Báo cáo " Vấn đề bình đẳng giới và những đảm bảo trong pháp luật lao động Việt Nam " - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
10
Đặc san về bình đẳ
ng giới
TS. Đào Thị Hằng *
1. Thut ng "gii" khụng cú ngha l
"ph n" hay "gii tớnh". Gii l phm trự
ch mi quan h xó hi gia nam gii v ph
n, biu hin cỏch thc phõn nh xó hi
gia hai i tng ny, cú liờn quan n cỏc
vn thuc v th ch xó hi. Cũn gii tớnh
l phm trự ch s khỏc bit v mt sinh hc
gia nam gii v ph n, th hin cỏc c
im bm sinh m khi con ngi sinh ra ó
cú. Vớ d, nam gii cú th lm th thai; ph
n cú th sinh con v cho con bỳ.
Khỏc vi gii tớnh, cỏc c im gii
khụng t nhiờn sinh ra v khụng phi l c
im sinh hc. Nú th hin quan nim xó hi
v chu s tỏc ng ca nhiu yu t khỏc
nhau nh vn hoỏ, xó hi, kinh t, chớnh
sỏch, phỏp lut do vy nú cú th khụng
ging nhau cỏc quc gia. Vớ d, mt s

ngi chp nhn v tuõn th.
Nhỡn chung, cỏc nh kin gii v s
phõn bit i x trờn c s gii ó v ang
tn ti nhiu quc gia. S phõn bit i x
trờn c s gii thng t ph n vo v th
bt bỡnh ng, l thuc v bt li hn so vi
nam gii. Chng hn, mt s nh kin coi
ph n l yu ui, th ng, th yu; coi
nam gii l c lp, mnh m, cú nng lc,
quan trng hn v l ngi ra quyt nh. Do
vy, ph n ớt c giao cỏc trng trỏch lónh
o, qun lý, bi nh kin cho rng h
* Trng i hc Lut H Ni

nghiªn cøu - trao ®æi

§Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi
11

không đủ mạnh để làm lãnh đạo. Ngược lại,
nam giới không được xem là có khả năng
chăm sóc con cái cho nên định kiến này đã
hạn chế cơ hội của nam giới tham gia vào
hoạt động chăm sóc gia đình. Xét trên phạm
vi toàn cầu, phụ nữ chiếm trên 50% dân số
và cũng chiếm phần đông trong số người
nghèo và là nạn nhân của các hành động

là "nhạy cảm giới"). Nếu nam giới và phụ nữ
có điều kiện và năng lực ngang nhau, họ
phải được tạo cơ hội hoặc có trách nhiệm
như nhau. Mặt khác, sự khác biệt giữa phụ
nữ và nam giới về các mặt cũng phải được
thừa nhận và được tính đến đầy đủ khi hoạch
định và thực hiện các chính sách nhất định
nhằm tạo điều kiện và cơ hội đầy đủ cho các
chủ thể; chủ thể yếu thế hơn phải được ưu
tiên hơn để tạo thế cân bằng.
Bình đẳng giới vừa là vấn đề cơ bản về
quyền con người, vừa là yêu cầu về sự phát
triển xã hội một cách công bằng, hiệu quả và
bền vững. Nghiên cứu của Ngân hàng thế
giới cho thấy bình đẳng giới được cải thiện
sẽ đưa đến trình độ phát triển kinh tế ở mức
cao hơn. Việc chú trọng và tăng cường bình
đẳng giới cũng góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống của cả nam giới và phụ nữ.
Người ta thường cho rằng phụ nữ là người
được thụ hưởng trong tiến trình bình đẳng
giới, tuy nhiên thực tế cuộc sống cũng cho
thấy cả nam giới và gia đình họ cũng được
thụ hưởng từ sự bình đẳng đó. Chẳng hạn,
người phụ nữ được tạo điều kiện nâng cao
trình độ, năng lực chuyên môn thì những
người gần gũi nhất với họ như chồng, con
hoặc người sử dụng lao động cũng được
hưởng lợi. Trong trường hợp ngược lại,
những trở ngại hoặc bất bình đẳng đối với

đầy đủ vai trò và đóng góp của phụ nữ, coi
trọng con trai hơn con gái vẫn còn tồn tại
khá phổ biến. Do vậy, cũng như các nước
khác, Việt Nam đang thực hiện mọi nỗ lực
để cải thiện vị thế của người phụ nữ trong
gia đình và xã hội nhằm đạt được mục tiêu
bình đẳng giới. Bình đẳng giới trở thành mục
tiêu và vấn đề trung tâm của sự phát triển, là
yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng của
quốc gia, là điều kiện tiên quyết để đạt được
sự an toàn về chính trị, kinh tế, xã hội và duy
trì văn hoá truyền thống.
Nhận thức rõ vấn đề đó, Nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định:
"Thiết thực chăm lo sự bình đẳng về giới, về
sự tiến bộ của phụ nữ" và "Đối với phụ nữ,
thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình
đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp,
nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để
phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ
quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các
ngành…; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện
tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình
no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc".
(2)

Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước của
Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân
biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW).
Tại cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ của

lao động là xương sống, chủ đạo. nghiªn cøu - trao ®æi

§Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi
13

Quán triệt nguyên tắc bình đẳng giới,
trước hết Bộ luật lao động (BLLĐ, có hiệu
lực từ ngày 1/1/1995 và được sửa đổi, bổ
sung vào năm 2002) coi người lao động
nam và lao động nữ có vị trí xã hội ngang
nhau thông qua việc quy định các vấn đề về
việc làm, học nghề, hợp đồng lao động,
thoả ước lao động tập thể tại các chương
tương ứng có giá trị áp dụng đối với mọi
người lao động làm công ăn lương nói
chung, không phân biệt nam hay nữ. Điều
này góp phần xoá bỏ định kiến coi phụ nữ
chỉ là người phụ thuộc, là con người của gia
đình, bếp núc chuyên lo việc tề gia nội trợ,
là con người duy nhất với những bổn phận
và trách nhiệm gia đình.
Quan trọng hơn, BLLĐ không chỉ dừng
ở đó mà còn thiết kế một chương riêng-
chương X với 10 điều (từ Điều 109 đến
Điều 118) gồm những quy định riêng đối
với lao động nữ. Điều này xuất phát từ cách
nhìn nhận toàn diện về người lao động hai

và trực tiếp tại Điều 109 như một tuyên bố
hoặc cam kết: "Nhà nước bảo đảm quyền
làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt
với nam giới " Đáng chú ý là cụm từ "bình
đẳng" đã được sử dụng không phải chỉ một
lần tại chương X, cùng với đó là các cụm từ
như "nghiêm cấm hành vi phân biệt đối
xử", "ưu đãi", "ưu tiên" thể hiện rõ hơn
mục tiêu bình đẳng giới của các nhà làm
luật.
Như vậy, trong lĩnh vực tuyển dụng -
việc làm, về nguyên tắc cả nam giới và phụ
nữ đều có quyền làm việc và bình đẳng
trong cơ hội việc làm. Tuy nhiên, do nhận
thức được nguy cơ ảnh hưởng bất lợi của
một số "điểm yếu" của phụ nữ mà BLLĐ đã
quy định đặt trách nhiệm cho người sử dụng
lao động phải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm
việc khi người đó đủ tiêu chuẩn tuyển chọn
làm công việc phù hợp với cả nam và nữ mà
doanh nghiệp đang cần (khoản 2 Điều 111).
Dù vậy, khó có thể nói quy định này có tính
khả thi, bởi thật khó xác định hoặc chứng
minh hành vi "ưu tiên" hay "không ưu tiên" nghiªn cøu - trao ®æi
14
§Æc san vÒ b×nh ®¼
ng giíi

còn cả nam giới. Hơn nữa, nam giới cũng
có đủ khả năng để thực hiện công việc này.
Cũng chính vì vậy mà Điều lệ bảo hiểm xã
hội (BHXH) (ban hành kèm theo Nghị định
số 12/CP) đã xác định cả bố hoặc mẹ (tham
gia BHXH) đều có quyền nghỉ việc hưởng
trợ cấp BHXH để chăm sóc con (dưới 7
tuổi) ốm đau. Tương tự, người lao động
nam cũng có thể nuôi con nuôi sơ sinh và
được nghỉ hưởng trợ cấp (BHXH thai sản)
để nuôi con (cho đến khi con đủ 4 tháng
tuổi) tương tự như người lao động nữ trong
trường hợp này.
Hiện tại, pháp luật mới chỉ dành quyền
ưu tiên cho người lao động nam không bị
xử lý kỷ luật lao động trong thời gian họ
phải nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (tương
tự như người lao động nữ) (Điều 8 Nghị
định số 41/CP ngày 6/7/1995; khoản 3 Điều
1 Nghị định số 33/2003/NĐ-CP). Theo
chúng tôi, để đảm bảo triệt để nguyên tắc
bình đẳng giới, cần sửa đổi, bổ sung các
điều luật tương ứng theo hướng: Người lao
động nam cũng được tạm hoãn việc đơn
phương chấm dứt HĐLĐ từ phía NSDLĐ
trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng
tuổi. NSDLĐ cũng không được sa thải hoặc
đơn phương chấm dứt HĐLĐ vì lý do người
lao động nam nuôi con nhỏ.
Một lĩnh vực khác cũng liên quan nhiều

nhiên thuộc trách nhiệm của người bố.
(4)

