Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra các giá trị vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và
hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.
Quan hệ lao động là quan hệ giữa người với người trong lao động nhằm
tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần nhằm phục vụ chính bản thân và xã hội. Ở
đâu có tổ chức lao động, có hợp tác và phân công lao động thì ở đó có quan hệ
lao động. Xuất phát từ mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao
động, Bộ luật lao động của Việt Nam có các nguyên tắc sau: Bảo vệ người lao
động,đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động;
Kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội; Phản ánh được
tình hình kinh tế xã hội của đất nước,tiếp thu có chọn lọc pháp luật quốc tế lao
động
Người lao động là thành viên trong xã hội, tham gia quan hệ lao động để
đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình mình, nên các chế độ lao động
không chỉ liên quan đến người lao động mà còn liên quan đến toàn bộ đời sống
xã hội, do đó trong quá trình điều chỉnh các quan hệ lao động, Luật lao động
phải kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội.
Hơn nữa tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng
định: “ phải có chính sách xã hội là động lực để phát triển kinh tế, nhưng đồng
thời phải có chính sách kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện chính sách xã hội
”. Do vậy nên em chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “ Giải pháp nhằm đảm
bảo sự kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong
pháp luật lao động Việt Nam”
1
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
động là nguồn văn bản rất quan trọng để tham khảo, đối chiếu, so sánh và có
các kiến nghị vận dụng phù hợp đối với hệ thống pháp luật lao động nước ta.
Trên đây là một số nghiên cứu về những vấn đề liên quan nhưng còn ở
tầm vĩ mô hoặc chưa tập trung vào vấn đề “Giải pháp nhằm đảm bảo sự kết hợp
hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong pháp luật lao động
Việt Nam” vì vậy nên cần có một nghiên cứu chính thức về vấn đề này giúp tìm
ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật lao động ở Việt Nam hơn và phù hợp
với yêu cầu của thực tiễn.
4. Mục tiêu nghiên cứu.
Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật lao động
Việt Nam về sự kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hôi. Trên cơ sở
đó, đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa chính sách
kinh tế và chính sách xã hội trong pháp luật lao động Việt Nam đáp ứng yêu cầu
của thực tiễn khách quan trong điều kiện kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập
của nước ta hiện na . Qua đó, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật lao
động Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu.
vận dụng phương pháp luận của chủ nghia duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, các phương phá nghiên cứu khoa học cụ thể
khác nhau, như:
Phương pháp phân tích, tổng hợp.
Phương pháp thống kê, lịch sử cụ thể, khảo cứu thực tiễn nhằm minh
chứng cho những lập luận, những nhận xét đánh giá, kết luận khoa học của luận
văn.
Phương pháp so sánh được sử dụng xuyên suốt luận văn để phân tích, đối
chiếu những quy định pháp luật về các chính sách kinh tế và chính sách xã hội
trong pháp luật lao động Việt nam với các quy định của ILO và pháp luật quốc
tế.
3
Luật lao động
chính sách xã hội trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam.
2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện chính sách kinh
tế và chính sách xã hội trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam.
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO SỰ KẾT HỢP HÀI HÒA
GIỮA CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM.
3.1 Giải pháp nhằm kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách
xã hội trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích cho người lao động và người sử dụng
lao động.
3.2 Giải pháp nhằm kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách
xã hội trong giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động.
3.3 Một số giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về HĐLĐ.
NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM.
1.1 Chính sách kinh tế trong pháp luật lao động.
Chính sách kinh tế là những chủ trương và biện pháp kinh tế mà Nhà nước
áp dụng trong một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử nhằm đạt được những yêu cầu
và những mục tiêu kinh tế, chính trị nhất định.
