai trò của HĐND xã, thị trấn trong phát triển kinh
tế ở địa phương;
- Phân tích thực trạng hoạt động của HĐND xã, thị trấn trong việc quyết
định các vấn đề quan trọng ở địa phương;
- Tập trung vào việc xem xét, nghiên cứu vai trò hệ thống HĐND xã, thị
trấn trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ đổi mới.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Tình hình hoạt động của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn của Việt
4
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
Nam, từ đó đưa ra nhận xét chung về hoạt động của HĐND cấp xã, thị trấn.
5. Phương pháp nghiên cứu
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ, THỊ TRẤN
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Ở NƯỚC TA
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ, THỊ TRẤN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1. Vị trí của hội đồng nhân dân các cấp trong bộ máy Nhà nước
Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày
22/11/1945 chủ tịch Hồ chí Minh đã ký sắc lệnh số 63-SL đã quy định về tổ chức
chính quyền xã ở tiết 1 và tiết 2, chương I: “Điều thứ 2: Ở mỗi xã sẽ đặt một
HĐND có từ 15 đến 25 hội viên chính thức và từ 5 đến 7 hội viên dự khuyết
2
.
Một đạo nghị định của bộ trưởng Bộ nội vụ sẽ định rõ cách tính số hội
viên tùy theo dân số.
Điều thứ 12: Ở mỗi xã sẽ đặt một Ủy ban hành chính có 5 ủy viên
chính thức (một chủ tịch, 1 phó chủ tịch, 1 thư ký, 1 thủ quỹ và ủy viên) và 2
ủy viên dự khuyết
3
.
Điều thứ 13: Ủy ban hành chính xã do Hội đồng nhân dân xã bầu ra.
Lúc bầu sẽ bầu riêng Chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký và ủy viên.
Điều thứ 14: Muốn ứng cử vào Ủy ban hành chính xã phải có chân
trong HĐND xã và phải biết đọc, biết viết
4
.
Qua các lần sửa đổi Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 và sau đó sửa
đổi luật tổ chức HĐND và UBND về chính quyền xã không mấy thay đổi.
Quyết định 112- HĐBT ngày 05/10/1981 ghi nhận tại điều 1”
5
máy Nhà nước
Trong bộ máy Nhà nước, cơ quan do nhân dân trực tiếp thành lập ra
qua đầu phiếu phổ thông được gọi là cơ quan dân cử hay là cơ quan quyền lực
Nhà nước, bao gồm quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Hệ thống các cơ
quan này là nền móng, xương sống của bộ máy Nhà nước. Các cơ quan khác
của bộ máy Nhà nước đều bắt nguồn từ cơ quan quyền lực Nhà nước, do cơ
quan quyền lực Nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập. Hội đồng nhân
dân do nhân dân địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương nhưng nằm trong tổng thể bộ máy Nhà nước.
7
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
1.1.2 Sự phát triển của Hội đồng nhân dân trong quá trình lập hiến
Lịch sử xây dựng và phát triển chính quyền địa phương ở Việt Nam đã
trải qua bốn thời kỳ cơ bản, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội an ninh quốc phòng:
Thời kỳ thứ nhất (Thế kỷ X) Là thời kỳ đặt nền móng cho việc xây
dựng chính quyền địa phương của Nhà nước Phong kiến tự chủ; Thời kỳ thứ
hai (Từ thế kỷ X- XV) Là chính quyền địa phương trong thời kỳ xây dựng và
phát triển Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền mạnh ở Việt Nam; Thời
kỳ thứ ba (Từ cuối thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIV) Chính quyền địa phương
địa phương trong thời kỳ Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền phân liệt,
suy yếu; giai đoạn thứ tư (Từ giữa thế kỷ XIV đến năm 1945) Chính quyền
địa phương trong thời kỳ Pháp thuộc. Trong cả bốn thời kỳ nói trên mặc dù tổ
chức bộ máy chính quyền địa phương có những sự khác biệt nhất định về
nguyên tắc tên gọi, cơ cấu tổ chức và địa vị pháp lý nhưng về cơ bản đã tồn
tại hai hình thức chủ yếu và được duy trì đồng thời với nhau trong suốt lịch sử
tổ chức bộ máy chính quyền địa phương trước cách mạng tháng tám.
