Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở tỉnh Phú Thọ - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
&
NGUYỄN THỊ THỊNH
NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC
LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 62.31.05.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ
HÀ NỘI - NĂM 2015
1
Luận án được hoàn thành tại
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Thông
PGS.TS. Hoàng Phúc Lâm

Phản biện 1: GS TS. Trương Quang Hải
Viện Việt Nam học và KHPT - Trường ĐHQG Hà Nội.
Phản biện 2: PGS.TS. Trần Viết Khanh
Trường Đại học Thái Nguyên.
Phản biện 3: PGS.TS. Hoàng Văn Chức
Học viện Chính trị HCQG Hồ Chí Minh.
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại:
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Vào hồi: giờ, ngày tháng năm 2015
Có thể tìm đọc luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
2
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1. Các đề tài nghiên cứu khoa học

3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của xã hội. Trong tiến
trình CNH, HĐH, TCLTCN có vai trò lớn đối với sự phát triển công nghiệp nói
riêng và việc sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn lực phát triển của lãnh thổ nói
chung. Các hình thức TCLTCN được phát triển và phân bố hợp lí sẽ tạo nên không
gian công nghiệp hợp lí.
Tỉnh Phú Thọ có lịch sử phát triển công nghiệp khá lâu đời, ngành công nghiệp
đã phát triển ở một mức độ nhất định. Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp đạt
9087,9 tỉ đồng, chiếm 33% GDP của tỉnh. Trên địa bàn tỉnh, có nhiều hình thức
TCLTCN đã và đang hình thành, bao gồm điểm công nghiệp, CCN, KCN và trung
tâm công nghiệp. Tuy nhiên, trong các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ còn
nhiều vấn đề còn tồn tại như số lượng, chất lượng và sự phân bố chênh lệch trong
không gian lãnh thổ. Đối với ngành công nghiệp của Phú Thọ, phát triển công nghiệp
phải tiến hành cả ở khía cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ. Trong đó, về mặt lãnh thổ,
cần nghiên cứu các hình thức TCLTCN, tìm ra những ưu điểm và hạn chế trong việc
phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn
thiện các hình thức TCLTCN, thực hiện mục tiêu CNH, HĐH của tỉnh. Vì vậy, thực
hiện đề tài luận án “Nghiên cứu các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ” là cần thiết.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Nước ngoài
TCLTCN cùng với các hình thức của nó đã được nghiên cứu ở các góc độ khác
nhau. Lịch sử nghiên cứu các hình thức TCLTCN có thể đề cập đến các công trình
nghiên cứu của Alfred Weber (1909) về định vị công nghiệp; Alfred Marshall (1920)
về quận công nghiệp, Walter Isard (1960) về thể tổng hợp công nghiệp, Allen Scott
(1988) về "không gian công nghiệp mới”, Markusen (1996) nghiên cứu về CCN. Gần
đây, báo cáo Hội nghị khu vực Châu Âu và Trung Á được tổ chức bởi UNIDO đã tập
hợp ý kiến của 60 đại biểu, diễn giả, đại diện cấp cao và chuyên gia quốc tế bàn về
KCN. Địa lí Liên Xô và Đông Âu trước đây với các tác giả như X.Xlavev (1977),

Về nội dung: dưới góc độ địa lí học, đề tài nghiên cứu các hình thức TCLTCN ở
tỉnh Phú Thọ gồm điểm công nghiệp, CCN, KCN tập trung, trung tâm công nghiệp,
trong đó đi sâu nghiên cứu trung tâm công nghiệp Việt Trì; Về thời gian: sử dụng
chuỗi số liệu chủ yếu từ năm 2000 đến năm 2012, định hướng đến năm 2020; Về
không gian lãnh thổ: đề tài nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ là tỉnh Phú Thọ, có chú
ý liên hệ với một số tỉnh lân cận và vùng TDMNPB.
4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Quan điểm nghiên cứu
4.1.1. Quan điểm hệ thống
Các hình thức TCLTCN tỉnh Phú Thọ đặt trong mối quan hệ với các hình thức
TCLTCN ở vùng TDMNBB, các hình thức TCLTCN của cả nước và trong mối quan
hệ với tổ chức lãnh thổ ngành nông nghiệp, ngành dịch vụ. Trong hệ thống đó, các
hình thức TCLTCN của tỉnh Phú Thọ được hình thành và phát triển.
4.1.2. Quan điểm lãnh thổ
Các hình thức TCLTCN của tỉnh Phú Thọ cần được xem xét thấu đáo trong
phạm vi lãnh thổ tỉnh Phú Thọ, với sự ảnh hưởng riêng biệt của các nhân tố tự nhiên
và nhân tố kinh tế - xã hội cụ thể.
4.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Trong nghiên cứu đề tài này, quan điểm lịch sử - viễn cảnh được sử dụng để tìm
hiểu và nhận định những biến đổi của các hình thức TCLTCN của tỉnh Phú Thọ theo
thời gian đã diễn ra, đang diễn ra.
4.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Công nghiệp của tỉnh Phú Thọ càng phát triển thì sự tác động vào thiên nhiên
càng nhiều. Vì thế, việc xem xét sự phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN của
tỉnh Phú Thọ cần chú ý tránh các tác động tiêu cực đến hệ sinh thái ở xung quanh
không gian tồn tại của các hình thức đó, giảm thiểu ô nhiễm và tránh làm tổn hại
đến môi trường.
4.1.5. Quan điểm thị trường
Nghiên cứu các hình thức TCLTCN dựa trên quan điểm thị trường là yêu cầu tất
yếu. Quan điểm thị trường vận dụng trong nghiên cứu các hình thức TCLTCN xác

