BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ CỦNG CỐ BỘ MÁY QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở CÁC CẤP TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - Pdf 27

VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG

KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA
TỈNH HÀ TĨNH
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
CỦNG CỐ BỘ MÁY QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI
NGUYÊN TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở CÁC CẤP TRONG ĐIỀU KIỆN
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
(CHUYÊN ĐỀ SỐ 37)
HÀ NỘI, THÁNG 12/2010
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG ii
DANH SÁCH CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU iv
CHƯƠNG 1.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH 5
1.1.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 5
1.1.1.Vị trí địa lý 5
1.1.2.Địa hình, địa chất 6
1.1.3.Khi tượng, Khí hậu 6
1.1.4.Thủy văn 7
1.1.5.Tài nguyên thiên nhiên 7
1.2.ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 10
1.1.6.Dân số và lao động 10
1.1.7.Đặc điểm về kinh tế 10
CHƯƠNG 2.
CỦNG CỐ BỘ MÁY QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN TÀI
NƯỚC 14
1.3.HIỆN TRẠNG BỘ MÁY QUẢN LÝ, KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN

o
C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm. Biến đổi khí hậu đã làm cho các
thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt.
Hậu quả của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy
cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên
niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước.
Hà Tĩnh là một vùng đất nằm trên dải đất miền Trung thiên nhiên không mấy
ưu đãi, nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển
tiếp của miền Bắc và miền Nam nên có khí hậu khắc nghiệt, cùng với đó là sự biến đổi
khí hậu có tác động không nhỏ tới các hoạt động của con người đặc biệt là tác động tới
các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Nhận thức rõ ảnh hưởng đó và nhằm đưa ra những nhận định, cảnh báo thiết
thực nhất cho tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, chuyên đề “Củng cố bộ máy quản lý, khai thác
và sử dụng tài nguyên tài nguyên nước ở các cấp trong điều kiện biến đổi khí hậu” cho
ta thấy được bộ máy quản lý tài nguyên nước của trung ương và địa phương từ đó đề
xuất phương án quản lý sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý nhắm ứng phó với
biến đổi khí hậu.
iv
CHƯƠNG 1.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Hà tĩnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, diện tích tự nhiên 602649,96 ha, tọa độ địa
lý 17
0
54

– 18
0
38

5
1.1.2. Địa hình, địa chất
Lãnh thổ Hà Tĩnh chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa hình dốc
nghiêng từ Tây sang Đông (độ dốc trung bình 1,2%, có nơi 1,8%) và bị chia cắt mạnh
bởi các sông suối nhỏ của dãy Trường Sơn, có nhiều dạng địa hình chuyển tiếp, xen kẻ
lẫn nhau. Phía Tây là sườn Đông của dãy trường Sơn có độ cao trung bình 1500m, kế
tiếp là đồi bát úp và một dãy đồng bằng hẹp, có độ cao trung bình 5m, thường bị núi
cắt ngang và sau cùng là dãy cát ven biển bị nhiều cửa lạch chia cắt. Về tổng thể, địa
hình Hà Tĩnh được chia thành 4 vùng sinh thái như sau:
- Vùng núi cao: Địa hình vùng núi cao thuộc phía Đông của dãy Trường Sơn
bao gồm các xã phía Tây của huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh. Địa hình dốc bị
chia cắt mạnh, gồm các núi cao từ 1000m trở lên, trong đó có đỉnh Rào Cỏ cao 2.335
m, đồng thời hình thành các thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo các triền sông lớn của
hệ thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ.
- Vùng trung du và bán sơn địa: Đây là vùng chuyển từ vùng núi cao xuống
vùng đồng bằng. Vùng này chạy dọc phía Tây Nam đường Hồ Chí Minh bao gồm các
xã vùng thấp của huyện Hương Sơn, các xã thượng Đức Thọ, thượng Can Lộc, ven
Trà Sơn của các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Địa hình có dạng xen lẫn giữa
các đồi trung bình và thấp với đất ruộng. Đất đai không bằng phẳng, hệ thực vật chủ
yếu là cây lùm bụi, cây công nghiệp, rừng trồng và thảm cỏ.
- Vùng đồng bằng: là vùng chạy dọc hai bên Quốc lộ 1A theo chân núi Trà Sơn
và dải ven biển, bao gồm các xã vùng giữa của huyện Đức Thọ, Can Lộc, thị xã Hồng
Lĩnh, Thạch Hà, thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh. Địa hình vùng này tương
đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các sông, phù sa biển trên các vỏ phong
hoá Feralit hay trầm tích biển.
- Vùng ven biển nằm ở phía Đông đường Quốc lộ 1A chạy dọc theo bờ biển
gồm các xã của huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Địa hình
được tạo bởi những đụn cát chạy dài ngăn cách bãi biển. Ngoài ra vùng này còn xuất
hiện các dãy đồi núi sót chạy dọc ven biển do kiến tạo của dãy Trường Sơn Bắc. Do
nhiều cửa sông, lạch tạo nên nhiều bãi triều ngập mặn.

