PHÁP LUẬT VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP VĂN HÓA - Pdf 27

Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
BÁO CÁO NIÊN LUẬN tuthienbao.com
PHÁP LUẬT VỀ CHI NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ
NGHIỆP VĂN HÓA. THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ
GVHD : LÊ THỊ THẢO
SVTH : LÊ VĂN TÚC
GVHD: Lê Thị Thảo 1
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
3.1. Mục đích tổng quát.
3.2. Mục đích cụ thể.
4. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu.
4.1. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp luận.
4.2.2. Phương pháp nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHO SỰ NGHIỆP VĂN HÓA- DU LỊCH
1. Khái quát về chi Ngân sách Nhà nước.
GVHD: Lê Thị Thảo 2
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
1.1 Một số khái niệm cơ bản.
1.2 Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước

trong việc thực hiện chức năng nói trên của nhà nước. Trong đó chi ngân
sách nhà nước cho sự nghiệp văn hóa là một trong những khoản chi đặc biệt
quan trọng. Mục tiêu của các hoạt động văn hóa là nâng cao tri thức và thẩm
mỹ cho mọi tầng lớp dân cư nhằm xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, có nội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ, phát triển đạo
đức xã hội và truyền thống dân tộc. Mục tiêu của các hoạt động này cho phép
mỗi công dân phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức và nâng cao
tri thức của mình. Vì tính chất quan trọng của các hoạt động văn hóa nên việc
thực hiện các mục tiêu của chúng gắn liền một khoản cấp phát từ ngân sách
nhà nước.
Hiện nay, Thừa Thiên Huế với vai trò là một trong những trung tâm Văn hóa
lớn nhất cả nước, việc đầu tư cho các hoạt động này là đặc biệt cần thiết,
trong đó, nguồn chi từ ngân sách nhà nước là quan trọng nhất. Trên cơ sở các
quy định pháp luật, hằng năm, Thừa Thiên Huế luôn chi một khoản ngân
sách nhà nước không nhỏ và ngày càng tăng lên cho sự nghiệp Văn hóa của
GVHD: Lê Thị Thảo 5
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
tỉnh. Với mức chi đó, sự nghiệp giữ gìn và phát huy các truyền thống văn hóa
mang đặc trưng riêng của Thừa Thiên Huế cũng như của nước ta đã và đang
gặt hái được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, ngoài những thành tựu đã đạt
được, vì nhiều nguyên nhân về cả lý luận lẫn thực tiễn mà hoạt động chi
NSNN cho sự nghiệp văn hóa ở Thừa Thiên Huế nói riêng và trong cả nước
nói chung vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến kết quả của hoạt động này
chưa thật sự như mong đợi. Vì thế việc nghiên cứu các quy định pháp luật về
chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Văn hóa cũng như thực tiễn áp dụng
các quy định này trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là rất cần thiết, từ đó em
chọn đề tài “ Pháp luật về chi Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Văn
hóa. Thức tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế ” để nghiên cứu về vấn
đề này góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp
dụng trên thực tế.

trình áp dụng;
• Đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật;
• Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc chi NSNN cho hoạt
động Văn hóa tại Thừa Thiên Huế nói riêng, nước ta nói chung.
GVHD: Lê Thị Thảo 7
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
4. Đối tượng phạm vi và phương pháp nghiên cứu
a. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Quy định pháp luật về chi NSNN cho sự nghiệp Văn hóa:
- Luật ngân sách nhà nước năm 2002;
- Các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản dưới luật có liên quan.
• Thực tiễn áp dụng pháp luật về chi NSNN cho sự nghiệp Văn hóa nghệ
thuật tại Thừa Thiên Huế.
b. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp luận
Phương pháp luận của đề tài là quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư
tưởng Hồ chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về Nhà nước và pháp
luật, những thành tựu của khoa học kỹ thuật như: khoa học pháp lý, triết học,
logich học…
 Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp suy luận, phương pháp logich;
 Phương pháp thống kê, tổng hợp;
 Phương pháp so sánh, chứng minh;
GVHD: Lê Thị Thảo 8
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
 Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, tham khảo tài liệu, sách báo, tạp
chí…
Ngoài ra còn sử dụng những phương pháp cần thiết khác.
5. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, nội