vận dụng vào tỉnh Phú Thọ. Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình
thành và phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ với các thế mạnh và
hạn chế cụ thể. Đánh giá được thực trạng các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ.
Đưa ra được định hướng và đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm góp phần
hoàn thiện các hình thức TCLTCN ở địa bàn nghiên cứu trong tương lai.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận án chia thành
các chương: Chương 1- Cơ sở lí luận và thực tiễn về các hình thức TCLTCN;
Chương 2 -Những nhân tố ảnh hưởng đến các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ;
Chương 3-Thực trạng các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ; Chương 4- Định
hướng và giải pháp phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC HÌNH
THỨC
TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Các lí thuyết có liên quan
1.1.1.1. Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ.
3
Việc hình thành chuyên môn hóa sản xuất của từng vùng là kết quả của một quá
trình kinh tế - xã hội. Quá trình này được gọi là phân công lao động theo lãnh thổ.
Trong quá trình phân công lao động theo lãnh thổ, chức năng của các địa phương, các
điểm, các xí nghiệp khác nhau được phân hóa ra.
1.1.1.2. Tổ chức lãnh thổ
Tổ chức lãnh thổ (hay tổ chức không gian) đã nhận được sự quan tâm của nhiều
nhà khoa học, ở nước ngoài như Morrill (1970); Jean Paul De Gaudemar (1992);
trong nước có GS. Lê Bá Thảo và nhiều nhà khoa học khác. Tổ chức lãnh thổ được
xem như nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách và có hiệu quả.
1.1.1.3. Lí thuyết định vị công nghiệp
Lý thuyết định vị công nghiệp do Alfred Weber công bố vào năm 1909. Weber
đã tính đến một số yếu tố không gian trong việc tìm kiếm các địa điểm tối ưu và chi

lí có thẩm quyền quyết định thành lập.
c. Khu công nghiệp tập trung: là một khu vực có ranh giới xác định với những
thế mạnh về vị trí địa lí, về tự nhiên, kinh tế để thu hút đầu tư, hoạt động với cơ cấu
4
hợp lí giữa các DN công nghiệp và dịch vụ có liên quan thuộc nhiều thành phần kinh
tế nhằm đạt hiệu quả cao của từng DN nói riêng và tổng thể cả KCN nói chung.
d. Trung tâm công nghiệp: Ở Việt Nam, hình thức này gắn với các đô thị vừa và
lớn. Mỗi trung tâm công nghiệp có thể bao gồm một số hình thức TCLTCN. Mỗi
trung tâm có một (hoặc một số) ngành công nghiệp là hạt nhân. Hướng chuyên môn
hóa của trung tâm thường do các ngành (xí nghiệp) được hình thành dựa trên những
lợi thế so sánh (về vị trí, nguồn lực, lao động…) quyết định.
e. Vùng công nghiệp: bao gồm một số khu vực tương đối rộng lớn trên phạm vi
nhiều tỉnh có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí, hạ tầng, nhân lực, kinh tế, xã hội
1.1.4. Nhân tố ảnh hưởng tới các hình thức tổ chức lãnh
thổ công nghiệp
1.1.4.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ: ảnh hưởng đến các hình thức TCLTCN
được biểu hiện theo hai hướng: thúc đẩy (ảnh hưởng tích cực) và cản trở tiến trình
phát triển hoặc tạo ra những nhân tố không bền vững trong sự phát triển các hình thức
TCLTCN (ảnh hưởng tiêu cực).
1.1.4.2. Nhân tố kinh tế - xã hội
a. Dân cư, lao động: Dân cư, lao động có vai trò to lớn đối với các hình thức
TCLTCN. Trước hết, quy mô và cơ cấu dân số tạo thành thị trường tiêu thụ các sản
phẩm công nghiệp, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các DN trong các hình thức
TCLTCN. Đồng thời, tập quán sản xuất, trình độ dân trí, quy mô lao động và chất
lượng nguồn lao động là nhân tố quan trọng để phát triển các hình thức TCLTCN.
b. Khoa học công nghệ: Tiến bộ KHCN làm nảy sinh những nhu cầu mới, đòi
hỏi xuất hiện một số ngành công nghiệp mới đáp ứng nhu cầu, qua đó mở ra triển
vọng phát triển của các hình thức TCLTCN mới.
c. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật: có thể là tiền đề thuận lợi hoặc cản
trở sự phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN. Thông thường, sự phát triển hệ

