Luận văn nghiên cứu các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM

HÀ KIM TRUYỀN

NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN 2015


HÀ KIM TRUYỀN

NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ MINH THỌ


3


đỡ, cung cấp thông tin, số liệu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận
văn.
Xin chân thành cảm ơn tất các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ
nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, và đề tài mang tính mới, luận văn của tôi
chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự
đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 12 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hà Kim Truyền
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV:
DNNN :

Bảo vệ thực vật
Doanh nghiệp nông nghiệp

DV:

Dịch vụ

ĐVT:

Đơn vị tính

SX - KD:


DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Sự biến động tổng số thành viên các HTX qua 3 năm


6

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt
Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể: an ninh lương thực luôn được đảm bảo,
Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu sản phẩm nông sản hàng
đầu thế giới, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao... Có được
thành công trên là nhờ vào chính sách giao đất cho người dân trực tiếp sản xuất, lực
lượng sản xuất được giải phóng, hộ nông dân đã trở
chủ. Những thay đổi lớn

về vị

thành

đơn vị kinh tế tự

trí, vai trò của

kinh tế hộ đã khơi dậy các tiềm năng to lớn trong từng hộ gia đình nông dân, từ chỗ
không thiết tha đến ruộng đất, nông dân đã có ý thức chăm sóc và sử dụng đất đai có
hiệu quả hơn, có thể nói rằng kinh tế nông nghiệp ở nước ta phát triển được như hiện


7

Quang đều đi qua địa bàn huyện, thuận tiện trong lưu thông, vận chuyển hàng hóa,
do đó có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hóa tập trung. Thế nhưng các hình thức tổ chức sản xuất trong nông
nghiệp, nông thôn với những thành phần là các hợp tác xã nông lâm nghiệp-thủy sản,
doanh nghiệp nông nghiệp, trang trại, tổ hợp tác, vốn là nòng cốt trong kinh tế toàn
huyện lại chưa có được những bước phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế hiện
có, chưa tạo được động lực thúc đẩy kinh tế toàn huyện phát triển. Hiện nay vẫn
chưa có công trình nghiên cứu nào về các hình thức tổ chức sản xuất trên địa bàn
huyện Yên Sơn.
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu các
hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang"
nhằm tìm hiểu thực trạng phát triển chung, những khó khăn cần ưu tiên giải quyết
nhằm

phát triển các hình

thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp

huyện Yên Sơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.

Mục tiêu tổng quát

Thông qua việc Nghiên cứu về thực trạng của các hình thức tổ chức sản xuất
nông nghiệp tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang để tìm ra được giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển các hình thức tổ chức SXNN của huyện Yên Sơn Tuyên Quang nói

-

Tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc chính cản trở sự phát triển của các hình
thức tổ chức sản xuất nông nghiệp.

-

Đề xuất những giải pháp tháo gỡ những khó khăn nhằm giúp các hình thức tổ
chức sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện phát triển.

4. Bố cục của đề tài
-

Mở đầu;

-

Chương

1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hình thức tổ chức sản xuất

nông nghiệp trong nông thôn;
-

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu;

-

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận;


nhau để phân biệt nông thôn với thành thị. Có quan điểm cho rằng chỉ cần dựa vào
trình độ phát triển cơ sở hạ tầng. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu
trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn. Với
mỗi quan điểm khác nhau lại có những khái niệm khác nhau về nông thôn. Khái
niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo thời gian để phản
ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện Việt
Nam có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó chủ yếu
là lao động nông nghiệp, hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên”
hoặc “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân xã”. [1]
ỉ.ỉ.ỉ.2. Đặc điểm nông thôn
- Nông thôn gắn chặt với một nghề lao động xã hội truyền thống, đặc trưng
và nổi trội là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Điều này thể hiện ở chỗ phương tiện
sản xuất chủ yếu ở nông thôn là đất đai, nó cũng tạo ra sự gắn kết nghề nghiệp giữa
những người dân nông thôn.
-

Trình độ phát triển sản xuất thấp, thu nhập bình quân so với thành thị là rất
thấp.