một cách khá đầy đủ những nội dung chi cơ bản, mang tính then chốt cho
việc đảm bảo các hoạt động của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt chức
năng, nhiệm cụ của nhà nước trong các lĩnh vực khác.
Như vậy, ta có thể hiểu chi NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại
những khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền
tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở
mang các sự nghiệp văn hóa-xã hội, duy trì hoạt động quản lý của bộ máy
nhà nước và bảo đảm an ninh quốc phòng. Cụ thể hơn chi NSNN là phân
phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo dự toán ngân sách đã được các
chủ thể quyền lực nhà nước quyết định nhằm duy trì hoạt động của bộ máy
nhà nước và đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước.
1.2 Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước
Dựa vào khái niệm của chi ngân sách nhà nước đã nêu ở trên, có thể thấy chi
NSNN có một số đặc điểm sau:
• Chi NSNN là hoạt động phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước,
hoạt động này chỉ hoạt động dựa trên cơ sở quy định pháp luật và dự toán
ngân sách nhà nước đã được cơ quan quyền lực nhà nước có thẩm quyền
quyết định. Nội dung chi NSNN phải nằm trong bản dự toán ngân sách hằng
năm do Quốc hội thông qua. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quyết
định tổng chi NSNN bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương, tổng số chi, mức chi…Chi NSNN là một nội dung quan trọng quyết
GVHD: Lê Thị Thảo 11
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
định đến hiệu quả quản lý nhà nước của bộ máy nhà nước, vì vậy nó phải
được thông qua trên nguyên tắc tập thể, tập trung trí tuệ tập thể và qua một
quy trình luật định nghiêm ngặt.
• Chi NSNN là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể quyền lực
gồm hai nhóm:
 Nhóm chủ thể đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, cấp
phát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước. Đó là những cơ quan đại

pháp luật. Tuy nhiên nếu căn cứ vào mục đích kinh tế xã hội của các khoản
chi NSNN thì có thể chia các khoản chi NSNN thành các loại sau:
• Chi đầu tư phát triển: là khoản chi mà nhà nước sử dụng một bộ phận
của NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, phát triển sản
xuất nhằm mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Theo khoản 1 Điều 3
nghị định 60/2003/NĐ-CP thì các khoản chi đầu tư phát triển bao gồm: Đầu
tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng
thu hồi vốn; Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các
GVHD: Lê Thị Thảo 13
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định
của pháp luật; Chi bổ sung dự trữ nhà nước; Chi đầu tư phát triển thuộc các
Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; Các khoản chi đầu tư phát
triển khác theo quy định của pháp luật.
• Chi thường xuyên: là khoản chi nhằm thực hiện nhiệm vụ thường
xuyên của nhà nước về quản lý các mặt của đời sống xã hội. Đây là những
khoản chi mang tính ổn định, định kì, lặp đi lặp lại và các khoản chi mang
tính tiêu dùng, vì vậy nó không có tính tích lũy. Chi thường xuyên bao gồm:
Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn
học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội
khác; Các hoạt động sự nghiệp kinh tế; Quốc phòng, an ninh và trật tự an
toàn xã hội; Hoạt động của các cơ quan nhà nước; Hoạt động của Đảng Cộng
sản Việt Nam…Chi thường xuyên được bố trí kinh phí đều trong năm để chi.
Ngoài ra, có thể thấy có các loại chi ngân sách nhà nước khác như chi trả nợ
gốc và lãi các khoản do Chính phủ vay, chi viện trợ của ngân sách trung ương
cho chính phủ và các tổ chức nước ngoài, chi bổ sung ngân sách cấp trên cho
ngân sách cấp dưới…
2. Pháp luật về chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp văn hóa
2.1 Khái niệm chi NSNN cho sự nghiệp văn hóa