Chính quyền địa phương từ cách mạng tháng tám đến nay được chia
thành bốn giai đoạn cho phù hợp với tình hình mới của đất nước:
1.1.2.1 Giai đoạn 1945-1960
sự thay đổi theo hướng hoàn thiện. Tổ chức bộ máy của cơ quan quyền lực
nhà nước ở địa phương (hội đồng nhân dân) ngày càng được kiện toàn và
hoàn thiện. Hoạt động của hội đồng nhân dân cũng luôn được đổi mới, tăng
cường hoạt động ngày càng có hiệu lực. Hiến pháp năm 1945 và Luật tổ chức
chính quyền địa phương năm 1958 đã nâng cao vai trò, vị trí của hội đồng
nhân dân trong bộ máy nhà nước, trong đó quy định hội đồng nhân dân được
bầu và thành lập ở 2 cấp, cấp tỉnh và cấp xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ là
9
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
quyết định những vấn đề thuộc địa phương mình bằng cách ra các nghị quyết
có tính chất bắt buộc phải thi hành đối với ủy ban hành chính. Hoạt động của
hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính có vai trò quyết định đến sự nghiệp
cách mạng lúc bấy giờ.
1.1.2.2 Giai đoạn 1960-1980
Kế thừa và phát triển những quy định pháp lý của Sắc lệnh 63, 77 và
Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức hội đồng nhân dân và
Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của hội
đồng nhân dân và ủy ban hành chính các cấp. Hiến pháp quy định hội đồng nhân
dân được bầu và thành lập ở cả ba cấp: tỉnh, huyện, xã. Điều 80 của Hiến pháp
quy định "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và ủy
ban hành chính các cấp không chỉ là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
mà còn là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân địa phương"
6
. Hội đồng
nhân dân từng bước được tổ chức chặt chẽ và khẳng định tầm quan trọng, nhất là
thể hiện vị thế của mình trước ủy ban hành chính cùng cấp, thể hiện tính chất
quyền lực nhà nước của hội đồng nhân dân. Đây là bước tiến quan trọng trong
tiến trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ở nước ta.
1.1.2.3 Giai đoạn 1980-1992
Trong giai đoạn này, quyền hạn của hội đồng nhân dân được tăng cường
bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, sự thay đổi
mạnh mẽ diễn ra chủ yếu ở bộ máy Nhà nước ở trung ương. Về cơ bản mô
hình tổ chức các cấp chính quyền địa phương theo quy định trên không có sự
thay đổi nhiều so với giai đoạn trước.Bộ máy nhà nước là một hệ thống các
cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở được tổ chức theo nguyên tắc
thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ thực hiện các chức năng và nhiệm
vụ của nhà nước. Nhìn tổng quát, bộ máy nhà nước ta được tổ chức thành bốn
phân hệ giống như bộ máy nhà nước của các nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa có nền kinh tế thị trường, đó là:
11
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
+ Các cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan đại diện của nhân dân)
+ Các cơ quan lập pháp
+ Các cơ quan hành pháp
+ Các cơ quan tư pháp
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi rõ: “Hội
đồng nhân dân quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình. Những
quyết nghị ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên” (Điều 59 Hiến
pháp 1946)
7
và mối quan hệ này tiếp tục được quy định hoàn thiện hơn. Hiến
pháp 1992 quy định: “Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm trước nhân dân
địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (Điều 119)
8
; “Căn cứ vào hiến
pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, hội đồng nhân dân ra
quyết nghị về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh hiến pháp và
pháp luật ở địa phương, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm
tròn nghĩa vụ đối với cả nước” (Điều 120)
9
ở nước ta, xã là cấp chính quyền cơ sỏ có vị trí, vai trò rất quan trọng, đó là
cấp cuối cùng, thấp nhất của hệ thống chính quyền nhà nước, là nơi chính
quyền gắn bó, tiếp xúc mật thiết với nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách
của nhà nước đều bắt nguồn từ cấp xã và cũng chính từ đây các chủ trương
chính sách của Đảng, nhà nước và chính phủ đi vào cuộc sống. Xã là nơi sinh
sống của phần lớn dân cư trong cả nước (khoảng 80%) và diện tích đất đai
cũng chiếm tỷ lệ lớn so với khu vực đô thị. Trong lịch sử phát triển của nước
ta, xã đã xuất hiện, hình thành với ý nghĩa là tổ chức hành chính cấp cơ sở.
Ngay từ thời kỳ đầu tiên, xã và hội đồng nhân dân xã đã rất được coi trọng, xã
có vị trí quan trọng trong hệ thống đơn vị hành chính lãnh thổ. Tổ chức cơ sở
bắt buộc là đơn vị xã, thị trấn và tổ chức bộ máy phải bao gồm hội đồng nhân
dân ngoài xã còn có đơn vị hành chính là khu phố (trực thuộc thành phố).
Hiến pháp 1980 quy định đơn vị hành chính phường (khu phố): “Huyện chia
thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã;
quận chia thành phường. Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân” (Điều 113)
11
.