Hà Tĩnh có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối hồ đập khá dày
đặc. Theo số liệu của chi cục Quản lý nước và Công trình thuỷ lợi: Hà Tĩnh có 266 hồ
chứa có dung tích trữ trên 600.10
6
m
3
, 282 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000m
3
/s,
15 đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9m
3
/s với trữ lượng này hiện tại Hà Tĩnh đã phục
vụ tưới được 47.737 ha/vụ. Tuy nhiên việc sử dụng nước phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp và sinh hoạt còn bị hạn chế do bị nhiễm mặn ở hạ lưu vào mùa khô và lũ lụt
mùa mưa.
1.1.5. Tài nguyên thiên nhiên
1.1.1.1. Tài nguyên đất:
Năm 2007 toàn tỉnh Hà Tĩnh hiện có 602564 ha đất tự nhiên, được phân bổ theo
mục đích sử dụng như sau:
Bảng 1.1. Diện tích đất phân theo mục đích sử dụng năm 2007
TT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Đất nông nghiệp 462701 76,78
2 Đất phi nông nghiệp 76448 12,68
3 Đất chưa sử dụng 63415 10,54
Tổng diện tích đất tự nhiên 602564 100
Đất ở Hà tĩnh cũng như các tỉnh khác ở miền Trung, không được màu mỡ lắm,
chủ yếu là đất Feralit. Có 1/3 diện tích là tương đối màu mỡ, chủ yếu nằm dọc các con
sông tạo ra những dải đồng bằng nhỏ hẹp, 2/3 là trung bình đến xấu, nghèo chất dinh
dưỡng.
7

Thực vật của rừng đa dạng và phong phú, có trên 86 họ và 500 loại cây dạng
thân gỗ. Có nhiều loại gỗ quý như: Lim, Sến, Táu, Mật, Đinh, Gõ, Pơ Mu và các loại
động vật quý hiếm như Voi, Hổ, Báo, Vượn Đen, Sao La.
Động vật có tới 60 loài thú, 187 loài chim, 38 loài bò sát.
Hà Tĩnh còn có rừng Quốc gia Vũ Quang và Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ. Ở
đây, diện tích rừng nguyên sinh chiếm trên 60%, có nhiều động thực vật quý hiếm có
giá trị cao cho du lịch, nghiên cứu khoa học.
Tài nguyên biển.
Hà Tĩnh có 137 km bờ biển, chạy dài từ Cửa Hội (Nghi Xuân) đến Đèo Ngang
(Kỳ Anh). Biển Hà Tĩnh có 267 loài cá, thuộc 97 họ trong đó có 60 loài có giá trị kinh
tế cao, trữ lượng khá (như Tôm Hùm, Sò Huyết )
Theo số liệu điều tra cơ bản của Viện nghiên cứu hải sản Trung ương, tiềm
năng về hải sản ở biển Hà Tĩnh như sau:
Bảng 1.2. Tiềm năng khai thác hải sản tỉnh Hà Tĩnh
Trữ lượng cá 85.856 tấn (mới cho phép khai thác 54.000
8
tấn/năm)
+ Cá đáy 44.770 tấn
+ Cá nổi 41.086 tấn
- Trữ lượng Tôm vùng lộng 500 - 600 tấn
- Trữ lượng Mực vùng lộng 3.000 - 3.500 tấn.
- Hà Tĩnh có 4 cửa sông chính và nhiều cửa lạch đã tạo ra diện tích mặt nước lợ
gần 6.000 ha, có cấu trúc đất đai, độ mặn phù hợp với sự phát triển nuôi tôm, cua,
trồng rau câu …Ngoài ra, Hà Tĩnh còn có nhiều diện tích sông suối, có trên 12.000 ha
nước ngọt cung cấp cho sinh hoạt và nuôi cá nước ngọt. Hiện nay, tiềm năng mới chỉ
khai thác được vào khoảng 17% mặt nước lợ, 10% mặt nước ngọt.
- Bờ biển Hà Tĩnh còn có nhiều tiềm năng về khoáng sản như cát quặng và xây
dựng các cảng giao lưu với quốc tế. Biển còn có khả năng phát triển các bãi nghỉ
dưỡng có giá trị về kinh tế. Hiện nay đã hình thành và xây dựng khu nghỉ dưỡng Thiên
Cầm, Xuân Thành, Thạch Hải, Đèo Con,…Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng phát triển vận

