ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ NGOẠI TỆ ĐẾN NỀN KINH TẾ - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ NGOẠI TỆ ĐẾN NỀN KINH TẾ
A/ TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1/ Khái niệm tỷ giá hối đoái
Về hình thức : là giá đơn vị tiền tệ của một nước, được biểu hiện bằng các
đơn vị tiền tệ nước ngoài; là hệ số quy đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác,
được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường. Vd: TGHĐ giữa Đồng
Việt Nam và Dollar Mỹ là 19100VND/USD.
Về nội dung : TGHĐ là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi
hành hóa, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ…giữa các quốc gia.
Có nhiều loại tỷ giá khác nhau:
 TGHĐ thực và TGHĐ danh nghĩa
 TGHĐ chính thức và TGHĐ song song
 TGHĐ song phương và TGHĐ hiệu lực
2/ Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp :
2.1 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với cán cân thương mại.
Cán cân thương mại ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Cấn cân thương mại của
một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu. Một
nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp tục
công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá
dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài. Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng,
làm tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập
khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường.
Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tác động của hai hiện
tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân
tố, đó chính là cán cân thương mại. Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung
ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm

trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo quy luật tối ưu
hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất.
Một nền kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi
trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn
lao động dồi dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông
thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ.
B. CƠ CHẾ QUẢN LÝ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1/ Cơ chế cố định tỷ giá( Fix Exchange Rate)
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là NHTW tuyên bố
sẽ duy trì tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một hoặc một số đồng tiền
nào đó ở một mức độ nhất định. Ở đây, NHTW đóng vai trò điều tiết lượng dư cầu
hoặc dư cung về ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái cố định bằng cách bán ra hoặc mua
vào số dư đó.
Trong lịch sử, tỷ giá cố định nổi tiếng là tỷ giá giữa dollar Mỹ và các đồng
tiền khác theo Hiệp ước tiền tệ Bretton Woods – được áp dụng từ năm 1947 đến
1967. Lúc bấy giờ người ta căn cứ vào hàm lượng vàng của USD ( lúc đó là
0,888671 g vàng) và hàm lượng của các đồng tiền khác của các nước tham gia Hiệp
ước, chẳng hạn hàm lượng vàng của FRF là 0,2483 g vàng vậy tỷ giá giữa
USD/FRF sẽ là 0.88761/0.2483 = 3,5700 và tỷ giá này hai nước coa trách nhiệm
giữ nó không được biến động quá +/- 1,0%.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì nó mang lai một môi trường ổn
định, thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi chính sách vĩ mô.
+Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những xung đột về mục
tiêu chính sách và những biến động về tỷ giá.
- Hạn chế của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốt từ bên ngoài hoặc từ thị

thị trường quyết định giá trị đồng tiền nước mình. Thực tế, ít có nước nào thả nổi tự
do mà trái lại, Chính phủ thường can thiệp bằng những công cụ tài chính – tiền tệ
(lãi suất, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở), điều chỉnh dự trữ ngoại tệ,
chính sách kinh tế, kể cả các giải pháp hành chính (mua ngoại tệ phải làm đơn
xin mua ngoại tệ,chính sách kết hối ngoại tệ...).
Vậy trên thực tế, không tồn tại một chế độ tỷ giá ho àn toàn thả nổi mà
thường chỉ tồn tại chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa “cố định” và “thả nổi”.
- Ưu điểm của chế độ tỷ giá thả nổi:
+ Giúp cán cân thanh toán cân bằng: Giả sử một nước nào đó có cán cân
vãng lai thâm hụt khiến nội tệ giảm giá. Điều đó thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập
khẩu cho đến khi cán cân thanh toán trở nên cân bằng.
+ Đảm bảo tính độc lập của chính sách tiền tệ.
+ Góp phần ổn định kinh tế, tránh được những cú sốc bất lợi từ bên ngoài, vì
khi giá cả nước ngoài tăng sẽ làm cho tỷ giá tự điều chỉnh theo cơ chế PPP để ngăn
ngừa các tác động ngoại lai.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nhược điểm:
+ Là nguyên nhân gây nên sự bất ổn do các hoạt động đầu cơ làm méo mó,
sai lệch thị trường, có khả năng gây nên lạm phát cao và tăng nợ nước ngoài.
+ Hạn chế các hoạt động đầu tư và tín dụng do tâm lý lo sợ sự biến động
theo hướng bất lợi của tỷ giá.
3/ Chế độ tỷ giá hối thả nổi có quản lý
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái có sự can thiệp của hai chế độ cố định và thả
nổi. ở đó,tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy luật thị trường, chính phủ chỉ
can thiệp khi có những biến động mạnh vượt quá mức độ cho phép.
Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ:
- Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: Chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối thiểu và
sẽ can thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó.
- Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao động: Tỷ giá chính

Ngân hàng không kiểm soát được lưu thông tiền tệ , mọi cố gắng quản lý ngoại tệ
của chính phủ ít đem lại hiệu quả.
Trong các năm 1991-1992 do ảnh hưởng của sự đổ vỡ các mối quan hệ ngoại
thương với LiênXô và Đông Âu , nhập khẩu giảm sút một cách nghiêm trọng (năm
1991 là 357.0 triệu USD đến năm 1992 chỉ còn 91,1 triệu USD). Các doanh nghiệp
tiến hành nhập khẩu theo hình thức trả chậm và phải chịu một lãi suất cao do thiếu
dola, dola đã thiếu lại càng thiếu dẫn đến các cơn sốt dola theo chu kỳ vào giai
đoạn này.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đến đầu năm 1992 Chính phủ đã có một số cải cách trong việc điều chỉnh tỷ
giá ( như buộc các doanh nghiệp có dola phải gửi vào ngân hàng, bãi bỏ hình thức
quy địng tỷ giá theo nhóm hàng..) làm cho giá dola bắt đầu giảm ( cuối năm 1991
tỷ giá VND/USD có lúc lên tới 14500 đến tháng 3/1992chỉ còn 11550 VND/USD
và tiếp tục giảm cho đến cuối năm 1992.
2/ Giai đoạn từ 92 đến khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính
Đông Nam Á (tháng 7 năm 1997).
Trước những tồn tại của việc”thả nổi” mất kiểm soát tỷ giá, chính phủ đã
thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá với những nội dung cụ thể sau:
- Quy định biên độ dao động của tỷ giá với tỷ giá chính thức được công bố
bởi Ngân hàng nhà nước (công bố tỷ giá chính thức mỗi ngày và xác định rõ biên
độ giao động); Tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành chính mà cụ thể là
buộc các đơn vị kinh tế (trước hết là đơn vị kinh tế quốc doanh) có ngoại tệ phải
bán cho Ngân hàng theo tỷ giá nhất định.
- Bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán
ngoại thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động ngoại
thương. Thay vào đó là việc áp dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước
công bố.
Chính phủ đã tăng cường công tác thông tin,cho công khai hóa một cách
nhanh chóng và chính xác chỉ số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status