Điều này gây khó khăn rất lớn cho người lao
động nam khi phải thay vai trò của người mẹ
nuôi con nhỏ trong khi không được hưởng
khoản trợ cấp nào hoặc nếu có cũng không
đáng kể
(5)
đồng thời cũng không đảm bảo sự
công bằng giữa các cháu nhỏ mới sinh mất
mẹ và các cháu có mẹ. Do vậy, cần bổ sung
quy định trong lĩnh vực này theo hướng:
Trường hợp người lao động nữ sinh con mà
chết ngay sau khi sinh thì người chồng (có
tham gia BHXH) được nghỉ hưởng trợ cấp
BHXH để nuôi con như trường hợp nuôi con
nuôi sơ sinh, nghĩa là được hưởng trợ cấp
cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi, ngoài khoản
trợ cấp một lần bằng một tháng tiền lương.
Nếu có người khác thay người bố nuôi con
thì người bố vẫn được hưởng khoản trợ cấp
BHXH nói trên, nghĩa là khi người bố vẫn
tiếp tục đi làm việc thì cũng được hưởng trợ
cấp thai sản, ngoài tiền lương của những
ngày làm việc. Trường hợp người lao động
nữ chết sau khi sinh con một thời gian thì
người chồng (có đóng BHXH) sẽ được
hưởng trợ cấp thai sản cho khoảng thời gian
còn lại (kể từ khi người vợ chết) cho đến khi

hợp lý, mặt khác còn tận dụng được sự cống
hiến của người lao động nữ khi trình độ
chuyên môn và kinh nghiệm làm việc lúc
này có thể đạt ở mức cao nhất trong cuộc đời
lao động của họ (có không ít người bảo vệ
luận án tiến sĩ chỉ mấy năm thì đã đến tuổi
55 phải nghỉ hưu) đồng thời cũng cải thiện
hơn cân đối thu chi của quỹ BHXH. Tuy
nhiên, đối với những người làm việc trong
một số ngành nghề như chế biến thuỷ, hải nghiªn cøu - trao ®æi
16
§Æc san vÒ b×nh ®¼
ng giíi

sản, dệt, may (những ngành nghề sử dụng
chủ yếu lao động nữ) mà yêu cầu công việc
đòi hỏi một tư thế làm việc nhất định như
đứng hoặc ngồi hoặc đi lại liên tục hoặc độ
tinh tường của đôi mắt cũng như sự khéo léo
của đôi tay luôn phải đảm bảo thì độ tuổi
từ 50 trở đi là khó thích hợp, ít nhất thì năng
suất lao động của họ cũng dễ giảm sút. Ở
những trường hợp này, cần giảm tuổi nghỉ
hưu của nữ xuống dưới 55 tuổi để vừa đảm
bảo sức khoẻ người lao động, vừa tạo điều
kiện cho doanh nghiệp có thể thay thế lao
động phù hợp để đảm bảo năng suất lao

thì cách xác định căn
cứ tính lương hưu trong trường hợp như nêu
trên theo chúng tôi cũng là hợp lý.
Tóm lại, bình đẳng giới là mục tiêu
hướng tới của các ngành, các cấp và trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Pháp luật lao
động nhìn chung đã đạt được nhiều thành
tựu trong việc đảm bảo mục tiêu này song
vẫn còn một số vấn đề cần được tiếp tục
nghiên cứu để nâng cao hơn nữa hiệu quả
điều chỉnh của pháp luật./.

(1).Xem: Điều 1 Công ước CEDAW- Công ước của
Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử với phụ nữ.
(2). Đảng Cộng sản Việt Nam, “Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX”, Nxb. Chính trị Quốc gia - 2001
(3). Một số tài liệu nghiên cứu về y học cho thấy, nam
và nữ ở cùng độ tuổi song lại khác nhau về chiều cao,
cân nặng và nhiều tiêu thức khác về sức khoẻ. Nếu
nam giới có hệ số sức khoẻ là 1 thì nữ giới thường chỉ
bằng 0,9 đến 0,94.
(4). Pháp luật hiện hành mới chỉ đề cập trường hợp
người lao động nữ sinh con mà con bị chết.
(5). Cháu nhỏ có thể được hưởng tiền tuất hàng tháng
nếu người mẹ đã có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm
trở lên (nếu coi người lao động nữ đang nghỉ thai sản
cũng là trường hợp họ "đang làm việc" theo quy định
tại Điều 146 BLLĐ) hoặc trong một số trường hợp
khác. Tuy nhiên, mức tiền tuất là khá khiêm tốn, chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status