Phần 2: CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT THỎA THUẬN VÀ
THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
2.1. Chính sách lãi suất thỏa thuận giai đoạn 6/2002 – 2/2010
2.1.1. Cơ chế điều chỉnh
Dấu mốc đầu tiên của cơ chế này là Quyết định số 546/2002/QĐ- ngày
30/5/2002 về việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng
thương mại bằng VNĐ của TCTD đối với khách hàng. Đây là một bước ngoặt lớn
đánh dấu sự mở đầu trong việc thực hiện cơ chế tự do hóa lãi suất trong nền kinh tế
đối với hoạt động tín dụng và lãi suất cơ bản công bố của NHNN dần dần sẽ mang
tính chất tham khảo đối với các tổ chức tín dụng trong việc xác định lãi suất từng thời
kỳ.
Sang đầu năm 2003, cơ chế điều hành lãi suất tiếp tục được điều chỉnh, theo đó
lãi suất tái cấp vốn đóng vai trò là lãi suất trần, lãi suất tái chiết khấu là lãi suất sàn
trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở là công cụ điều hành
thường xuyên của NHNN. Lãi suất cho vay qua đêm được áp dụng trong thanh toán
điện tử liên ngân hàng và thanh toán bù trừ, lãi suất tiền gửi của các tổ chức tín dụng
tại NHNN đóng vai trò làm phương tiện thường xuyên điều tiết lãi suất liên ngân
hàng.
Với sự ra đời của luật dân sự 2005 thì lãi suất thỏa thuận giữa 2 bên vẫn bị giới
hạn bởi lãi suất cơ bản và “trần lãi suất”. Theo quy định của BLDS 2005, lãi suất vay
trong các hợp đồng vay tài sản, bao gồm cả các hợp đồng tín dụng do các bên thoả
thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước
công bố đối với loại cho vay tương ứng.
Đến ngày 17/05/2008, NHNN thông báo những điều chỉnh trong chính sách điều
hành lãi suất. Đó chính là Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi
suất cơ bản bằng VNĐ. Lãi suất cơ bản được trả lại vai trò kim chỉ nam của thị trường
khi lãi suất cho vay không được quá 150% lãi suất cơ bản (theo quy định của Bộ Luật
Dân Sự). Cơ chế cho vay huy động vốn dựa trên trần lãi suất của NHNN cũng như lãi
suất thỏa thuận của Hiệp hội Ngân hàng bị hủy bỏ.
1
Thông tư số 01/2009/TT-NHNN có hiệu lực ngày 1/2/2009 hướng dẫn về lãi suất thoả
Như vậy, chưa thể phát huy hiệu quả của cơ chế lãi suất thỏa thuận bởi ở Việt
Nam các yếu tố nền tảng của cơ chế này vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Do đó,
đòi hỏi phải có sự điều chỉnh trong cơ chế điều hành cho phù hợp với tình hình hiện
tại.
2.2. Chính sách lãi suất thỏa thuận từ năm 2010
2.2.1. Cơ chế
Là một trong những chính sách quan trọng, lãi suất không chỉ tác động đến
quyết định mở rộng hay thu hẹp sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh
tế, mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là công cụ phân phối có hiệu quả
nhằm khai thác và sử dụng triệt để các nguồn lực của nền kinh tế. Trong bối cảnh kinh
tế những tháng cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008, nền kinh tế thế giới lâm
vào cuộc khủng hoảng, Việt nam cũng phải đối mặt với những khó khăn về vấn đề
thanh khoản của hệ thống tín dụng, lãi suất ngân hàng cao, những cơn sốt giá lương
thực và năng lượng, thị trường chứng khoán liên tục bị sụt giảm nghiêm trọng buộc
NHNN phải thực hiện theo cơ chế trần lãi suất. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng,
cơ chế này đã bộc lộ quá nhiều hạn chế khi giới hạn khả năng kinh doanh của hệ
thống ngân hàng. Do đó các chuyên gia, các lãnh đạo ngân hàng đã đưa ra nhiều ý
kiến muốn quay trở lại lãi suất thỏa thuận.