+ Đá có ở hầu hết khắp nơi trong tỉnh tập trung nhất là ở Kỳ Anh, Thạch Hà và
Hương Sơn, có trữ lượng khoảng 1,1 tỷ m
3
, thuộc loại cứng, chỉ số mài mòng của là
0,159 g/cm
3
có độ kháng ép rất cao, từ 1600 – 1700 kg/cm
3
. Ngoài ra, Hà Tĩnh còn có
các loại khoáng sản khác như: Cát, Sỏi, Đá các loại (chủ yếu là đá hoa cương) là
nguồn lợi lớn cho nền kinh tế của tỉnh. Nhiều loại khoáng sản khác vẫn chưa được
khảo sát địa chất như: Mangan, đá quý, than bùn,…
9
1.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.6. Dân số và lao động
Dân số tỉnh Hà Tĩnh tính đến 31/12/2007 có 1.280.549người, trong đó dân số
nông thôn chiếm 89,03%, (cả nước là 74%). Mật độ dân số trung bình là 214
người/km
2
, cao hơn trung bình toàn vùng Bắc Trung bộ (203 người/km
2
), nhưng thấp
hơn trung bình cả nước (246 người / km
2
).
Năm 2007, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh là 6,99%, trong đó thành thị
là 8,98%, nông thôn là 6,71%. Với tốc độ tăng dân số nêu trên kết hợp với tăng dân số
cơ học tại các đô thị của Hà Tĩnh, hiện nay mật độ dân số đang có sự chênh lệch đáng
kể giữa thành thị và nông thôn. Cụ thể: mật độ dân số cao nhất tại thành phố Hà Tĩnh
là 1.399 người/km2, mật độ dân số thấp nhất tại huyện Hương Khê là 84 người/km2.

tăng 0,5%, đàn lợn tăng 4,3%, đàn gia cầm tăng 5,3% so với năm 2006; tỷ trọng bò
Zêbu đạt 12% tổng đàn, tỷ lệ lợn nái ngoại 12%. Tỷ trọng chăn nuôi đạt 36,6% trong
giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.
Bảng 1.3. Diễn biến đàn vật nuôi tỉnh Hà Tĩnh
ĐVT: nghìn con

Trâu -
Buffaloes
Bò -
Cattles
Lợn -
Pigs
Ngựa -
Horses
Dê -
Goats
Hơu -
Deer
Gia cầm -
Poultry
2002 101.0 146.5 400.2 0.2 13.6 4.2 3571
2003 104.8 156.9 473.3 0.1 14.6 8.5 4631
2004 109.0 167.6 466.4 0.1 17.4 10.2 4829
2005 115.0 186.2 452.9 0.1 20.4 11.5 4976
2006 109.2 210.7 405.0 0.2 21.4 12.1 4158
2007 109.7 210.1 422.6 0.2 23.9 14.8 4379
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh,2008
Công tác bảo vệ, khoanh nuôi, trồng và tái sinh rừng đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra;
diện tích rừng trồng mới đạt 6.300 ha, trong đó rừng phòng hộ 900 ha, rừng sản xuất
5.400 ha. Độ che phủ rừng đạt 44,5% (giảm 1,5% so với năm 2006 do thiệt hại bão số