Do phạm vi nghiên cứu cấp tỉnh, đề tài tập trung đánh giá trung tâm công nghiệp
với các nhóm chỉ tiêu về vốn đầu tư, lao động và cơ sở vật chất kỹ thuật và hiệu quả
sản xuất, kinh doanh.
1.1.5.2. Cho điểm và xếp hạng
Các chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng hơn cả, có trọng số là 3, bao gồm các chỉ tiêu:
tổng vốn đầu tư, GTSX công nghiệp, doanh thu, lợi nhuận, tổng GTXK và đóng góp
cho ngân sách nhà nước. Các chỉ tiêu về tổng số lao động, tài sản cố định có trọng số
là 2. Các chỉ tiêu thuộc nhóm số liệu còn lại đều có trọng số là 1.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt
Nam
1.2.1.1. Khái quát về ngành công nghiệp
Công nghiệp Việt Nam có sự chuyển biến cả về cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và
cơ cấu thành phần kinh tế trong giai đoạn từ 2000 - 2012. Sản xuất công nghiệp giai
đoạn 2000 - 2012 phát triển nhanh, GTSX trung bình năm đạt 14,9%/năm. Năm
2012, GTSX công nghiệp của Việt Nam đạt 46277,3 nghìn tỉ đồng.
1.2.1.2. Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam
Các hình thức TCLTCN ngày càng phát triển đa dạng. Điểm công nghiệp là hình
thức TCLTCN được hình thành sớm ở Việt Nam, chủ yếu có quy mô nhỏ, như điểm
công nghiệp chế biến cà phê (Tây Nguyên) Đến năm 2012, có 878 CCN với tổng diện
tích đất là 32481 ha. CCN ngày càng có vai trò lớn đối với phát triển công nghiệp nước
ta, đặc biệt là công nghiệp nông thôn. Hình thức KCN tập trung phát triển mạnh ở Việt
Nam khoảng hơn 15 năm trở lại đây. Các KCN tập trung ở 2 vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc và phía Nam, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố như: Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh,
TP.Hà Nội Nước ta cũng đã hình thành các trung tâm công nghiệp. Các trung tâm công
nghiệp lớn, có vai trò đầu tàu trong quá trình CNH là: TP.Hồ Chí Minh (24,1% GTSX
công nghiệp cả nước), TP.Hà Nội (9,0 %), TP.Vũng Tàu (7,7%)…Việt Nam hiện có 6
vùng công nghiệp. Vùng Đông Nam bộ và đồng bằng sông Hồng chiếm hơn 70% GTSX
công nghiệp cả nước.
1.2.2. Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp vùng

nghiệp nhằm góp phần đánh giá hiện trạng các hình thức TCLTCN tỉnh Phú Thọ.
CHƯƠNG 2. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC HÌNH THỨC
TỔ CHỨC LÃNH THỔ Ở TỈNH PHÚ THỌ
2.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng MNTDPB, có 13 huyện, thành, thị với 273 xã,
phường. TP.Việt Trì là trung tâm chính trị, kinh tế- xã hội của tỉnh. Tỉnh Phú Thọ là
nơi trung chuyển, kết nối giữa nhiều tỉnh trong vùng TDMNPB với đồng bằng sông
Hồng. Cùng với một số thuận lợi về tự nhiên, tỉnh có điều kiện để xây dựng và phát
triển các hình thức TCLTCN như điểm công nghiệp, CCN…
2.2. Nhân tố kinh tế - xã hội
2.2.1. Dân cư, lao động
2.2.1.1. Dân cư
Dân cư tỉnh Phú Thọ với số dân khá đông (1340,8 nghìn người năm 2012) cùng
với truyền thống sản xuất, kinh nghiệm, tạo thị trường tiêu thụ nội tỉnh rộng rãi và sự
tin tưởng, yên tâm cho các DN đầu tư tại tỉnh, là động lực thúc đẩy sự ra đời của các
điểm, cụm và KCN.
2.2.1.2. Lao động
7
Tỉnh Phú Thọ có nguồn lao động đông và tăng nhanh, từ 727,5 nghìn người
(năm 2000) lên 864,4 nghìn người (năm 2012). Trình độ nguồn nhân lực và số người
tham gia học nghề được cải thiện, là nhân tố cần thiết để phát triển các hình thức
điểm công nghiệp và CCN trên địa bàn tỉnh. Tuy vậy, chất lượng lao động công
nghiệp của tỉnh chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu lao động phát triển công nghiệp.
2.2.2. Khoa học công nghệ
Nhiều DN đã tiến hành đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ kĩ thuật vào sản
xuất, đặc biệt là các công nghệ và thiết bị nhập từ nước ngoài nhằm đổi mới, HĐH
sản xuất, tạo sức phát triển mạnh mẽ cho các ngành công nghiệp, kích thích xây dựng
và phát triển các hình thức TCLTCN.
2.2.3. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
2.2.3.1. Cơ sở hạ tầng. Mạng lưới giao thông vận tải của tỉnh đã được cải thiện