Như vậy, chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp văn hóa là khoản chi tài
chính mà nhà nước ta đầu tư cho các hoạt động xây dựng và phát triển hệ
thống các nhà bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, các công trình văn hóa xã hội
trọng điểm, các hoạt động sáng tác văn hóa nghệ thuật, biểu diễn nghệ
thuật… nhằm nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho người dân cũng như
đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
2.2 Pháp luật về chi NSNN cho sự nghiệp văn hóa
2.2.1 Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp văn hóa
Chi NSNN cho hoạt động sự nghiệp văn hóa là một trong các khoản chi
thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước với mục tiêu nâng
cao tri thức và thẩm mỹ cho mọi tầng lớp dân cư nhằm xây dựng một nền văn
hóa đậm đà bản sắc dân tộc, có nội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ, phát
triển đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc. Và để thực hiện có hiệu quả các
hoạt động văn hóa nghệ thuật, Nhà nước ta cần đầu tư một khoản ngân sách
rất lớn cho hoạt động này với các nội dung được quy định cụ thể như sau:
• Chi cho hệ thống bảo tồn, bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa; Trùng tu di
tích lịch sử đã được xếp hạng. Đây là những khoản chi rất quan trọng và
chiếm tỉ lệ rất lớn trong lĩnh vực này. Có thể nói các hoạt động này mang tính
nền tảng, tạo cơ sở cho sự phát triển của sự nghiệp văn hóa.
Các khoản chi này được sử dụng để chi cho các hoạt động như : xây dựng và
phát triển hệ thống các khu bảo tồn, bảo tàng văn hóa lịch sử, xây dựng và
mua sắm các trang thiết bị, tăng lượng đầu sách cho các thư viện hoặc nhà
GVHD: Lê Thị Thảo 16
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
văn hóa nhằm đưa tri thức đến gần với người dân hơn, góp phần xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiến bộ và đậm đà bản sắc dân tộc.
• Chi cho các hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, cho các hoạt động
biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác. Nếu các hoạt động ở
trên là mang tính nền tảng thì đây được xem là nội dung chính, quan trọng
bậc nhất trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Cũng chính vì thế, việc chi

nhà nước được quyết định trong các Đạo luật NSNN năm.
2.2.2 Nguồn vốn
Chi NSNN cho sự nghiệp văn hóa là hoạt động chi thường xuyên của ngân
sách nhà nước. Mỗi một năm ngân sách, Nhà nước lại trích một phần ngân
sách rất lớn cho hoạt động này trong khi không tính đến khả năng thu hồi lại
vốn mà hướng đến sự phát triển của toàn xã hội trong tương lai. Do đó, để
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Nhà nước ta huy động
nhiều nguồn vốn khác nhau tham gia đầu tư xây dựng và phát triển các sự
nghiệp mang tính quốc gia này. Mỗi nguồn vốn có nội dung, đối tượng sử
dụng khác nhau phù hợp với quá trình phát triển trong từng giai đoạn lịch sử.
Trên góc độ quản lý kinh tế, tài chính vốn đầu tư cho sự nghiệp văn hóa được
phân loại theo đối tượng sử dụng vốn như sau:
GVHD: Lê Thị Thảo 18
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
• Vốn Ngân sách nhà nước bao gồm cả ngân sách Trung ương và ngân
sách địa phương được hình thành từ tích luỹ của nền kinh tế quốc dân, vốn
khấu hao cơ bản và một phần vốn ngân sách cho các sự nghiệp trong đó có
văn hóa, y tế giáo dục, nghiên cứu khoa học, các công trình quản lý nhà
nước, công trình an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái mà không
có khả năng thu hồi vốn, những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, trồng
rừng đầu nguồn, rừng quốc gia, rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, các
trạm, trại, động thực vật, nghiên cứu giống mới, cải tạo vốn…
• Vốn tín dụng đầu tư nhà nước được hình thành do chuyển từ ngân sách
nhà nước sang Cục văn hóa cơ sở để vay theo hình thức tín dụng ưu đãi, vốn
do nhà nước vay viện trợ của nước ngoài qua hệ thống ngân sách nhà nước
được chuyển sang cho tổng cục văn hóa du lịch, vốn thu nợ các dự án vay ưu
đãi đối với các dự án đã đến hạn trả nợ. Nguồn vốn này được dùng để vay ưu
đãi đối với các dự án, các trương trình mục tiêu quốc gia do nhà nước chỉ
định.
• Nguồn vốn tự cân đối dành cho đầu tư của các đơn vị sự nghiệp được