1
0

-

Mật

độ dân cư thưa,


tính pháp lý và luật pháp.
-

Đặc trưng không thể thiếu ở nông thôn là những nét văn hóa truyền thống

mang những nét độc đáo, riêng biệt ở mỗi vùng.
1.1.2.
Khái niệm về một số hình thức tổ chức sản xuất tại nông thôn
Mỗi hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp trong nông thôn đều có lịch sử
hình thành riêng, nếu như kinh tế hộ nông dân có từ rất lâu thì các trang trại ở nước
ta mới hình thành từ thời nhà Trần (thời đó gọi là điền trang, chủ yếu là trang trại của
quý tộc phong kiến), còn các Hợp tác xã phải tới năm 1960 mới bắt đầu xuất hiện từ
các HTX quy mô thôn, sau đó mới phát triển dần thành các HTX liên thôn, liên xã,
liên tỉnh. Trải qua quá trình dài phát triển đến nay trong nông thôn Việt Nam đã hình
thành thêm các hình thức tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp như tổ hợp tác,


1
1

doanh nghiệp nông nghiệp.
Ỉ . Ỉ . 2 . Ỉ . Hợp tác xã
-

Khái niệm: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách
pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ
lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng
nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình

-

chức và quản lý tiến bộ.[4]
Đặc trưng của trang trại:
+ Trang trại là một đơn vị kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp.
+ Mục đích chủ yếu của trang trại là kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá

theo nhu cầu thị trường.
+ Trong trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn được


1
2

tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá.
+ Lao động trong các trang trại chủ yếu là dựa trên các thành viên trong hộ,
ngoài ra có thuê mướn lao động.
1.1.2.3. Doanh nghiệp nông nghiệp
-

Khái niệm: Doanh nghiệp nông nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,

có tài

sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy

định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nông
nghiệp.
-

Đặc điểm của doanh nghiệp: Doanh nghiệp nông bao gồm một tập thể những
người lao động, có sự phân công và hợp tác lao động để khai thác và sử dụng

quá trình sản xuất- kinh doanh, các thành viên đều được hưởng lợi từ một
nguồn cung cấp hàng hóa dịch vụ cho họ.
Tuy nhiên, điểm khác biệt của Tổ hợp tác với Hợp tác xã là:
+ Tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân;
+ Tổ hợp tác là hình thức hợp tác đơn giản, quy mô thành viên, quy mô hoạt

động, tài sản và vốn chung thường nhỏ bé. Với đặc điểm vốn góp nhỏ nên tổ hợp tác
khuyến khích được sự tham gia của các hộ nghèo và cận nghèo.[6]
1.1.2.5. Kinh tế hộ nông dân
-

Khái niệm: Là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong
đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động

-

kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
Đặc điểm:
+ Kinh tế hộ nông dân được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng

trong phạm vi gia đình. Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản
cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của họ;
+ Trong kinh tế

hộ nông dân thì

chủ hộ cũng là người lao động trực

tiếp, tùy vào điều kiện cụ thể, họ có thể thuê thêm lao động;
+ Quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít. Sản

* Hợp tác xã:
Hợp tác xã (HTX) đầu tiên trên thế giới được hình thành vào năm 1761 tại
Vương quốc Anh, sau đó phát triển ra ở hầu hết các nước trên thế giới, không phân
biệt ở nước có nền kinh tế phát triển hay đang phát triển; HTX đều có vai trò quan
trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định xã hội. HTX là tổ chức kinh tế mang
tính xã hội cao, HTX hoạt động như một doanh nghiệp dựa trên các giá trị và nguyên
tắc tương trợ, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công bằng và đoàn kết, tạo
nên sức mạnh trong việc giúp các hộ gia đình, cá thể, tiểu chủ hoạt động kinh doanh


1
5

có hiệu quả hơn, tăng khả năng cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường. Hơn thế, ở
nhiều nước, HTX được coi là tổ chức để thông qua đó Nhà nước có thể thực hiện
được nhiều chương trình quan trọng
nghèo,

như:

xoá đói

ứng dụng công nghệ mới,

giảm
công

nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, khôi phục và phát huy ngành nghề truyền thống,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tham gia bảo đảm an ninh chính trị và xã hội... Dovị
và vai trò quan

