luận văn quản trị kinh doanh Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất của Công ty cổ phần Bia Á Châu - Pdf 27

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Kinh tế Việt Nam trong những năm 2011 đã bước vào giai đoạn phục hồi. là
một trong những nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế toàn cầu sớm nhất, tuy vậy nền
kinh tế nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao, giá nguyên nhiên vật
liệu tăng cao…đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh cũng không ngừng tăng ảnh
hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
trong nước vẫn đang lao đao tìm cho mình một giải pháp phát triển, một hướng đi đúng
đắn. Để có thể đứng vững trên thương trường đầy khó khăn đòi hỏi doanh nghiệp phải
có một trình độ, phương pháp quản lý đúng đắn.
Đối với một doanh nghiệp bất kỳ thì hoạt động lập kế hoạch là chức năng đầu
tiên của quá trình quản lý , có vai trò rất quan trọng . Lập kế hoạch gắn liền với việc
lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai , là cơ sở để xác định và
triển khai các chức năng còn lại là tổ chức , lãnh đạo , kiểm tra .Bởi vậy chất lượng của
công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh được nâng cao sẽ là điều kiện cần thiết để
đảm bảo quá trinh kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
Tuy vậy, công tác lập kế hoạch và nhất là kế hoạch sản xuất kinh doanh tại các
doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thật sự khoa học, các doanh nghiệp chưa ứng dụng
được công cụ quản lý hiệu quả này với bản chất hoạt động của doanh nghiệp.Xuất phát
từ vai trò quan trọng của việc lập kế hoạch, những tồn tại trong công tác lập kế hoạch
sản xuất và trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động lập kế hoạch tại Công ty Cổ
phần Bia Á Châu nên em đã chọn đề tài “ Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất
của Công ty cổ phần Bia Á Châu” cho chuyên đề thực tập của mình.
2. Đối tượng nghiên cứu: Công ty cổ phần Bia Á Châu
3. Mực đích nghiên cứu
Trong quá trình thực tập, nhận thấy các vấn đề còn tồn tại trong công tác kế
hoạch của công ty cũng như nhận thấy vai trò to lớn của kế hoạch đối với hoạt động
sản xuất, em nghiên cứu đề tài với mong muốn có thể đóng góp phần nào những
nghiên cứu tìm tòi của mình để góp phần nâng cao chất lượng bản kế hoạch của công
ty, hoàn thiện công tác lập kế hoạch để công ty ngày càng phát triển.

Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với
mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành
động trong tương lai, giúp nhà quản lý xác định được các chức năng khác còn lại nhằm
đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra.
Cho đến nay thì có rất nhiều khái niệm về chức năng lập kế hoạch. Với mỗi
quan điểm, mỗi cách tiếp cận khác nhau đều có khái niệm riêng nhưng tất cả đều cố
gắng biểu hiện đúng bản chất của phạm trù quản lý này.
Nếu đứng trên góc độ ra quyết định thì : “ Lập kế hoạch là một loại ra quyết
định đặc thù để xác định một tương lai cụ thể mà các nhà quản lý mong muốn cho tổ
chức của họ “. Quản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và
kiểm tra . Lập kế hoạch có thể ví như là bắt đầu từ rễ cái của một cây sồi lớn , rồi từ đó
mọc lên các “ nhánh” tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Xét theo quan điểm này thì lập kế
hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yêú đối với mỗi nhà quản lý.
Với cách tiếp cận theo nội dung và vai trò:
Theo RONNER : ”Hoạt động của công tác lập kế hoạch là một trong những hoạt
động nhằm tìm ra con đường để huy động và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu
quả nhất để phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.”
Theo HENRYPAYH : “Lập kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bản của
quá trình quản lý cấp công ty, xét về mặt bản chất thì hoạt động này nhằm mục đích
xem xét các mục tiêu, các phương án kinh doanh, bước đi trình tự và cách tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh.”
Như vậy , Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các
phương thức để đạt được các mục tiêu đó . Lập kế hoạch nhằm mục đích xác định
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
mục tiêu cần phải đạt được là cái gì ? và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó
như thế nào ? Tức là, lập kế hoạch bao gồm việc xác định rõ các mục tiêu cần đạt
được, xây dựng một chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đã đặt ra , và việc