Sau một thời gian nghiên cứu, ngày 26/2/2010 Ngân hàng Nhà nước đã ban
hành Thông tư số 07/2010/TT-NHNN cho phép các ngân hàng thương mại được thực
hiện lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay VNĐ trung dài hạn, và có hiệu lực ngay.
Theo đó, lãi suất cho vay kỳ hạn trung và dài hạn của các khoản vay phục vụ sản xuất
kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển của các tổ chức tín dụng nói chung sẽ được thỏa
thuận với các khách hàng trên cơ sở cung cầu thị trường và sự đánh giá mực độ tín
nhiệm khác hàng của tổ chức tín dụng. Các khoản cho vay phục vụ trực tiếp đời sống
của cá nhân tiếp tục được thỏa thuận lãi suất tất cả các kỳ hạn ngắn trung và dài.
Thông tư cũng quy định việc lãi suất cho vay, hạn mức cho vay phải đảm bảo phù hợp
các tỷ lệ an toàn vốn và điều kiện kinh doanh của tổ chức tín dụng. Điều này có nghĩa
là tổ chức tín dụng, ngân hàng có thể thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi
suất cao hơn lãi suất trần cho các khoản vay trung dài hạn như trước đây.
để nâng lãi suất của các món vay trung dài hạn hoặc là hạn chế cho vay. Thậm chí,
một số ngân hàng còn chia nhỏ các khoản vay dài hạn thành nhiều khoản ngắn hạn để
4
cho vay. Việc chia nhỏ này còn có thể giúp các ngân hàng không vi phạm quy định chỉ
được lấy 30% vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Thực tế nguồn vốn trung và dài
hạn của ngân hàng rất hạn chế do lãi suất huy động kỳ hạn dài không hấp dẫn so với
các kỳ hạn ngắn nên người gửi tiền chỉ thích chọn các kỳ hạn ngắn.
Thông tư 07 ra đời cho phép các ngân hàng có thể đưa lãi suất cho vay lên cao
hơn mức lãi suất trần, đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng cũng như vốn trung dài hạn
cho các doanh nghiệp phục vụ mục đích đầu tư, mở rộng sản suất. Ngoài các khoản
vay trung dài hạn vừa được chấp thuận cho thực hiện lãi suất thỏa thuận, hiện các
ngân hàng còn có thể áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận cho các khoản vay ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá
nhân và hộ gia đình của khách hàng vay, cũng như cho vay thông qua nghiệp vụ phát
hành và sử dụng thẻ tín dụng. Chỉ vài ngày sau khi thông tư 07 được ban hành, lãi
suất cho vay đã được các ngân hàng thương mại cổ phần tăng lên mức phổ biến 15-
17%, với các ngân hàng quốc doanh, mặt bằng lãi suất thấp hơn, khoảng 15-16%. Cá
biệt, một số ngân hàng cổ phần nhỏ đã tăng lãi suất cho vay lên đến 18-20%/năm.
Một điều đáng chú ý trong giai đoạn này chính là việc lãi suất cho vay tăng cao
không ngừng nhưng lãi suất huy động thì không thể tăng được, có nghĩa là mở rộng
đầu ra nhưng lại đang hạn chế đầu vào. Bảng sau đây thể hiện lãi suất trong mấy
tháng đầu năm 2010.
Bảng 2.3: Lãi suất huy động và cho vay 4 tháng đầu năm 2010
Lãi huy động Không kỳ
hạn
1 tháng 3 tháng 6 tháng 12 tháng Trên 12
tháng
NHTMNN 2,4-3,0 8,0-9,0 10-10,2 10-10,3 10,4-10,49 10,4-10,49
NHTMCP 2,4-4,2 10-10,49 10,3-10,499 10,3-10,499 10,4-10,499 10,4-10,499
Lãi cho vay Ngắn hạn Trung và dài hạn