2.2.6.2. Vốn đầu tư nước ngoài
8
Số lượng dự án và vốn đầu tư của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh
Phú Thọ năm 2012 là 89 dự án, với 65 dự án đang hoạt động. Ở tỉnh Phú Thọ, vốn
ĐTNN tập trung ở Việt Trì.
2.2.7. Thị trường
2.2.7.1. Thị trường nội tỉnh
Thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp của tỉnh Phú Thọ có tiềm năng lớn do
có dân số đông với hơn 1,3 triệu người.
2.2.7.2. Thị trường trong nước và quốc tế
a. Thị trường trong nước. Thị trường trong nước là thị trường tiềm năng tiêu thụ
hàng hóa, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy sự phát triển các hình thức
TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ. Các thị trường tiềm năng lớn gồm nhiều tỉnh trong vùng
MNTDPB và vùng đồng bằng sông Hồng.
b. Thị trường quốc tế. Thị trường nước ngoài đang rộng mở, là động lực thúc
đẩy sự phát triển của công nghiệp nói chung và các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú
Thọ nói riêng. Đó là sự mở rộng về thị trường xuất - nhập khẩu và thị trường cho
thuê cơ sở hạ tầng.
2.2.8. Nhân tố kinh tế - xã hội khác
2.2.8.1. Sự phát triển kinh tế
Tỉnh Phú Thọ có tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2000 - 2012 đạt
trên 10% năm. Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh như trên là một trong
những nguyên nhân quan trọng đưa đến các thành tựu tăng trưởng kinh tế khả quan,
tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp tạo ra lực thu hút, hấp dẫn các nhà đầu tư.
2.2.8.2. Làng nghề
Toàn tỉnh Phú Thọ hiện có 48 làng nghề ở 6 nhóm ngành nghề, trong đó nhóm
làng nghề chế biến và bảo quản nông sản có 23 làng. Hệ thống làng nghề cùng với
chính sách CNH, HĐH nông thôn của tỉnh Phú Thọ là cơ sở đẩy mạnh xây dựng và
phát triển các hình thức TCLTCN như điểm công nghiệp và CCN ở nông thôn.
2.2.8.3. Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng

phát triển nhiều điểm công nghiệp chế biến chế lâm sản, nguyên liệu giấy…
2.4. Đánh giá chung
2.4.1. Thuận lợi
Phú Thọ có vị trí trung tâm vùng TDMNPB, là cửa ngõ Tây Bắc của thủ đô Hà
Nội và là cấu nối vùng Tây Bắc với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Nằm trên
trục hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc) có nhiều thuận
lợi cả về giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy. Đây là điều kiện quan trọng để
hình thành các hình thức TCLTCN như điểm, cụm, KCN.
2.4.2. Khó khăn, thách thức
Với vị trí xa các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, tài nguyên thiên nhiên tuy
phong phú nhưng chất lượng và trữ lượng không cao, dân cư chủ yếu ở nông thôn và
miền núi, trình độ lao động không cao, tập quán tiêu dùng khó thay đổi, sản xuất
công nghiệp chưa gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, môi trường
đầu tư chưa thực sự cải thiện, chỉ số cạnh tranh không cao… Phú Thọ còn nhiều khó
khăn trong phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN.
Tiểu kết chương 2
Trong chương 2, các nhân tố kinh tế - xã như môi trường thể chế, chính sách, thị
trường và vốn đầu tư quyết định đến sự ra đời của các hình thức TCLTCN, các nhân
tố như dân cư, mạng lưới đô thị, lao động và các cơ sở vật chất kỹ thuật là điểm hấp
dẫn, thu hút đầu tư vào các hình thức TCLTCN, các nhân tố thuộc về cơ sở hạ tầng,
KHCN vừa là điều kiện, vừa là mục tiêu thu hút đầu tư phát triển trong các hình thức
TCLTCN. Các nhân tố thị trường ngoại tỉnh và đầu tư nước ngoài tạo ra cơ hội đẩy
nhanh tốc độ phát triển các hình thức TCLTCN, đặc biệt là ở các CCN, KCN. Các
nhân tố tự nhiên không gây ra cản trở quá lớn đối với các hình thức TCLTCN.
10
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH
THỔ
CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH PHÚ THỌ
3.1. Thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh Phú Thọ
3.1.1. Sơ lược về công nghiệp tỉnh Phú Thọ thời kỳ 1960 -