Chuyên đề tốt nghiệp
nội bộ doanh nghiệp cũng như môi trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của
chúng để đưa ra những giải pháp ứng phó thích hợp.
- Lập kế hoạch làm giảm được sự chồng chéo và những hoạt động làm lãng phí
nguồn lực của doanh nghiệp. Khi lập kế hoạch thì những mục tiêu đã được xác định ,
những phương thức tốt nhất để đạt mục tiêu đã được lựa chọn nên sẽ sử dụng nguồn
lực một cách có hiệu quả, cực tiểu hoá chi phí bởi vì nó chủ động vào các hoạt động
hiệu quả và phù hợp.
- Lập kế hoạch sẽ thiết lập được những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác
kiểm tra đạt hiệu quả cao. Một doanh nghiệp hay tổ chức nếu không có kế hoạch thì
giống như là một khúc gỗ trôi nổi trên dòng sông thời gian. Một khi doanh nghiệp
không xác định được là mình phải đạt tới cái gì và đạt tới bằng cách nào, thì đương
nhiên sẽ không thể xác định đựợc liệu mình có thực hiện được mục tiêu hay chưa, và
cũng không thể có được những biện pháp để điều chỉnh kịp thời khi có những lệch lạc
xảy ra . Do vậy, có thể nói nếu không có kế hoạch thì cũng không có cả kiểm tra .
Như vậy, lập kế hoạch quả thật là quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp , mỗi
nhà quản lý . Nếu không có kế hoạch thì nhà quản lý có thể không biết tổ chức , khai
thác con người và các nguồn lực khác của doanh nghiệp một cách có hiệu quả , thậm
chí sẽ không có được một ý tưởng rõ ràng về cái họ cần tổ chức và khai thác . Không
có kế hoạch , nhà quản lý và các nhân viên của họ sẽ rất khó đạt được mục tiêu của
mình , họ không biết khi nào và ở đâu cần phải làm gì .
Tóm lại , chức năng lập kế hoạch là chức năng đầu tiên , là xuất phát điểm của
mọi quá trình quản lý . Bất kể là cấp quản lý cao hay thấp , việc lập ra được những kế
hoạch có hiệu quả sẽ là chiếc chìa khoá cho việc thực hiện một cách hiệu quả những
mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.
1.1.3. Những yêu cầu đối với kế hoạch sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp
Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần quán triệt các
yêu cầu sau :
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp cần quán triệt

+ Nguyên vật liệu và nguồn lực khác: ai cung cấp?, sản lượng bao nhiêu?, chất
lượng như thế nào?, số lượng lao động, trình độ tay nghề?,
+ Dự toán chi phí sản xuất
Việc xác định các yếu tố này phải thỏa mãn các ràng buộc chặt chẽ về mặt kỹ
thuật, các mục tiêu của doanh nghiệp và các nguồn lực của các bộ phận khác nhau
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
trong DN đặc bệt là các ràng buộc về mục tiêu bán hàng, khả năng cung ứng nhân sự
và các mục tiêu tài chính.
Kế hoạch sản xuất kinh doanh gồm nhiều nội dung: Kế hoạch năng lực sản xuất,
kế hoạch hóa các nguồn sản xuất. Kế hoạch hóa các nguồn sản xuất gồm: Kế hoạch sản
xuất tổng thể, kế hoạch chỉ đạo sản xuất và kế hoạch nhu cầu sản xuất, kế hoạch tiến
độ sản xuất.
1.1.4.1. Kế hoạch năng lực sản xuất
Dựa trên cơ sở các chiến lược dài hạn của doanh nghiệp và các dự báo nhu cầu
thị trường, doanh nghiệp phải cân nhắc việc quyết đoán trang bị cho mình một mức độ
năng lực sản xuất nhất định. Quyết định này tác động rất lớn đến phần chi phí cố định,
và nó cũng quyết định xem liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được nhu cầu hay
các thiết bị của nó sẽ không được sử dụng hết. Nếu công suất của nhà máy quá lớn, bộ
phận không sản xuất sẽ tăng thêm chi phí cố định, ngược lại, nếu công suất nhà máy
quá nhỏ, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng. Do vậy, việc xác định quy mô của thiết bị
sản xuất là rất quan trọng, nó không chỉ có tác động ngắn hạn mà còn ảnh hưởng tới
những vấn đề mang tính chiến lược của doanh nghiệp. Năng lực sản xuất của doanh
nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết phải kể đến công suất của máy móc
thiết bị, và sau đó là mức độ cũng như hiệu suất sử dụng các máy móc thiết bị này
trong những điều kiện cụ thể.
 Xác định công suất
Công suất thiết kế là mức sản lượng lý thuyết tối đa của một hệ thống sản xuất
trong một thời kỳ nhất định. Nó thường được thế hiện bằng tỷ lệ, như số tấn thép trong