5
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
Ở đây ta nghiên cứu về chính sác kinh tế trong pháp luật lao động được
thể hiện trong bộ luật lao động và một số nghị định của chính phủ quy định đối
với lĩnh vực lao động. Luật lao động điều chỉnh các nội dung về lợi nhuận. tiền
lương, sự tăng trưởng trong kinh doanh, sản xuất…. Nhà nước có một số chính
sách như:
- Chính sách khuyến khích các nhà đầu tư mở rộng sản xuất, thu hút
nguồn lao động. khuyến khích sử dụng lao động đạt hiệu quả cao.
- Những qquy định ưu tiên cho vay vốn, giảm thuế, hỗ trợ trang thiết bị
việc bảo đảm những nhu cầu thiết yếu trong điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, lương
thưởng…
- Thông qua các nguồn phúc lợi bằng hiện vật hoặc bằng tiền trong lĩnh
vực sức khoẻ nói riêng và nhiều lĩnh vực khác đảm bảo đáp ứng đầy đủ các
nhu cầu sống tối thiểu cho người lao động giúp tạo tiền đề và thuận lợi để họ nỗ
lực làm việc. Đảm bảo sự ổn định, cho công việc và họ không phải chi trả cho
những phúc lợi đó.
- Chính sách xă hội sẽ tác động đến chính sách kinh tế trong pháp luật lao
động, điều tiết việc phân phối lại lao động trong nền sản xuất xã hội. Mối quan
hệ giữa sự sáng tạo các chính sách kinh tế với hệ thống chính sách xă hội không
chỉ là tác động một chiều. Cả hai hệ thống này mang tính tác động tương hỗ lẫn
nhau. Tác động của hệ thống bảo đảm xã hội (an sinh xă hội) sẽ đảm bảo đạt
được các chuẩn mực về sản xuất, về thu nhập và về việc làm trong xã hội, trong
khi đó th́ hệ thống chính sách kinh tế tác động ngược trở lại đến hệ thống chính
sách xă hội để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững
1.3 Mối quan hệ giữa các chính sách kinh tế và chính sách xã hội
trong pháp luật lao động.
7
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
Trong hệ thống pháp luật lao động Việt Nam, các chính sách kinh tế và
chính sách xã hội được quy định tại hệ thống các các văn bản pháp luật lao động
như sau:
-Hiến pháp: Hiến pháp là bộ phận cấu thành không thể thiếu của luật lao
động, làm cơ sỏ để xác định các nguyên tắc, nội dung định hướng cơ bản của
luật lao động; đặc biệt là các tổ chức công đoàn( Điều 10 Hiến pháp năm 1992),
về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong kinh doanh, lao động việc làm,
bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, quyền bình đẳng nam nữ…( chương V hiến
pháp 1992)
-Các văn bản luật: bao gồm bộ luật và luật do Quốc hội ban hành, thuộc
vai trò quan trọng góp phần lớn làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
Như vậy, bên cạnh mục tiêu kinh tế như lợi nhuận, tiền lương, sự tăng
trưởng trong sản xuất, kinh doanh, Luật lao động phải giải quyết các vấn đề xã
hội như: việc làm, công bằng, dân chủ, tương trợ cộng đồng ngay trong quá trình
lao động, ngay tại các doanh nghiệp. Nếu pháp luật lao động tách rời hoặc coi
nhẹ chính sách xã hội thì sẽ không hạn chế được những tiêu cực của cơ chế thị
trường; ngược lại, nếu coi trọng các vấn đề xã hội quá mức so với điều kiện kinh
tế thì sẽ không có tính khả thi.
Ở tầm vĩ mô, Chính phủ có sự hỗ trợ về tài chính cho những địa phương,
ngành có nhiều người thiếu việc làm, hoặc mất việc làm do thay đổi cơ cấu công
nghệ. Pháp luật lao động cũng có những ưu tiên về vay vốn, giảm thuế cho
những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động tàn tật, lao động nữ để giải quyết
các vấn đề xã hội và đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.
9
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
Quán triệt nguyên tắc này, pháp luật lao động đã góp phần quan trọng bảo
vệ người lao động, khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện phát triển các doanh
nghiệp nhằm tăng trưởng kinh tế đất nước, xây dựng xã hội công bằng và văn
minh.