thổ công nghiệp
3.2.1. Khái quát về hình thức tổ chức lãnh thổ công
nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
Đến trước giai đoạn 1997 - 2000, tỉnh Phú Thọ có trung tâm công nghiệp Việt
Trì và các điểm công nghiệp phân bố đơn lẻ ở các huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Hạ
Hòa, Thanh Sơn, được hình thành từ những năm 60 của thế kỷ trước. Cùng với sự
phát triển của ngành công nghiệp, từ năm 1997 đến năm 2000, các hình thức
TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn này có bước chuyển biến mới, trong đó có sự ra
đời của hình thức KCN tập trung và CCN. Ngay sau khi ra đời KCN Thụy Vân, một
số CCN ra đời và thu hút được đầu tư công nghiệp như CCN Đồng Lạng.
3.2.2. Điểm công nghiệp
3.2.2.1. Quy mô và mật độ điểm công nghiệp
Năm 2012, số lượng điểm công nghiệp trên lãnh thổ tỉnh Phú Thọ có 253 điểm
công nghiệp. Các điểm công nghiệp phân bố nhiều ở các huyện Đoan Hùng (39 điểm)
Phù Ninh (30 điểm), Thanh Ba (37) Lâm Thao (24). Mật độ điểm công nghiệp trung
bình là 0,7 điểm/10km
2
. Các huyện có mật độ điểm công nghiệp thấp như Thanh Sơn,
Tân Sơn, Yên Lập, mật độ điểm công nghiệp trung bình thấp dưới mức trung bình
mật độ điểm công nghiệp của tỉnh. Đây là các huyện miền núi của tỉnh, giao thông
khó khăn, điều kiện phát triển công nghiệp không thuận lợi.
3.2.2.2. Quy mô lao động của điểm công nghiệp
Các điểm công nghiệp có khả năng giải quyết việc làm cho người lao động.
Tổng số lao động làm việc trong các điểm công nghiệp của tỉnh đến năm 2012 là
23499 người, chiếm 21,1% tổng số lao động trong ngành công nghiệp của tỉnh. Quy
mô lao động các điểm công nghiệp ở tỉnh Phú Thọ không lớn, trung bình chỉ sử dụng
93 lao động/điểm công nghiệp.
13
3.2.2.3. Loại hình ngành nghề của các điểm công nghiệp
Các điểm công nghiệp của tỉnh Phú Thọ chủ yếu gắn với công nghiệp khai

kết với các xí nghiệp khác. Phát triển các điểm công nghiệp đơn lẻ, phân tán dễ duy
trì tình tình trạng phát triển nhỏ lẻ, manh mún.
3.2.3. Cụm công nghiệp
3.2.3.1. Số lượng và quy mô diện tích
a. Số lượng CCN
Tỉnh Phú Thọ hiện có 25 CCN (gồm cả cụm quy hoạch và cụm đang hoạt động)
với tổng diện tích trên 1500 ha. Số CCN đi vào hoạt động tăng theo thời gian, đến
năm 2012, đã có 16 CCN được xây dựng và 15 CCN đi vào hoạt động.
b. Diện tích các cụm công nghiệp
Diện tích đất công nghiệp của các CCN ở tỉnh Phú Thọ không lớn. Đa số các
CCN ở tỉnh Phú Thọ có diện tích chủ yếu dưới 50ha.
3.2.3.2. Tình hình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
a. Các dự án đầu tư hạ tầng đã được duyệt
14
Năm 2012 đã có 07 cụm có dự án đầu tư hạ tầng được UBND tỉnh phê duyệt
(CCN Bạch Hạc, Phượng Lâu 2, Kinh Kệ - Hợp Hải, Nam Thanh Ba, TT.Hạ Hoà,
TT.Sông Thao, Sóc Đăng), 07 CCN trên được ngân sách trung ương cấp hỗ trợ với
tổng số tiền là 11 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Các CCN khác chủ yếu tự vận
động các nguồn kinh phí trong việc xây dựng hạ tầng.
b. Tình hình chủ đầu tư và tiến độ xây dựng hạ tầng
Ở tỉnh Phú Thọ, trừ CCN Đồng Lạng đã hoàn thành tương đối đủ các hạng mục
cơ bản, còn lại đa số các CCN đang trong thời gian xây dựng kết cấu hạ tầng. Một số
CCN có chủ đầu tư là đơn vị quản lí, một số cụm có chủ đầu tư do các DN tự đứng ra
xây dựng hạ tầng.
3.2.3.3. Tình hình thu hút đầu tư
a. Số dự án đầu tư
Do mới được hình thành và cơ sở hạ tầng ở các CCN còn đang trong quá trình
thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng. Số lượng các DN đăng kí đầu tư vào hoạt động
trong các CCN tăng lên theo thời gian nhưng mức tăng rất chậm. Đến năm 2012, có
82 dự án đăng kí sản xuất, kinh doanh trong các CCN. Trung bình mỗi năm chưa đến