Công nghiệp
Hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển. Năm 2007, giá
trị sản xuất công nghiệp đạt 1.390 tỷ đồng, đạt 99% kế hoạch và tăng 22% so với năm
2006. Trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước tăng 40%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước
tăng 7% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 70% so với năm 2006. Giá
trị tăng thêm đạt 746 tỷ đồng, tăng 16,5%. Các ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm, ngành luyện kim đang được chú ý phát triển như: chế biến thuỷ sản, sản xuất
bia và nước giải khát, khai thác mỏ sắt và luyện cán thép, Sau đây là biểu đồ thể hiện
giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh) trong các năm từ 2003 đến 2007.
12
702112
885664
1054021
1203493
1415791
0
200000
400000
600000
800000
1000000
1200000
1400000
1600000
N¨m 2003 N¨m 2004 N¨m 2005 N¨m 2006 N¨m 2007
Hình 1.3. Biểu đồ thể hiện giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh.
Hoạt động của ngành công nghiệp khai thác khoáng sản:
Năm 2007, giá trị sản xuất của ngành công nghiệp khai thác đạt 588.540 triệu
đồng, tăng 178.072 triệu đồng so với năm 2006, đây là mức tăng rất lớn của ngành này
trong nhiều năm qua. Trong đó, ngành khai thác quặng kim loại có tăng trưởng khá,

Tài nguyên nước ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, gồm cả nguồn nước
mặt và nước ngầm ở các thủy vực tự nhiên và nhân tạo như sông, suối, hồ tự nhiên, hồ
nhân tạo (hồ chứa), giếng khơi, hồ đập, ao, đầm phá và các túi nước ngầm. Theo
Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 (BTNMT, 2005) Việt Nam có
khoảng 2.372 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông
chính. Trong số này, có 9 con sông (sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang -
Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai và
sông Cửu Long) và 4 nhánh sông (sông Đà, sông Lô, sông Sê San, sông Srê Pok) đã
tạo nên một vùng lưu vực trên 10.000 km
2
, chiếm khoảng 93% tổng diện tích của
mạng lưới sông ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam có rất nhiều các loại hồ tự nhiên,
hồ đập, đầm phá, vực nước có kích thước khác nhau tùy thuộc vào mùa. Một số hồ lớn
được biết đến như hồ Lăk (rộng khoảng 10 km
2
ở Đắk Lắk), Biển Hồ (rộng 2,2km
2

Gia Lai),
hồ Ba Bể (rộng 5km
2
ở Bắc Kạn) và hồ Tây (rộng 4,5 km
2
ở Hà Nội). Các
đầm phá lớn thường
gặp ở cửa sông vùng duyên hải miền Trung như Tam Giang, Cầu
Hai và Thị Nại.
Việt Nam còn có hàng ngàn các hồ đập nhân tạo với tổng sức chứa lên đến
26 tỷ m
3

đã cung cấp các quy định về quản lý, điều hành, lưu trữ, khai thác và sử dụng tài
nguyên nước trên toàn quốc. Sự thay đổi về thể chế trong quản lý tài nguyên nước đã
khuyến khích được quá trình phi tập trung hóa và đẩy mạnh sự tham gia rộng rãi của
các thành phần ngoài nhà nước trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước,
đặc biệt là cung cấp nước sinh họat và nước tưới tiêu.
Theo luật này, tài nguyên nước ở Việt nam thuộc sở hữu toàn dân và được nhà
nước thống nhất quản lý nhằm đảm bảo tất cả mọi người có quyền hưởng lợi từ các
nguồn nước. Hiện tại Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao trách
nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước nói chung, trong khi Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, Bộ Thủy sản và Bộ Công nghiệp có trách nhiệm quản lý tài
nguyên nước theo hoạt động của ngành, cho các mục đích tương ứng như thủy lợi,
nuôi trồng thủy sản và sản xuất thủy điện.
Gần đây, cách tiếp cận quản lý tài nguyên nước tổng hợp và dựa trên lưu vực đã
được đẩy mạnh ở Việt nam. Về nguyên tắc, tài nguyên nước không chỉ được xem như
là “tài sản chung” mà còn là “hàng hóa có giá trị thương mại và kinh tế”. Do đó,
Chính phủ đã áp dụng một số cơ chế nhằm tăng cường hiệu quả và hiệu lực quản lý
nước ở các khía cạnh khác nhau về chính sách, kỹ thuật thực hiện, năng lực và cơ sở
hạ tầng.
Kinh nghiệm quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam đã ghi nhận và đánh giá cao
vai trò quan trọng của các cộng đồng địa phương với tư cách vừa là người trực tiếp sử
dụng nước, đồng thời vừa là người quản lý và bảo vệ tài nguyên nước. Quản lý bởi
cộng đồng hay quản lý dựa vào cộng đồng đã được giới thiệu và áp dụng ở nhiều vùng
theo các cách khác nhau trong lĩnh vực cấp nước sinh họat và thủy lợi. Mặc dù còn có
nhiều bất cập về mặt pháp luật, thể chế và năng lực, nhưng cộng đồng địa phương đã
chứng minh được rằng tài nguyên nước sẽ được quản lý tốt hơn nếu có sự tham gia
của cộng đồng trong quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, cho đến nay có rất ít nghiên
cứu hoặc đánh giá toàn diện về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt
nam. Chính điều này đã hạn chế nỗ lực phát triển và quảng bá hiểu biết và dẫn chứng
15
về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng của Việt Nam cũng như thúc đẩy việc