Với ý nghĩa là cấp cơ sở, với những đặc trưng riêng biệt về địa bàn, văn
hóa tâm lý, cơ sở kinh tế - xã hội … xã, thị trấn có vai trò quan trọng trong hệ
thống các đơn vị cơ sở so với đơn vị hành chính phường và thị trấn. Hội đồng
nhân dân xã có nhiệm vụ, quyền hạn tập trung vào 3 chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng quyết định: Hội đồng nhân dân căn cứ vào Hiến pháp, luật,
10
Hồ Chí Minh toàn tập. NXB Chính trị quốc gia 1995 tr371
11
Hiến pháp năm 1980
13
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nhu cầu và điều kiện cụ thể của
phương đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải được giải quyết trên cơ
sở kết hợp hài hòa các lợi ích nhà nước với dân cư và dân cư với nhau. Chính
quyền, cơ quan đại diện của dân thể hiện rõ nét hơn nhiệm vụ đảm bảo lợi ích
chung của nhân dân song song với nhiệm vụ triển khai pháp luật, chính sách
của nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Quá trình ra đời và phát triển hội
đồng nhân dân các cấp ở nước ta là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-
Lênin về nhà nước và các cơ quan dân cử kiểu mới. Đảng Cộng sản Việt Nam
do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đã quán triệt vận dụng đúng
đắn sáng tạo tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lê nin về xây dựng cơ quan dân cử.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo xây dựng nhà nước Việt Nam
của dân, do dân và vì dân. Sau khi Cách mạng tháng tám thành công, các cơ
quan dân cử từ trung ương đến cơ sở được thành lập với nguyên tắc tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực của
mình thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của
dân”. Do vậy hội đồng nhân dân phải phục vụ cho lợi ích của nhân dân, đưa
ra giải pháp sát thực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nâng
cao chất lượng cuộc sống của nhân dân nói riêng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chế định hội đồng nhân dân đã được tiếp tục
kế thừa và phát triển, thể hiện rõ nét và sâu sắc hơn trong các Hiến pháp nước
ta năm 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992. Chế định đó khẳng định và
làm rõ tính đại diện, tính quyền lực, nhiệm vụ quyền hạn và các mối quan hệ
của hội đồng nhân dân trong hệ thống chính trị, với nguyên tắc bất di bất
15
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
dịch: “Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện của nhân dân và là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương”. Những luận điểm đó là sợi chỉ đỏ xuyên
suốt quá trình cải cách bộ máy nhà nước, phát huy vai trò cơ quan đại diện
của dân, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Đại hội X của
ủy ban nhân dân hướng tới việc tổ chức thực thi công quyền. Vấn đề đặt ra là
phải quy định lại cơ cấu tổ chức của hội đồng nhân dân, thẩm quyền và
phương thức hoạt động để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ tự quản địa phương
với tư cách là cơ quan đại diện cho nhân dân địa phương quyết nghị các vấn
đề của riêng cơ sở trong khuôn khổ một đạo luật về chế độ tự quản nếu được
nghiên cứu, ban hành với mục đích nâng cao hơn nữa vai trò của hội đồng
nhân dân xã, thị trấn trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo hướng kinh tế
thị trường có sự điều tiết của nhà nước là việc quan trọng trong chương trình
đổi mới, tăng cường nhà nước ta theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Về phương diện lý luận cũng như
thực tiễn, cách thức tổ chức quyền lực nhà nước ở cấp Trung ương quyết định
tính chất và mô hình chính thể của một quốc gia, còn cách thức tổ chức thực
thi quyền lực ở cơ sở quyết định hiệu quả và sức mạnh của nhà nước, chính
quyền cơ sở, đặc biệt là cơ quan đại diện cho nhân dân ở địa phương với các
đặc điểm của mình luôn là hình ảnh cụ thể của nhà nước trong nhận thức mỗi
người dân, Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (sửa đổi 1994)
mới chỉ quy định những nét khái quát chung nhất về tổ chức và hoạt động của
hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong khi đó lại đưa ra khá cụ thể về tổ chức và
hoạt động của hội đồng nhân dân cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương)
và hội đồng nhân dân cấp quận, huyện. Chính điều này trên thực tế đã làm
cho vai trò của hội đồng nhân dân xã, thị trấn bị hạn chế và tính hình thức của
17
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
hội đồng nhân dân ở cấp cơ sở ngày càng trở nên trầm trọng, khó khắc phục.