Chương 2: THỰC TRẠNG SỰ KẾT HỢP GIỮA CÁC CHÍNH
SÁCH KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG PHÁP LUẬT LAO
ĐỘNG VIỆT NAM.
Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của
người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và
quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, vì vậy có vị trí quan trọng trong
đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của quốc gia cũng như quốc tế.
Pháp luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của
người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
vẫn nhất quán chủ trương: “ Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công
bằng xã hội ngay từ đầu… Không chờ đợi đến khi đạt tới trình độ phát triển kinh
tế cao mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không hi sinh tiến bộ và
công bằng xã hội để phát triển kinh tế đơn thuần”.
Thực hiện tư tưởng đó, pháp luật lao động hiện hành không quy định quá
chi tiết quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên, để các bên được tự do thỏa thuận
theo hướng có lợi cho người lao động và người sử dụng lao động sao cho phù
hợp với điều kiện và khả năng của từng đơn vị, từng thời kỳ….cũng là để thực
hiện mục đích xã hội ngay trong từng bước phát triển kinh tế.
Nhằm đáp ứng với sự thay đổi của thời đại , sự phát triển tất yếu của lịch
sử thì pháp luật lao động Việt Nam cũng luôn có sự thay đổi cho phù hợp với
thực tiễn đó. Rõ nét nhất là Bộ luật lao động của Việt Nam năm 1994 đã được
sửa đổi, bổ xung qua các năm 2002, 2006, 2007 và mới nhất là năm 2012. Bên
cạnh đó là các văn bản pháp luật lao động khác như: Pháp lệnh, các nghị định,
quyết định của Chính phủ, các thông tư của các bộ, liên bộ… quy định, hướng
dẫn thực hiện các chủ chương chính sách hay các quy định liên quan đến lĩnh
vực lao động.
Pháp luật lao động còn có nhiều quy định khuyến khích các nhà đầu tư mở
rộng sản xuất, thu hút nhiều lao động, khuyến khích sử dụng lao động đạt hiệu
quả cao; đồng thời, cũng khuyến khích quản lý lao động dân chủ, công bằng, văn
minh trong các doanh nghiệp, từng bước cải thiện điều kiện cho người lao động,
nâng cao thu nhập cho họ.
Bên cạnh quyền tự do thuê mướn lao động, các nhà đầu tư cũng phải thực
hiện nghĩa vụ để giải quyết việc làm đối với người tàn tật bằng những phương
thức phù hợp, phải ưu tiên tuyển chọn lao động nữ và đảm bảo điều kiện làm
việc cho họ. Sự cải tiến kỹ thuật, công nghệ của người sử dụng lao động phải
12
Luật lao động
điều kiện kinh tế khó khăn thì đây là một cố gắng lớn.
- Mặc dù gặp nhiều khó khăn, qua 9 tháng đã giải quyết được 1,13 triệu
việc làm mới, ước cả năm đạt khoảng 1,52 triệu. Thực hiện chế độ bảo hiểm thất
nghiệp cho trên 280 nghìn lao động. Tình hình lao động ở các khu công nghiệp
cơ bản ổn định. Một bộ phận lao động được đào tạo, chuyển nghề mới phù hợp
hơn.
- Quan tâm chăm lo 8,8 triệu người có công, trong đó gần 1,5 triệu người
đang hưởng trợ cấp thường xuyên. Số hộ người có công có mức sống thấp hơn
mức trung bình tại địa bàn nơi cư trú giảm xuống chỉ còn dưới 5%.
- Thu hút được 10,34 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó có
10,2 triệu là bảo hiểm xã hội bắt buộc tăng 4,2% so với cùng kỳ; 8,07 triệu người
tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng 6,6% so với cùng kỳ. Thực hiện trợ cấp xã
hội thường xuyên cho gần 2,3 triệu người (trên 40 nghìn người trong các cơ sở
bảo trợ xã hội). Đã kịp thời cứu trợ, khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản
xuất, ổn định đời sống nhân dân.
- Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt gần 68% (tăng 5%). Nhờ các chính sách
hỗ trợ nên khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo, cận nghèo vẫn được
bảo đảm.
Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách pháp luật về việc làm của
nước ta hiện nay không còn phù hợp và khó thực hiện. Các quy định chủ yếu
điều chỉnh đối với lao động có quan hệ lao động, còn các đối tượng khác như
việc làm ở khu vực phi chính thức, khu vực nông thôn chưa được quy định cụ
thể. Nhiều quy định mới chỉ được thể hiện bằng các văn bản dưới luật, tính pháp
lý chưa cao, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn. Các chính sách còn mang tính
14
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể. Còn thiếu các chính sách về bình đẳng việc
làm, việc làm an toàn, các quy định về việc làm đầy đủ, việc làm bán thời gian;
các khái niệm, định nghĩa về thị trường lao động chưa được xác định rõ; các giải
và hoàn thiện quan hệ lao động. Các chế độ về tiền lương, thu nhập, trợ cấp
ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao năng suất lao động và cải thiện thu
nhập của người lao động.
2.1.2.2 Về kết nối cung cầu lao động
Hệ thống dịch vụ việc làm được phát triển từ năm 1992 qua Chương
trình việc làm quốc gia theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày
11/4/1992, đã tạo môi trường pháp lý phát triển dịch vụ kết nối cung-cầu về
lao động, tăng cường cơ hội để người lao động tiếp cận thông tin về việc làm,
lựa chọn công việc. Đặc biệt, với việc sửa Điều 18 của Bộ luật lao động năm
1995, Nghị định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/5/2005 và Nghị định số
71/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 19/2005/NĐ-CP đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho dịch vụ
việc làm. Cùng với các trung tâm giới thiệu việc làm công lập, các doanh
nghiệp cũng được phép hoạt động giới thiệu việc làm, kể cả sự tham gia của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
2.1.2.3 Về hỗ trợ lao động di chuyển
Chính phủ đã thực hiện các chương trình hỗ trợ di cư đến các vùng
kinh tế mới; hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư đối với đồng bào dân
tộc thiểu số (Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg); Chương trình di dân gắn với
xóa đói giảm nghèo (thuộc nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về
giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010). Các chương trình di dân đã đáp ứng một
16
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
phần về tái phân bổ nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế vùng,
góp phần ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và bảo vệ an ninh
quốc phòng.
Các quy định về cư trú, đăng ký hộ khẩu tại các khu đô thị, các thành
phố lớn ngày càng thông thoáng. Luật Cư trú (năm 2007) đã mở rộng quyền
các hộ sản xuất kinh doanh vượt qua giai đoạn khó khăn, duy trì sản xuất, trả
lương và đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Quyết định số
30/2009/QĐ-TTg ngày 23/02/2009 về việc hỗ trợ đối với người lao động mất
việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế; Quyết định
số 92/2009/QĐ-TTg ngày 08/7/2009 về tín dụng đối với thương nhân hoạt
động thương mại tại vùng khó khăn. Một số biện pháp hỗ trợ khác như: miễn,
giảm thuế cho doanh nghiệp, giãn thời gian nộp một số loại thuế (Nghị quyết
số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; Nghị quyết số
08/2011/QH13 về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ
khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân; Quyết định số 21/2011/QĐ-TTg ngày
06/4/2011 về gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp nhỏ
và vừa nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ). Ngoài ra, còn có các biện pháp hỗ
trợ như khuyến khích xuất khẩu, ứng trước kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước của các năm sau đã tác động trực
tiếp tới vấn đề duy trì việc làm và thu nhập cho người lao động trong bối cảnh suy giảm kinh tế, người mất việc làm
gia tăng.