công bố ngưỡng giới hạn khai thác nước đối với các sông và các tầng chứa nước, khu
vực dự trữ, khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất; hướng dẫn, kiểm tra việc thực
hiện sau khi được ban hành; tổ chức thực hiện giám sát việc khai thác, sử dụng tài
nguyên nước.
Lập kế hoạch điều hoà, phân bổ tài nguyên nước giữa các ngành, các địa
phương theo vùng lãnh thổ và trong phạm vi cả nước; tổ chức việc thực hiện sau khi
được phê duyệt.
Thực hiện việc cấp, thu hồi giấy phép trong lĩnh vực tài nguyên nước; hướng
dẫn, kiểm tra việc thực hiện cấp phép trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với các địa
phương.
Thực hiện các chương trình, đề án, dự án đối với lĩnh vực tài nguyên nước;
đánh giá, nghiệm thu, tổng hợp kết quả thực hiện; lưu trữ hồ sơ kết quả thực hiện.
Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế, chính sách, thuế, phí, lệ
phí; xác định các nguồn thu và các hình thức ưu đãi kinh tế liên quan đến khai thác, sử
dụng và bảo vệ tài nguyên nước; hướng dẫn, kiểm tra sau khi được ban hành.
Thẩm định các quy hoạch chuyên ngành về khai thác, sử dụng nước, các dự án
chuyển nước giữa các lưu vực sông do các Bộ, ngành, địa phương xây dựng.
Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ về tài nguyên nước; xây dựng,
duy trì hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước; thông báo tiềm
năng các nguồn nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ để các ngành, các địa phương xây
dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng nước.
17
Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ công tác quản lý tài nguyên nước cho các
địa phương; kiểm tra các tổ chức, cá nhân trongviệc thực hiện các quy định của pháp
luật về tài nguyên nước.
Phối hợp với Thanh tra Bộ thực hiện thanh tra chuyên ngành về tài nguyên
nước.
Triển khai thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc gia nhập trong lĩnh vực tài nguyên nước; thực hiện các dự án hợp tác
quốc tế, đề tài nghiên cứu khoa học, chương trình, dự án, đề án liên quan đến tài