Sự thiếu vắng các quy định về một cấu trúc tổ chức cần thiết của hội đồng
nhân dân xã, thị trấn là kết quả của một nhận thức chưa thật đầy đủ, toàn diện
về vai trò quan trọng của hội đồng nhân dân cấp cơ sở. Điều này được thể
hiện trước hết từ sự quan niệm về sự đồng nhất ở tính chất, vai trò của hội
đồng nhân dân các cấp. Tức là quan niệm hội đồng nhân dân xã cũng chính là
hình ảnh thu nhỏ của hội đồng nhân dân cấp tỉnh và huyện. Quan niệm này
Trung ương Đảng khóa X đã khẳng định: “Để phát huy vai trò của tổ chức
Đảng, chính quyền và đoàn thể ở cơ sở, yêu cầu hàng đầu là đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động và tổ chức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động của từng bộ phận và của cả hệ thống chính trị ở cấp cơ sở”
12
. Sau
hơn 20 năm đổi mới và phát triển chính quyền cấp xã, thị trấn đã tích cực thực
hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Nhìn chung đã đạt được những thành quả
quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nền kiểm tra, làm thay đổi bộ
mặt nông thôn và thành thị, từ đó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi
mới, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình xây
dựng chính quyền cấp xã trong tổ chức và hoạt động còn bộc lộ nhiều bất cập,
chưa nhận thức rõ vai trò của hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong việc phát
triển kinh tế địa phương, chưa đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của
đông đảo nhân dân. Hội đồng nhân dân xã, thị trấn là cơ quan do nhân dân địa
phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương nhưng nằm trong
tổng thể bộ máy nhà nước, tuân thủ các quy định của cơ quan nhà nước cấp
trên; Hội đồng nhân dân tuân thủ các quy định, chịu sự giám sát, kiểm tra của
Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ, của hội đồng nhân dân và ủy ban
nhân dân cấp trên; Hội đồng nhân dân phải tuân thủ các văn bản, chịu sự giám
sát, kiểm tra, hướng dẫn của cơ quan cấp trên. Đồng thời, hội đồng nhân dân
12
Nghị quyết Trung ương 5 - Khóa X
19
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập các cơ quan nhà nước ở địa phương, có
quyền giám sát các cơ quan này và quyết định những vấn đề quan trọng ở địa
phương; Hội đồng nhân dân là cơ quan có vị trí, vai trò rất quan trọng ở địa
phương, là cầu nối giữa việc thực hiện quyền lực của nhân dân địa phương và
việc thực hiện các quy định của cơ quan nhà nước cấp trên; Hội đồng nhân
phủ là người đề ra luật. Trong nền kinh tế thị trường, chính phủ có ba chức
năng kinh tế cơ bản: Hiệu quả; công bằng và ổn định: Chức năng hiệu quả
thực tế ở các nước có nền kinh tế thị trường có lúc cũng đã chịu thất bại thị
trường. Ở hệ thống kinh tế cạnh tranh, nhiều nhà sản xuất đơn giản không biết
được kỹ thuật sản xuất rẻ nhất, nên chi phí sản xuất không hạ xuống mức tối
thiểu được. Trong thực tế một doanh nghiệp có thể có lãi bằng cách giữ giá
cao cũng như bằng cách giữ mức sản xuất cao. Nhưng trong lĩnh vực khác có
rất nhiều tác động bên ngoài như ô nhiễm môi trường, độc hại đối với các
doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Trong mỗi trường hợp này, một thất
bại thị trường dẫn đến sản xuất không hiệu quả hoặc tiêu dùng không hiệu
quả. Do vậy rất cần đến sự can thiệp của chính phủ; Chức năng công bằng
nền kinh tế thị trường hoạt động có hiệu quả, luôn ở trên ranh giới khả năng
sản xuất, luôn chọn đúng số lượng hàng hóa công cộng và hàng hóa tư nhân
… Tuy nhiên hàng hóa thường đi theo người có tiền chứ không phải đi theo
người có nhu cầu lớn nhất. Hệ thống thị trường có thể gây ra sự bất bình đẳng
lớn. Sự phân phối thu nhập trong một hệ thống thị trường gây ra sự không
công bằng. Do vậy, để giảm bớt sự bất bình đẳng đó, cần có vai trò tích cực
của nhà nước: Chính phủ thông qua quốc hội để có thể sử dụng thuế (như
thuế thu nhập, thuế thừa kế … có tính chất phân phối lại thu nhập; Chức năng
ổn định là việc sử dụng một cách thận trọng quyền lực và tiền tệ của chính
phủ có ảnh hưởng lớn tới sản lượng, công ăn việc làm và giá cả của một nền
kinh tế. Quyền lực về tài chính của chính phủ là quyền đánh thức nền kinh tế
và chi tiêu. Quyền lực về tiền tệ bao hàm việc điều tiết tiền tệ và hệ thống
21
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công Dương Thị Tình Thương
ngân hàng để xác định mức lãi suất và điều kiện tín dụng. Tóm lại, ba vai trò
trên của chính phủ cho thấy: Chính phủ là người thúc đẩy hiệu quả, công bằng
và ổn định. Cơ chế thị trường xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh
vực, trong khi đó Chính phủ điều tiết thị trường bằng các chương trình thuế,
chi tiêu và luật lệ. Như vậy cả thị trường và chính phủ đều có tính chất thiết