tạo cán bộ HTX cơ sở, đào tạo nghề. Do có các chính sách và phân cấp đào tạo hợp
lý nên Ấn Độ đã có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, thúc đẩy khu vực kinh tế
HTX phát triển, và mô hình HTX trở thành lực lượng vững mạnh, tham gia vào hầu
hết các hoạt động kinh tế của đất nước. Là một nước nông nghiệp, sự phát triển kinh
tế của Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều vào việc phát triển nông nghiệp. Người nông dân
coi HTX là phương tiện để tiếp nhận tín dụng, đầu vào và các nhu cầu cần thiết về
dịch vụ. Khu vực HTX có cơ sở hạ tầng rộng lớn, hoạt động trong các lĩnh vực tín
dụng, chế biến nông sản, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhà ở
với tổng số vốn hoạt động khoảng 18,33 tỷ USD. Nhận rõ vai trò của các HTX
chiếm vị trí trọng yếu trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, Chính phủ Ấn Độ
đã thành lập công ty quốc gia phát triển HTX, thực hiện nhiều dự án khác nhau trong
lĩnh vực chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản, hàng tiêu dùng, lâm sản và các mặt
hàng khác, đồng thời thực hiện các dự án về phát triển những vùng nông thôn còn lạc
hậu. Ngoài ra, Chính phủ đã thực hiện chiến lược phát triển cho khu vực HTX như:
Xúc tiến xuất khẩu; Sửa đổi Luật HTX, tạo điều kiện cho các HTX tự chủ và năng
động hơn; Chấn chỉnh hệ thống tín dụng HTX; Thiết lập mạng lưới thông tin hai
chiều giữa những người nghèo nông thôn với các tổ chức HTX; Bảo đảm trách
nhiệm của các liên đoàn HTX đối với các HTX thành viên.
+ Tại Nhật Bản:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tổ chức HTX Nhật Bản là nhân tố tích cực,
góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Các loại hình tổ
chức HTX Nhật Bản bao gồm: HTX nông nghiệp, HTX tiêu dùng. HTX tiêu dùng
Nhật Bản phát triển mạnh từ những năm 1960-1970. Liên hiệp HTX tiêu dùng
(JCCU) là tổ chức cấp cao của khu vực HTX ở Nhật Bản. Hiện nay, JCCU có 617
HTX thành viên. Các HTX thành viên đã sản xuất trên 10.000 sản phẩm khác nhau


1
7


thông qua các liên đoàn, các hiệp hội HTX nông nghiệp tỉnh và các liên minh HTX
nông nghiệp tỉnh. Các liên đoàn HTX cấp tỉnh điều phối các hoạt động của các HTX
trong phạm vi, quyền hạn của mình, đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính, bảo
hiểm, tiếp thị cho các HTX thành viên. Các liên hiệp HTX tỉnh chỉ đạo các vấn đề về
tổ chức, quản lý, giáo dục, nghiên cứu cũng như đưa các kiến nghị lên các cơ quan
của Chính phủ. Các liên minh HTX nông nghiệp tỉnh có nhiệm vụ giám sát và quản
lý toàn bộ hoạt động của các HTX nông nghiệp liên kết.


1
8

Để giúp các

tổ chức HTX hoạt động, Chính

phủ Nhật Bản đã tăng

cường xây dựng hệ thống phục vụ xã hội hóa nông nghiệp, coi HTX nông nghiệp là
một trong những hình thức phục vụ xã hội hóa tốt nhất và yêu cầu các cấp, các ngành
phải giúp đỡ và bảo

vệ quyền lợi hợp pháp cho tổ chức

này. Đồng thời, Chính phủ còn yêu cầu các ngành tài chính, thương nghiệp giúp đỡ
về vốn, kỹ thuật, tư liệu sản xuất v.v..., tuy nhiên, không làm ảnh hưởng đến tính tự
chủ và độc lập của các HTX này.
+ Tại Thái Lan:
Ở Thái Lan, HTX tín dụng nông thôn được thành lập từ lâu. Do hoạt động
của HTX này có hiệu quả, nên hàng loạt HTX tín dụng được thành lập khắp cả nước.