đó có:
18
03 danh nghiệp thuộc tỉnh quản lý: Công ty QLKTCTTL Kẻ Gỗ, Linh Cảm,
Sông Rác.
04 Doanh nghiệp thuộc huyện quản lý đó là: Công ty KTCTTL Can Lộc, Hồng
Lam, Công ty KT&XDCTTL Hương Khê, Xí nghiệp KTCTTL Hương Sơn
Tại các địa phương chủ yếu có 4 loại hình
Mô hình thủy nông do UBND xã đứng ra quản lý điều hành
Mô hình tổ đội thủy nông ) do thôn, xóm tự quản lý
Mô hình HTX dịch vụ tổng hợp
Mô hình Hội sử dụng nước
1.4. CỦNG CỐ BỘ MÁY QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN
NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
2.1.3. Các định nghĩa về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng là một khái niệm rộng và đa
nghĩa theo tính ứng dụng của nó trong thực tiễn, đề cập sự tham gia của các cộng đồng
có lợi ích liên quan trong quản lý tài nguyên đất và nước, rừng và động vật hoang dã
và nguồn lợi thủy sản. Theo Trung tâm Nước và Vệ sinh Quốc tế (2003) khái niệm về
sự tham gia của cộng đồng trong sử dụng nước lần đầu tiên được giới thiệu chính thức
tại Hội nghị Thế giới về Nước năm 1977 ở Achentina cho chương trình quốc tế Thập
kỷ về cung cấp nước sạch và vệ sinh trong những năm 1980. Sau đó, ý tưởng về quản
lý nước bởi cộng đồng và phi tập trung hóa trong cấp nước tiếp tục được thử nghiệm,
củng cố và lan rộng trong thập kỷ 1990, đặc biệt là ở các nước đang phát triển sau
các sự kiện Hội nghị tư vấn toàn cầu về nước sạch tổ chức ở New Delhi (1990) và
Tuyên bố Dublin về nước và phát triển bền vững (1992) và Hội nghị thượng đỉnh về
Trái đất ở Rio de Janiero (1992). Gần đây, một trong 6 tuyên bố chính thức của Hội
nghị quốc tế về nước ngọt ở CHLB Đức (2001) đã xác nhận tầm quan trọng của quản
lý dựa vào cộng đồng rằng: “Phi tập trung hóa là cốt lõi. Địa phương là nơi để
chính sách quốc gia đáp ứng nhu cầu của cộng đồng”.
Nguyên tắc cốt lõi của quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng, dù tồn tại

công giá rẻ” hoặc là “chia sẻ chi phí”, hoặc tham gia để xây dựng quyết định dựa trên
sự đồng thuận đến chuyển giao trách nhiệm và quyền để kiểm soát hệ thống tại địa
phương.
2.1.4. Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt nam
Chính sách và thể chế:
Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam đã có
lịch sử từ lâu, đặc biệt là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ - nơi hằng năm lũ lụt
từ sông Hồng và sông Mê Kông thường gây ra thiệt hại cho người, tài sản, mùa
màng và đất đai. Nhờ sự tham gia của cộng đồng, hàng ngàn đê, đập, hồ chứa nước
nhân tạo, kênh mương và giếng làng đã được xây dựng ở nhiều nơi. Tuy nhiên, bản
chất của sự tham gia của cộng đồng trong quản lý nước có sự khác biệt tương ứng với
điều kiện kinh tế xã hội, môi trường thể chế chính trị và tổ chức xã hội của đất nước ở
từng giai đoạn.
Kể từ khi Việt Nam bắt đầu quá trình chuyển đổi kinh tế (còn gọi là quá
trình Đổi Mới) năm 1986, Chính phủ đã liên tục đề cao sự tham gia và đóng góp
của cộng đồng và các ngành trong mọi lĩnh vực phát triển của đất nước, kể cả khai
thác, sử dụng, xử lý, cung cấp và bảo vệ nguồn nước. Điều này được biết đến dưới
khái niệm “xã hội hóa” như là một phương châm hành động với khẩu hiệu “Nhà nước
và nhân dân cùng làm”. Tuy nhiên, vấn đề chuyển giao đầy đủ trách nhiệm quản lý
nước cho cộng đồng thì hầu như chưa được xem xét đến.
Luật Tài nguyên Nước của Việt nam lần đầu tiên được ban hành vào năm1998.
Về vấn đề sở hữu, Luật này quy định tài nguyên nước là tài sản của tất cả mọi người
và được Nhà nước thống nhất quản lý (Điều 1). Điều này có nghĩa nước là tài sản
chung. Luật cũng quy định mọi tổ chức hoặc cá nhân đều có quyền khai thác và sử
20
dụng tài nguyên nước cho đời sống và sản xuất, đồng thời họ cũng phải có trách
nhiệm bảo vệ tài nguyên nước. Tuy nhiên, trong luật này không có từ nào nhắc đến
“sự tham gia của cộng đồng” hoặc “quản lý bởi cộng đồng” đối với tài nguyên nước.
Điều 4 của luật có quy định “Chính phủ sẽ thực hiện quản lý thống nhất về mặt Nhà
nước đối với tài nguyên nước và tất cả các hoạt động bảo vệ, khai thác và sử dụng