05 dự án đầu tư và đã có 04 dự án được giao đất, xây dựng nhà máy và đi vào sản
xuất. Năm 2012 đã có 03 dự án đang sản xuất và 01 dự án đang triển khai san lấp mặt
bằng. Tổng diện tích đất đã cho thuê là 6,63ha
3.2.3.8. Nhận xét chung về hình thức cụm công nghiệp
a. Ưu điểm
Bước đầu, CCN tạo niềm hứng khởi mới cho các nhà quản lí và quy hoạch, tạo
một hướng đi mới tương đối phù hợp với tỉnh Phú Thọ. Số lượng CCN và các dự án
đầu tư ngày càng tăng. Các CCN hoạt động bước đầu đã tạo ra hiệu quả kinh tế - xã
hội, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho lao động địa phương. Cơ cấu ngành,
trong các CCN đang hoạt động khá đa dạng. Đã có những CCN bước đầu thu hút
được ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như CCN Cổ Tiết.
b. Hạn chế
Nhìn chung, do mới hình thành và bước đầu phát triển, nên hình thức CCN ở
tỉnh Phú Thọ chưa có những đặc trưng điển hình. Việc hình thành, phát triển và phân
bố các CCN còn thể hiện sự lộn xộn, mang tính phong trào, dàn, chưa phát triển chiều
sâu về công nghệ và hiệu quả kinh tế chưa cao.
c. Nguyên nhân
Các mặt hạn chế trong sự phát triển và phân bố CCN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
có thể được giải thích từ nhiều nguyên nhân khác nhau, môi trường đầu tư của tỉnh
nhìn chung chưa hấp dẫn, nguồn vốn để đầu tư xây dựng hạ tầng CCN rất hạn chế…
3.2.4. Khu công nghiệp tập trung
3.2.4.1. Lịch sử hình thành và mô hình quản lí nhà nước
KCN là hình thức TCLTCN mới ra đời so với hình thức điểm công nghiệp và
trung tâm công nghiệp ở tỉnh Phú Thọ. Lịch sử hình thành KCN ở tỉnh Phú Thọ gắn
với sự ra đời của KCN Thụy Vân vào năm 1997 theo quyết định của Thủ tướng
Chính phủ. KCN là hình thức TCLTCN quan trọng ở tỉnh Phú Thọ, được đặt dưới sự
quản lí trực tiếp của QLKCN tỉnh Phú Thọ
3.2.4.2. Quy mô và diện tích khu công nghiệp
a. Quy mô
Trong số các KCN đang hoạt động, KCN Thụy Vân có diện tích là 306 ha, lớn

năm 2012 đạt 5623 tỷ đồng, tăng gấp 13,4 lần so với năm 2005.
b. Giá trị xuất khẩu, nhập khẩu
Do GTSX tăng lên nên nhìn chung, tình hình xuất, nhập khẩu của các DN trong
KCN có chuyển biến tích cực hơn. GTXK, GTNK năm 2012 tăng so với năm 2005.
c. Đóng góp ngân sách
Các KCN ở tỉnh Phú Thọ có mức đóng góp ngân sách ngày càng tăng theo thời
gian, tuy nhiên mức tăng không cao.
3.2.4.6. Tình hình lao động trong khu công nghiệp
a. Quy mô lao động
Năm 2005, tổng số lao động trong KCN của tỉnh Phú Thọ là 5938 người. Năm
2010, tổng số lao động trong các KCN tại tỉnh Phú Thọ là 18 336 người, trong đó lao
động trong DN FDI là 15572 người chiếm 84,9 % tổng lao động trong các DN KCN,
số lao động trong các DN của Việt Nam là 2764 người chiếm 15,1%. Năm 2012, lao
động trong các KCN của tỉnh Phú Thọ là 21240 người, trong đó riêng KCN Thụy
Vân có 21126 lao động và sử dụng 17005 lao động làm việc cho các DN FDI.
b. Năng suất và thu nhập của lao động
Thu nhập bình quân của người lao động đạt 2,1 triệu đồng/người năm 2010 và
tăng lên 3,1 triệu đồng/người năm 2012. Năng suất lao động tính theo đầu người năm
2012 của các KCN ở tỉnh Phú Thọ đạt 268,3 triệu đồng/người.
3.2.4.6. Khu công nghiệp tiêu biểu
KCN Thụy Vân nằm ở phía Bắc thành phố Việt Trì. KCN này đã và đang có
nhiều bước phát triển vượt bậc so với những năm đầu thành lập. Năm 2005, KCN đã
thu hút 49 dự án đăng kí đầu tư xây dựng. Năm 2012, tại KCN Thụy Vân, đất công
nghiệp đã thuê là 160,36 ha, tương đương tỷ lệ lấp đầy 77,2%, với các ngành nghề
chủ yếu như dệt may, VLXD, điện tử, công nghiệp hóa chất, thực phẩm và một số
ngành khác. KCN Thụy Vân thu hút được tổng vốn đăng kí là 113,239 triệu USD.
3.2.4.7. Nhận xét chung
a. Ưu điểm
Các KCN đều tiếp cận thuận lợi với hệ thống giao thông vận chuyển, có khả
năng tiếp nối thuận lợi với hệ thống hạ tầng kĩ thuật bên ngoài như thông tin bưu