thống, sau đó những kết quả dự báo này sẽ được sử dụng để xác định nhu cầu công
suất.
Khi quy mô công suất đã được dự báo, bước tiếp theo xác định quy mô gia tăng
cận biên của công suất, với giả thiết rằng nhà quản lý đã biết trước công nghệ được sử
dụng và loại thiết bị sẽ được huy động để thỏa mãn nhu cầu tương lai.
Trong trường hợp nhu cầu về công suất không dự đoán trước được, doanh
nghiệp có thể sử dụng các mô hình “xác suất”. Một trong những kỹ thuật hay được áp
dụng để lập kế hoạch năng lực sản xuất trong điều kiện nhu cầu không chắc chắn là lý
thuyết đưa ra quyết định, trong đó sử dụng cây quyết định. Cây quyết định đòi hỏi phải
xác định các sự lựa chọn và các trạng thái tự nhiên khác nhau. Đối với việc hoạch định
công suất, trạng thái tự nhiên thường là nhu cầu tương lai hoặc triển vọng của thị
trường. Bằng việc gắn các giá trị xác suất cho các trạng thái tự nhiên, chúng ta có thể
đưa quyết định cho phép tối đa hóa giá trị kỳ vọng của lựa chọn.
1.1.4.2. Kế hoạch các nguồn sản xuất
 Kế hoạch sản xuất tổng thể
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Kế hoạch sản xuất tổng thể liên quan đến việc xác định khối lượng và thời gian
sản xuất cho tương lai gần thường là trong vòng từ 3 đến 18 tháng. Nhà sản xuất cố
gắng tìm cách thức tốt nhất để đáp ứng nhu cầu bằng cách điều phối quy mô sản xuất,
mức độ sử dụng lao động, sử dụng giờ phụ trội, thuê gia công và các yếu tố sản xuất khác.
Thông thường mục tiêu của kế hoạch sản xuất tổng thể nhằm giảm thiểu chi phí trong kì
kế hoạch. Tuy nhiên các vấn đề chiến lược khác cũng có thể được ưu tiên so với việc giảm
thiểu chi phí, chẳng hạn như việc theo đuổi chính sách dự trữ giảm dần hoặc sách hướng
tới sản phẩm chất lượng cao. Đối với đa phần các DN sản xuất, kế hoạch sản xuất tổng thể
nhằm đưa ra các chính sách sản xuất, thương mại, mua sắm, cung ứng, cho hoạt động
chung và cho các nhóm sản phẩm.
Kế hoạch sản xuất tổng thể là một phần của hệ thống kế hoạch hóa sản xuất, do
vậy cần thiết phải hiểu được mối quan hệ giữa kế hoạch và một số các yếu tố bên trong

sử dụng một số kỹ thuật để giải quyết mâu thuẫn này.
1.1.5. Các căn cứ lập kế hoạch sản xuất
1.1.5.1. Căn cứ vào chủ trương, đường lối , chính sách phát triển kinh tế xã
hội của Đảng và Nhà nước
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, nên các kế hoạch sản xuất
kinh doanh do doanh nghiệp đề ra phải phù hợp với chủ trương , đường lối , chính
sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước .Nếu hoạt động của doanh nghiệp
mà đi ngược lại xu thế phát triển , vi phạm những lợi ích chung của nền kinh tế nó sẽ bị
đào thải , ngược lại nếu nhận thức và hoà mình vào xu thế phát triển chung thì doanh
nghiệp sẽ phát triển ổn định và bền vững .
1.1.5.2. Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu thị trường
Trong nền kinh tế thị trường ,doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lớn mạnh
thì phải lấy thị trường là trung tâm cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình,
thị trường chính là nơi quyết định sản xuất cái gì ? Sản xuất như thế nào ? Sản xuất cho
ai ? Do vậy nghiên cứu thị trường là công việc cần thiết đầu tiên đối với bất cứ doanh
nghiệp nào trong quá trình kinh doanh . Một doanh nghiệp không thể khai thác hết tiềm
năng của mình cũng như không thoả mãn tốt được nhu cầu của khách hàng nếu không
có được đầy đủ các thông tin chính xác về thị trường . Vì vậy nghiên cứu thị trường
khâu quan trọng đầu tiên làm cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng
năm của Công ty Thông qua việc nghiên cứu thị trường Công ty sẽ nắm được những
thông tin về giá cả , tình hình cung cầu sản phẩm mà Công ty sản xuất để đề ra những
phương án chiến lược và lập kế hoạch kinh doanh cho Công ty.
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực
hoạt động và phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả . Kết quả điều tra nghiên cứu
nhu cầu thị trường phải phản ánh được qui mô, cơ cấu đối với từng sản phẩm và dịch
vụ của doanh nghiệp , có tính đến tác động của các nhân tố làm tăng hoặc giảm cầu để
đáp ứng yêu cầu của công tác lập kế hoạch .Những kết quả điều tra nghiên cứu này có