và hướng dẫn nghiệp vụ kế toán trong công tác quản lý tài chính, kế toán HTX. Hàng
năm, Liên đoàn HTX Thái Lan tổ chức hội nghị toàn thể với sự tham gia của các đại
diện từ các loại hình HTX trong cả nước và đại diện các cơ quan của Chính phủ liên
quan đến tổ chức HTX. Sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ Thái Lan thực sự có hiệu
quả trong việc hoạch định các chính sách đối với phát triển khu vực HTX.
+ Tại Malaysia:
Ở Malaysia, các tổ chức HTX được thành lập từ những năm đầu của thế kỷ
XX. Hiện nay, tổ chức HTX đang là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế của đất nước. Tổ chức HTX Malaysia (ANGKASA) là tổ chức cấp cao của
các HTX Malaysia. ANGKASA có nhiệm vụ hỗ trợ các HTX thành viên về phương
thức điều hành và quản lý các hoạt động của HTX bằng cách tư vấn, giáo dục hoặc
tổ chức những dịch vụ cần thiết. Hiện nay, ANGKASA có 4.049 HTX các loại với
4,33 triệu xã viên, trong đó, HTX tín dụng và ngân hàng có 442 HTX với 1,32 triệu
xã viên; HTX nông nghiệp có 205 HTX với 0,19 triệu xã viên; HTX xây dựng nhà ở


2
0

có 103 HTX với 0,07 triệu xã viên; HTX công nghiệp có 51 HTX với 0,01 triệu xã
viên; HTX tiêu dùng có 2.359 HTX với 2 triệu xã viên; HTX dịch vụ có 362 HTX
với 0,14 triệu xã viên,... Sự phát triển vững chắc của các khu vực kinh tế HTX đã
thúc đẩy nền kinh tế Malaysia có bước phát triển mới.
Các nguyên tắc của HTX được ANGKASA nêu cụ thể như sau: Quản lý dân
chủ; Thành viên tự nguyện; Thu nhập bình đẳng; Phân phối lợi nhuận kinh doanh
theo mức độ sử dụng các dịch vụ của các xã viên và mức đóng góp cổ phần của xã
viên; Hoàn trả vốn theo mức đầu tư; Xúc tiến công tác đào tạo phổ cập kiến thức
quản lý và KHKT nông nghiệp cho các xã viên.
Năm 1922, Pháp lệnh đầu tiên về HTX của Nhà nước Malaysia ra đời. Sau
đó, năm 1993, Luật HTX ra đời, là khung khổ pháp lý để các HTX hoạt động, đồng

Quá trình phát triển kinh

tế trang trại gia đình có sự biến đổi về số

lượng cũng như quy mô. Thực tiễn ở nhiều nước cho thấy trong thời kỳ đầu CNH do
lao động nông nghiệp còn đông, khả năng phân công lao động xã hội còn hạn chế thì
số lượng trang trại gia đình tăng lên. Đến thời kỳ công nghiệp hoá phát triển, khả
năng thu hút lao động của công nghiệp, dịch vụ tăng lên nhanh chóng thì số lượng
trang trại nông nghiệp bắt đầu giảm đi. Cuối thế kỷ XX số lượng ở các trang trại gia
đình ở các nước đang phát triển ở châu Á tăng 2,5% mỗi năm, trong khi dó ở các
nước công nghiệp phát triển châu Âu giảm 2,35% mỗi năm.
Quy mô trang trại gia đình lại biến động theo chiều hướng ngược lại với số
lượng trang trại của mỗi quốc gia. Tuỳ điều kiện các nước mà quy mô trang trại có
thể rất khác nhau.
Việc cơ giới hoá, hiện đại hoá nông nghiệp trong các trang trại không chỉ
diễn ra ở các nước phát triển mà ngay cả đối với các trang trại tại các nước đang phát
triển: “Năm 1985, cơ cấu động lực nông nghiệp của các trang trại ở các nước công
nghiệp phát triển có 7% sức người, 10% sức súc vật và 82% sức máy, cơ điện còn
các trang trại của các nước đang phát triển có 25 đến 30% sức người, 50% sức súc
vật và 20% sức máy...”. Ngoài ra, các trang trại còn ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật


2
2

trong các lĩnh vực sinh học, tin học: “Ở
Mỹ, đến nay đã có 20% trang trại gia đình sử dụng máy tính phục vụ việc lập trình
sản xuất kinh doanh trên đồng ruộng và trong trang trại. Ở Đức 50% các trang trại
quy mô 50 ha trở lên đã sử dụng máy vi tính vào quá trình điều hành sản xuất...”.
- Lao động sử dụng trong trang trại ở Tây Âu và Mỹ đang có xu hướng giảm

dạng: Công nghệ sản xuất cách ly trong nhà lưới không sử dụng phân bón, nông
dược vô cơ và công nghệ sản xuất cách ly trong nhà lưới có sử dụng giới hạn nông
dược vô cơ. Mô hình này đã được triển khai tổng số khoảng 20 ha ở Công ty trách
nhiệm hữu hạn Kim Bằng 7 ha, Công ty trách nhiệm hữu hạn Trang Food: 3 ha, các
hộ nông dân trên 10 ha.
Về hoa, trồng trong nhà có mái che plastic là 260 ha/650 ha trồng hoa (như
trồng rau cao cấp), trong đó của nông dân là 80ha, sản lượng 200.000 cành và xuất
khẩu 20.000 cành, tiêu thụ trong nước: 18.000 cành/ngày. Lãi ròng từ trồng hoa cúc
trên 1000m2 đạt 28,0 triệu đồng với công nghệ nhà sáng, 17,9 triệu đồng với công
nghệ nhà lưới, 12 triệu đồng với phương thức truyền thống ngoài trời. Công ty trách
nhiệm hữu hạn Đà Lạt Hasfarm là mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất
hoa cao cấp có quy mô 24 ha trong đó có 15 ha nhà kính và 2 ha nhà bằng thép; đạt
năng suất 1,8 triệu cành/ha/năm, xuất khẩu 55% (trong đó 90% sang Nhật Bản) tiêu
thụ trong nước 45% với 26 đại lý của Công ty.
+ Mô hình rau, hoa, quả, chăn nuôi thủy sản thành phố Hà Nội
Mô hình 1.000 ha hoa ở huyện Mê Linh: Mê Linh là một huyện thuộc tỉnh
Vĩnh Phúc trước đây. Từ 1/8/2008, được chuyển về Hà Nội để trở thành
một huyện

ngoại thành. Hiện nay, trên địa bàn huyện

có 3 đơn vị gồm xã

Tráng Việt, xã Tiền Phong và thị trấn Mê Linh tổ chức mô hình DN chuyên canh sản


2
4

xuất hoa với khoảng 1.000 ha chuyển hẳn sang trồng và cung cấp hoa cho nội thành


đồng. Hoạt động của Trung tâm ươm tạo DN được triển khai tương đối có hiệu quả
Từ năm 2000 đến nay, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp thành phố Hồ Chí
Minh ngày càng cao hơn. Năm 2007 là 15,9%, năm 2008 đạt 3,8% và năm 2009 là
4,87%. Hơn 100 ha đất tại huyện Củ Chi đã được Thành phố chọn để xây dựng khu
nông nghiệp công nghệ cao như sau:
Trồng trọt: trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh (hydroponic), màng dinh dưỡng
(deep pond & ílooting board technology) và canh tác trên giá thể không đất; công
nghệ nuôi cấy mô (tissue culture) cho rau, hoa, lan, cây cảnh, cây ăn trái...; ứng dụng
chất điều hoà sinh trưởng thực vật (plant regulators) trong điều khiển cây trồng; ứng
dụng công nghệ gene; sản xuất nấm và các chế phẩm vi sinh.
Chăn nuôi thú y: ứng dụng công nghệ cấy chuyển phôi (embryonic
technology) cho bò sữa và bò thịt; sản xuất và bảo quản tinh đông lạnh bò (bull
semen); áp dụng công nghệ di truyền để sản xuất vaccine thế hệ mới; áp dụng công
nghệ gene để sản xuất chất kích thích sinh trưởng cho động vật; ứng dụng kỹ thuật
sinh học phân tử (PCR) để chẩn đoán bệnh và chọn giống gia súc; ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý con giống.
Thuỷ sản: lai tạo và kích thích sinh sản để sản xuất cá giống và cải tiến chất
lượng cá; nuôi trồng tảo đa bào và vi tảo làm thực phẩm và vật liệu trong xử lý môi
trường.
Lâm nghiệp: ứng dụng công nghệ sinh học để nhân giống nhanh một số cây
lâm nghiệp có chất lượng gỗ tốt, thời gian sinh trưởng ngắn phục vụ cho phát triển
rừng; nhân giống các loại cây lâm nghiệp có dạng tán và tốc độ sinh trưởng phù hợp
cho phát triển cây xanh đô thị...
Dịch vụ: bảo quản, chế biến nông sản, đóng gói bao bì; cung ứng, tiếp thị các
sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao...



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status