động tập trung đông nhất trong ngành công nghiệp chế biến, chiếm 94,2%, với 41236
người. Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế có xu hướng chuyển từ khu vực nhà
nước sang khu vực có vốn ĐTNN và khu vực ngoài nhà nước.
c. Giá trị tài sản cố định
Tổng giá trị tài sản cố định của công nghiệp ở trung tâm công nghiệp Việt Trì
năm 2012 đạt 11149 tỷ đồng, tăng so với năm 2010 (9789 tỷ đồng). Các ngành công
nghiệp có giá trị tài sản cố định lớn so với các ngành còn lại của trung tâm công
nghiệp Việt Trì là sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại, sản xuất các sản phẩm
từ kim loại đúc sẵn, sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastics, ngành dệt, may…
Các ngành công nghiệp có giá trị tài sản cố định thấp dưới 10 tỷ đồng gồm ngành in,
các ngành công nghiệp gắn với sửa chữa. So với toàn tỉnh, giá trị tài sản cố định của
trung tâm công nghiệp Việt Trì bằng 74,76% của tỉnh Phú Thọ
d. Mức trang bị tài sản cố định bình quân 1 lao động
Mức trang bị tài sản cố định bình quân 1 lao động của trung tâm công nghiệp
Việt Trì năm 2012 lớn hơn cả là các ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt và ngành
cung cấp nước. Đây là những ngành công nghiệp cơ bản phục vụ phát triển công
nghiệp và các hoạt động khác của trung tâm công nghiệp Việt Trì. Những ngành công
18
nghiệp như giấy, hóa chất có mức bình quân chung dao động từ 400-700 triệu
đồng/lao động. Còn lại, đa số các ngành công nghiệp có bình quân thấp.
3.2.5.3. Hiệu quả sản xuất, kinh doanh
a. Giá trị sản xuất công nghiệp
Năm 2000, GTSX công nghiệp của trung tâm công nghiệp Việt Trì đạt 3232,0 tỷ
đồng, chiếm 74,3% tổng giá trị công nghiệp của toàn tỉnh. Đến năm 2012, trung tâm
công nghiệp Việt Trì đạt 14950 tỷ đồng (giá thực tế), chiếm 46,3% GTSX công
nghiệp của toàn tỉnh.
b. Doanh thu
Doanh thu của trung tâm công nghiệp Việt Trì năm 2012 đạt 36928,4 tỷ đồng,
tăng nhưng không nhiều so với năm 2010 (35879,3 tỷ đồng).
c. Lợi nhuận

lao động đạt 11,19 triệu đồng/1 lao động. Tỉ lệ nộp ngân sách so với doanh thu của
trung tâm công nghiệp Việt Trì đạt 2,09%. Nhìn chung tỉ lệ này còn khiêm tốn.
3.2.5.4. Cho điểm, xếp hạng các ngành công nghiệp theo các chỉ tiêu đánh giá
19
Từ các chỉ tiêu đã nêu, dựa trên các số liệu thống kê của Chi cục thống kê
TP.Việt Trì, kết quả tổng hợp nhóm ngành công nghiệp có số điểm cao nhất (từ 500
điểm trở lên) gồm ngành giấy, hóa chất; cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ kim
loại đúc sẵn. Đây là những ngành dẫn đầu về các lợi thế về nguồn lao động, nguyên
vật liệu và có thị trường tiêu thụ rộng rãi xem phụ lục).
3.2.5.5. Sự phân bố trung tâm công nghiệp Việt Trì theo lãnh thổ
a. Phân hóa lãnh thổ công nghiệp
Phía Nam Việt Trì, các cơ sở sản xuất công nghiệp tập trung theo một chuỗi liên
hiệp các nhà máy, với tổng diện tích khoảng 120ha. Phía Tây Bắc có các xí nghiệp
của công ty Dệt Vĩnh Phú, Trung tu ô tô, cơ khí 20/7, in, dược, may mặc xuất
khẩu Phía Đông Bắc (khu vực phường Dữu Lâu) có một số nhà máy như đóng tàu
Sông Lô, nhà máy nước Dữu Lâu và một số nhà máy may. Phía nam (phường Bạc
Hạc) hiện có các xí nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu thuyền. Nhìn chung, theo lãnh thổ,
các cơ sở sản xuất công nghiệp của trung tâm công nghiệp được bố trí dọc theo sông
Hồng là chủ yếu. Xu hướng mới trong phân bố hiện nay là hướng sang phía sông Lô.
b. Các hình thức TCLTCN chính trong trung tâm công nghiệp Việt Trì
Các hình thức TCLTCN trong trung tâm công nghiệp Việt Trì ngoài khu vực
trung tâm tập trung dày hơn các cơ sở công nghiệp trong khu vực nội thành TP.Việt
Trì, còn có một số hình thức TCLTCN bao gồm các CCN (CCN Bạch Hạc (phía
Nam) và 2 CCN đang triển khai xây dựng hạ tầng gồm: CCN Phượng Lâu 1 (phường
Vân Phú), CCN Phượng Lâu (ở xã Phượng Lâu), KCN (KCN Thụy Vân) và một số
điểm công nghiệp rải rác khu vực ven đô thị Việt Trì.
3.2.5.6. So sánh với một số trung tâm công nghiệp khác
Việt Trì là trung tâm công nghiệp đa ngành, cỡ nhỏ của cả nước. So với vùng
TDMNBB, Việt Trì có quy mô nhỏ hơn trung tâm công nghiệp Hạ Long, Cẩm Phả,
Thái Nguyên và cao hơn so với trung tâm công nghiệp Hòa Bình, Bắc Giang. Năm