2.1.2.5 Về đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Nhà nước đã hình thành một hệ thống chính sách thúc đẩy việc làm
ngoài nước, xây dựng các chương trình trọn gói từ đào tạo, cho vay vốn để hỗ
trợ người lao động khi về nước, đặc biệt là người lao động thuộc hộ nghèo:
Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN về việc cho vay vốn đối với lao động đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Quyết định số 143/2007/QĐ-TTg ngày
06/7/2007 về việc thành lập, quản lý Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; Quyết
18
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện
nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai
đoạn 2009 - 2020.
2.1.2.6 Về cho phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
dạy nghề còn thiên lệch, ít coi trọng học nghề để lập thân, lập nghiệp.
Thứ hai, Các chính sách chưa đủ mạnh để giải phóng triệt để mọi nguồn
lực cho đầu tư phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm; nhất là thiếu chính sách
khuyến khích phát triển thị trường lao động như chính sách tiền lương, tiền công
chưa thực sự theo nguyên tắc thị trường và hiệu quả; chưa có chính sách thỏa
đáng trọng dụng nhân tài; cũng như chính sách đầu tư mạnh phát triển hệ thống
giao dịch của thị trường lao động để kết nối cung-cầu lao động.
Thứ ba, Chưa gắn quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, nhất là phát triển
các ngành kỹ thuật, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, phát triển
doanh nghiệp với quy hoạch, kế hoạch đào tạo, dạy nghề, sử dụng lao động;
chưa có quy định pháp lý bảo hộ thu nhập và tài sản hợp pháp của người lao
động, của công dân trong kinh tế thị trường.
Thứ tư, Chưa có nhận thức rõ ràng về xây dựng quan hệ lao động hài hòa
tại doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, chưa thiết lập
được cơ chế đối thoại, thương lượng và thỏa thuận thực chất giữa các bên về
quan hệ lao động, giải quyết tranh chấp lao động và đình công đúng với nguyên
tắc thị trường.
Thứ năm, Hậu quả là chất lượng lao động quá thấp, thiếu nghiêm trọng lao
động kỹ thuật trình độ cao; chất lượng việc làm và năng suất lao động cũng rất
thấp, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên rất cao; vấn đề việc làm và đời sống của lao
20
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
động nông nghiệp vùng bị thu hồi đất rất bức xúc, dòng di chuyển lao động nông
thôn-thành thị có xu hướng ngày càng tăng.
Thứ sáu, Một hạn chế chính sách lao động - việc làm hện nay đó là còn kẽ
hở tạo sự lạm dụng từ phía chủ sử dụng lao động, gây thiệt hại cho quyền lợi
kinh tế và cả sức khỏe của người lao động. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp
lạm dụng sức lao động ngoài giờ và cắt xén các chế độ bảo hộ lao động của công
nhân, hoặc có khả năng trả lương cao hơn, nhưng họ vin vào mức lương tối thiểu
tham gia BHXH tự nguyện còn rất thấp, năm 2012 mới chiếm khoảng 0,25% số
lao động thuộc diện tham gia; nông dân, lao động trẻ tham gia chưa nhiều.
2.2.2 Một số hạn chế trong việc giải quyết vấn đề việc làm cho người
lao động.
Thứ nhất, hạn chế lớn nhất là chính sách việc làm hiện nay chủ yếu mới chú trọng đến tạo việc làm theo
chiều rộng, càng nhiều việc làm càng tốt mà chưa chú trọng đến chất lượng việc làm. Vì vậy, chưa khuyến khích
người lao động nâng cao trình độ và tay nghề.
Đến thời điểm 1/7/2011, trong tổng số hơn 50,4 triệu người từ 15 tuổi
trở lên đang làm việc, chỉ có gần 7,7 triệu người đã được đào tạo, chiếm
15,2%. Hiện cả nước có 84,8% số người đang làm việc chưa được đào tạo để
đạt một trình độ chuyên môn kỹ thuật nào đó. Vì thế làm cho tính ổn định,
bền vững trong việc làm và hiệu quả tạo việc làm còn thấp. Đó là thách thức
đối với người lao động trong việc tăng thu nhập, có cơ hội tiếp cận công bằng
về việc làm và hòa nhập với xã hội.