(chỉ khoảng 35-40 ngày). Các cơ quan tham gia thẩm định không có điều
kiện nghiên cứu tài liệu để tham gia ý kiến. Điều này làm hạn chế sự tham gia
GVHD: Lê Thị Thảo 20
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
của các cơ quan hữu quan vào dự toán Ngân sách nhà nước, kể cả việc thẩm
định và có ý kiến vào dự toán ngân sách nhà nước của Kiểm toán nhà nước.
Về yêu cầu của việc lập dự toán ngân sách nhà nước đối với chi ngân sách
nhà nước cho sự nghiệp văn hóa phải tuân thủ một số yêu cầu quy định tại
Điểm 2 phần III Thông tư 59/2003/TT-BTC như sau:
• Việc lập dự toán phải tổng hợp theo từng lĩnh vực và phải thể hiện
được cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ.
• Dự toán Ngân sách của các đơn vị dự toán phải thep đúng yêu cầu, nội
dung, biểu mẫu và thời hạn quy định tại các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài
chính.
• Dự toán ngân sách phải kèm theo báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, căn cứ
dự toán.
• Phải đảm bảo các nguyên tắc do pháp luật quy định về việc lập dự toán
NSNN.
Về căn cứ lập dự toán ngân sách, để lập dự toán ngân sách đối với chi NSNN
cho sự nghiệp văn hóa phải dựa trên những căn cứ quy định tại Điểm 3 phần
III Thông tư 59/2003/TT-BTC:
• Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh – quốc phòng,
nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm
vụ, điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng.
GVHD: Lê Thị Thảo 21
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
• Các luật, pháp lệnh, các chính sách, chế độ tiêu chuẩn, định mức do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
Dựa trên những quy định của pháp luật về lập dự toán NSNN, vào nhiệm vụ
cụ thể của đơn vị mình, các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa các cấp sẽ

thời phải phân bổ hết dự toán ngân sách được giao theo đúng phương án phân
bổ ngân sách đã được phê duyệt.
2.2.5 Chi trả, thanh toán các khoản chi của NSNN cho sự nghiệp văn hóa
 Nguyên tắc chi trả
Theo quy định tại Điểm 5 phần IV Thông tư 59/2003/TT-BTC của Chính
phủ, khi chi trả, thanh toán các khoản chi NSNN nói chung, chi cho sự
nghiệp văn hóa nói riêng cần phải căn cứ vào dự toán chi ngân sách nhà nước
năm được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi của đơn vị theo đúng chế
độ, tiêu chuẩn, định mức, cơ quann tài chính và Kho bạc nhà nước thực hiện
GVHD: Lê Thị Thảo 23
Báo cáo Niên luận – Lê Văn Túc
chi trả, thanh toán các khoản chi theo nguyên tắc thanh toán trục tiếp từ Kho
bạc nhà nước.
 Phương thức và quy trình chi trả, thanh toán
Phương thức chi ngân sách nhà nước có thể hiểu là cách thức Nhà nước sử
dụng để chuyển giao nguồn ngân sách nhà nước cho các chủ thể thụ hưởng
ngân sách nhà nước. Ở nước ta, quá trình cấp phát tài chính từ ngân sách nhà
nước có thể thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau, phụ thuộc vào tính
chất, mục đích chi tiền, trong đó pháp luật hiện hành quy định hai phương
thức đó là chi theo dự toán kinh phí (chi theo hạn mức) và chi theo lệnh chi
tiền. Như đã trình bày ở các phần trên, chi NSNN cho sự nghiệp văn hóa là
khoản chi thường xuyên trong dự toán do đó các khoản chi này sẽ được chi
theo phương thức chi trả, thanh toán theo dự toán từ Kho bạc Nhà nước.
Phương thức chi theo dự toán kinh phí là phương thức áp dụng với các khoản
chi mà cơ quan tài chính không cấp phát trực tiếp. Đối tượng cấp phát theo
phương thức này là các đối tượng sử dụng thường xuyên kinh phí từ NSNN
để thực hiện các nhiệm vụ được giao, là đối tượng có quan hệ thường xuyên
với ngân sách nhà nước. Quy trình áp dụng phương thức này như sau:
Bước 1. Căn cứ vào phương án điều hành ngân sách quý do cơ quan tài chính
thông báo, nhu cầu thanh toán, chi trả hang quý của các đơn vị sử dụng Ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status