thành từ lâu và các DN trong các KCN, CCN mới hình thành hầu như ít có liên hệ về
mặt kinh tế. Về môi trường, sự phát triển của trung tâm công nghiệp Việt Trì còn
nhiều bất cập, tác động xấu đến môi trường. Hiện ở Việt Trì chưa có DN môi trường.
3.3. Đánh giá chung
3.3.1. Các mặt đã đạt
Diện mạo của các hình thức TCLTCN đã được phác họa những nét cơ bản, làm
cho bức tranh phân bố lãnh thổ công nghiệp của tỉnh Phú Thọ có những điểm nhấn
quan trọng và ngày càng rõ nét. Giá trị của các hình thức TCLTCN ngày càng cao, từ
đó đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của tỉnh Phú Thọ. Các hình thức
TCLTCN, nhất là các hình thức KCN và trung tâm công nghiệp đã góp phần tạo cho
công nghiệp của tỉnh có vị thế quan trọng trong vùng TDMNPB.
3.3.2. Hạn chế, thách thức
Các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ phát triển chưa tương xứng với tiềm
năng. Mặc dù có các hình thức TCLTCN cơ bản, nhưng ở tỉnh Phú Thọ chưa có các
hình thức TCLTCN có trình độ công nghệ cao, tạo ra GTSX lớn và thực sự hiệu quả,
như khu công nghệ cao hay KCX. Về quy mô sản xuất, đa số các hình thức TCLTCN
ở tỉnh Phú Thọ có quy mô sản xuất nhỏ bé, mối liên kết về kinh tế, kỹ thuật và bảo vệ
môi trường trong các hình thức TCLTCN và giữa các hình thức TCLTCN chưa rõ.
Tiểu kết chương 3
Thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh Phú Thọ trong nhiều năm qua đã có
sự chuyển biến theo hướng tích cực. Các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ đã có sự
đa dạng hơn. Các điểm công nghiệp được mở thêm mới, hoặc được nâng cấp. Hình
thức CCN mặc dù mới xuất hiện nhưng đã thể hiện sự phù hợp với địa bàn của tỉnh.
Hình thức KCN bước đầu đã thu được kết quả nhất định. Trung tâm công nghiệp Việt
Trì đã có nhiều cải thiện hơn trước trong phát triển và phân bố các cơ sở sản xuất
công nghiệp. Tuy vậy, các hình thức TCLTCN phát triển chưa tương xứng với tiềm
năng của tỉnh. So với các tỉnh lân cận, các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ còn
nhỏ bé cả về diện mạo và giá trị.
CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC
HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH PHÚ THỌ

4.2.3. Định hướng các hình thức tổ chức lãnh thổ công
nghiệp tỉnh Phú Thọ
4.2.3.1. Định hướng chung
Lựa chọn quy mô các hình thức TCLTCN phải phù hợp với khả năng điều kiện
cụ thể của các địa phương. Các địa điểm bố trí các hình thức TCLTCN phải phù hợp
với điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, thuận lợi cho xây dựng kết cấu hạ tầng
thuận tiện về giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, đảm bảo quỹ đất đủ đất để mở
rộng và phát triển trong định hướng ít nhất 20 - 30 năm. Chú trọng việc lựa chọn
công nghệ sạch, công nghệ nguồn, thu hút các ngành công nghiệp sạch, CNHT.
4.2.3.2. Định hướng đối với các hình thức TCLTCN ở tỉnh Phú Thọ
a. Điểm công nghiệp
Bên cạnh việc nâng cấp và mở rộng những cơ sở sản xuất đã có, cần tăng cường
đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của các điểm công nghiệp mới.
Cần xây mới các điểm công nghiệp CNHT
b. Cụm công nghiệp và khu công nghiệp tập trung
Phát triển CCN, KCN phải tuân thủ quy hoạch được duyệt; Tập trung thu hút
vốn đầu tư, từng bước hoàn thiện hệ thống các KCN, chú trọng phát triển nhanh các
khu, CCN ở TP.Việt Trì, TX.Phú Thọ và dọc hành lang các tuyến đường QL, đường
xuyên Á; Phát triển các KCN, CCN chuyên ngành, gắn với bảo vệ môi trường.
c.Trung tâm công nghiệp
22

Trích đoạn Các giải pháp tổng thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status