Thứ hai, chính sách về việc làm ban hành còn tản mạn ở nhiều văn bản gây chồng chéo. Các quy định
của chính sách việc làm mang tính quy phạm chưa cao, chính sách chủ yếu hướng vào hỗ trợ, khuyến khích chưa rõ
trách nhiệm của các đối tượng điều chỉnh của chính sách. Một số chính sách hỗ trợ việc làm chưa được hướng dẫn cụ
thể như: chính sách miễn giảm thuế để khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị và cá nhân tạo việc làm cho
nhiều người lao động; chính sách khuyến khích đưa nhiều lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở
nước ngoài có thu nhập cao; đi làm việc tại các công trình, dự án do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước trúng
22
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
thầu, nhận thầu, đầu tư ở nước ngoài; chính sách hỗ trợ người lao động sau khi về nước
Thứ ba, chính sách tín dụng chưa phù hợp về điều kiện vay và mức vay, thiếu gắn kết giữa cho vay vốn
và hỗ trợ đầu vào tiếp cận thị trường nên hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Nhiều chính sách ưu đãi tín dụng chồng
chéo trên cùng một đối tượng gây khó khăn cho việc thực hiện và khó đi vào cuộc sống.
Quỹ quốc gia giải quyết việc làm ngày càng tập trung nhiều cho hộ gia
đình vay vốn, ít hỗ trợ các doanh nghiệp để tạo thêm nhiều việc làm mới. Các
quy định về Quỹ giải quyết việc làm chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời gây
Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về HĐLĐ cũng phát sinh nhiều
vấn đề bất cập. Việc giao kết sai loại hợp đồng còn diễn ra phổ biến, gây ảnh
hưởng đến quyền lợi của người lao động. Nội dung giao kết trong hợp đồng lao
động còn sơ sài, không bảo đảm các nội dung tối thiểu theo quy định của pháp
luật. Tình trạng chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải người lao động trái pháp
luật diễn ra khá phổ biến, dẫn tới việc nhiều tranh chấp lao động phát sinh.
2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện chính sách
kinh tế và chính sách xã hội trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam.
2.3.1 Nguyên nhân khách quan.
Thứ nhất, Việc sửa đổi, điều chỉnh các quy định mới trong pháp luật lao động diễn ra thường xuyên để
đáp ứng với sự phát triển của đất nước gây khó khăn cho việc nắm bắt, hiểu rõ luật của người dân.
Thứ hai, Tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế và chính sách xã hội chưa tốt. Sự phối hợp giữa các
cơ quan trung ương và địa phương chưa đồng bộ. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách này đã được các cơ
quan, tổ chức và các địa phương quan tâm nhưng hiệu quả chưa được như mong muốn.
Thứ ba, Chúng ta chưa có định hướng, quy hoạch tổng thể các chính sách, quy hoạch phát triển vùng,
ngành nghề sản xuất kinh doanh cho nên sự chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lạo động chủ yếu làm trong lĩnh
vực nông nghiệp hoặc khu vực phi chính thức có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thấp.
Thứ tư, trong những năm gần đây, suy giảm kinh tế gây nhiều khó khăn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp rơi
vào tình trạng sản xuất cầm chừng, thua lỗ và phá sản; Dẫn đến ảnh hưởng xấu
24
Luật lao động
Trần Thị Thu Hường _ QTNL 1E
tới sự phát triển của nền kinh tế, gây khó khăn cho vấn đề an sinh xã hội, giải
quyết việc làm…
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan.
Thứ nhất, Nhà nước chưa sát sao trong việc tổ chức và giám sát thực hiện
các chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong pháp luật lao động.
Thứ hai, Sự thống nhất chưa cao về quan điểm, nhận thức chung của các
các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp, cũng như của bản thân người