đầu những năm 1990 sau khi Chính phủ chính thức quyết định chuyển giao quyền
sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình thông qua chính sách “Khoán 10”. Quản
lý thủy lợi có sự tham gia là một phương pháp hiệu quả cho quản lý tài nguyên nước
có sự tham của người dân, bởi vì các cộng đồng hưởng lợi sẽ cùng tham gia với tư
cách là người sử dụng nước, người quản lý và bảo vệ nguồn nước, nhất là đối với các
hệ thống tưới tiêu quy mô nhỏ. Về mặt thể chế tổ chức, các đánh giá gần đây đã xác
định có 3 mô hình quản lý thủy lợi có sự tham gia của cộng đồng, bao gồm: 1) mô
21
hình tổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý; 2) mô hình chia sẻ quản lý giữa tổ
chức nông dân và một tổ chức có liên quan đến nhà nước; và 3) mô hình tổ chức cộng
đồng tự quản lý. Đánh giá này đã khẳng định sự tham gia của nông dân ngày càng
tăng trongquá trình ra quyết định đã dẫn đến các mô hình quản lý thực hiện ngày càng
tốt hơn. (Trần Chí Trung et al 2002).
Mô hình tổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý
Mô hình này tồn tại ở các xã Bắc Thành, Trung Thành, Xuân Thành và Long
Thành của huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ở những xã này, các tổ chức nông dân
như Hợp tác xã sử dụng nước hay hợp tác xã nông nghiệp đã được thành lập để phối
hợp với Công ty Thuỷ nông Bắc Nghệ An (là công ty dịch vụ của nhà nước) để cung
cấp dịch vụ thuỷ lợi cho các hộ gia đình (Bộ NN-PTNT, 2004).
Việc quản lý và phân phối nước trong địa bàn được giao cho tận cơ sở theo
hướng quản lý phi tập trung. Công ty thuỷ lợi có trách nhiệm quản lý các trạm (bơm)
đầu mối, các tuyến kênh cấp 2 và một số tuyến kênh cấp 3 để cung cấp nước tưới cánh
đồng rộng trên 500ha, gồm cả việc duy tu định kỳ và bảo vệ các công trình khỏi sự
xâm phạm và phá hoại. Công ty này có trách nhiệm cấp nước từ trạm đầu mối đến các
kênh cấp 3 và chuyển giao cho các hợp tác xã nông nghiệp hoặc hợp tác xã sử dụng
nước để phân phối và dẫn nước vào đồng ruộng.
Các hợp tác xã nông nghiệp hoặc hợp tác xã sử dụng nước được thành lập theo
Luật Hợp tác xã. Mô hình hợp tác xã nông nghiệp phù hợp với địa phương nơi có các
công trình thủy lợi được bố trí ngay tại một xã hoặc một làng. Mô hình hợp tác xã sử
dụng nước, ví dụ như hợp tác xã N4B và N6, lại phù hợp cho việc quản lý và khai thác

• Chính quyền địa phương hỗ trợ chưa đầy đủ và chưa tạo điều kiện thuận lợi;
• Việc thể chế hoá nhằm hỗ trợ tiếp cận có sự tham gia còn bất cập;
• Năng lực quản lý và vận hành của các nhà quản lý còn hạn chế;
• Cơ sở hạ tầng còn yếu kém;
• Mức độ hiểu biết và nhận thức của nông dân còn hạn chế;
• Hệ thống sản xuất quy mô nhỏ và phân tán;
• Chiến lược tích hợp vấn đề giới chưa hiệu quả;
• Chức năng quản lý và vận hành bị chồng chéo giữa hợp tác xã sử dụng nước
và chính quyền địa phương (ví dụ: UBND xã); và
• Hợp tác xã sử dụng nước còn yếu về cả tầm quản lý và tài chính.
23
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ tác động đến mọi mặt kinh tế xã hội của người
dân Hà Tĩnh, đặc biệt là đối với tài nguyên nước.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status