nhu cầu của khách hàng là sản phẩm gì?
- Dự đoán trước những luật và chính sách mới nào sẽ ra đời có ảnh hưởng đến
công việc kinh doanh của doanh nghiệp.Đây là điều rất quan trọng , bởi hiện nay Nhà
nước ta đang hoàn thiện hệ thống luật nên có rất nhiều luật và chính sách mới ra đời có
ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của doanh nghiệp , mà để tồn tại lâu dài trên
thương trường thì doanh nghiệp không thể không phân tích những thay đổi đó như luật
thuế , các chế độ kế toán mới, luật xuất nhập khẩu…
- Những thay đổi của thị trường cung ứng đầu vào như lao động , vật tư ,
nguyên vật liệu cho sản xuất , máy móc thiết bị…
Ngoài ra , doanh nghiệp cũng cần phải phân tích các nguồn lực của mình để
xác định những điểm yếu và điểm mạnh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh
tranh khác .
1.1.6.2. Thiết lập các mục tiêu
Khi lập kế hoạch các tổ chức cần phải thiết lập được hệ thống các mục tiêu mà
mình cần đạt tới .Các mục tiêu đưa ra phải xác định rõ thời hạn để thực hiện và được
lượng hoá đến mức cao nhất có thể . Trong tổ chức có hai loại mục tiêu là mục tiêu
định tính và mục tiêu định lượng, nhưng mục tiêu định lượng thường rõ ràng và dễ
thực hiện hơn . Ngoài ra, theo các thứ tự ưu tiên khác nhau thì các mục tiêu cũng nên
được phân nhóm . Một tổ chức hay doanh nghiệp đều có thể có hai loại mục tiêu là
mục tiêu hàng đầu và mục tiêu hàng thứ hai . Những mục tiêu hàng đầu thường liên
quan đến sự sống còn và thành đạt của tổ chức .Đối với một doanh nghiệp, đó là những
mục tiêu về lợi nhuận , doanh thu hay thị phần. Nếu không đạt được một mức lợi
nhuận , mức doanh thu hay mức thị phần nhất định trong một thời kỳ nào đó , thì
doanh nghiệp có thể bị phá sản. Còn mục tiêu hàng thứ hai lại liên quan đến tính hiệu
quả của doanh nghiệp. Chúng không ảnh hưởng lớn đến sự sống còn của doanh nghiệp
như các mục tiêu hàng đầu nhưng cũng rất quan trọng đối với sự thành công của doanh
nghiệp. Những mục tiêu này thể hiện mức độ quan tâm của khách hàng đối với sản
phẩm của doanh nghiệp,sự phát triển sản phẩm mới hay tính hiệu quả của công tác
quản lý hành chính .
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B

án lựa chọn .
1.1.6.5. Đánh giá các phương án
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Khi đã xây dựng được một hệ thống các phương án thi các nhà lập kế hoạch cần
phải tiến hành đánh giá lại các phương án đó nhằm lựa chọn được những phương án tối
ưu nhất .Đánh giá các phương án theo các tiêu chuẩn phù hợp với mục tiêu đã định và
trung thành với các tiền đề đã được xác định.Các nhà lập kế hoạch cần phải lựa chọn ,
xem xét phương án nào là tối ưu nhất tức là các phương án nàc đạt được mục tiêu một
cách hiệu quả nhất và nhanh nhất , chi phí là thấp nhất.Đồng thời các phương án được
lựa chọn cũng phải giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội đang được đặt ra.
1.1.6.6. Lựa chọn phương án và ra quyết định
Sau khi đánh giá các phương án thì một vài phương án tối ưu nhất sẽ được lựa
chọn .Các phương án này sẽ được đưa ra hội đồng quản trị, ban giám đốc và các phòng
ban liên quan để ra quyết định phân bổ con người và các nguồn lực khác của tổ chức
cho việc thưc hiện kế hoạch. Tiếp theo sẽ là việc xây dựng các kế hoạch phụ trợ và
lượng hoá kế hoạch bằng ngân quĩ .
1.1.7. Các phương pháp lập kế hoạch sản xuất
1.1.7.1. Phương pháp cân đối
Phương pháp này gồm các bước sau :
Bước 1: Xác định khả năng của doanh nghiệp, bao gồm khả năng sẵn có và khả năng
chắc chắn có trong tương lai của doanh nghiệp và các yếu tố sản xuất .
Bước 2: Cân đối giữa nhu cầu của thị trường và khả năng về các yếu tố để sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường , phương pháp cân đối được xác định bởi những
yêu cầu sau :
- Cân đối được thực hiện phải là cân đối động .Cân đối để lựa chọn phương án
tối ưu chứ không phải là cân đối theo phương án đã được chỉ định.Các yếu tố để cân
đối là những yếu tố biến đổi theo môi trường kinh doanh , đó là nhu cầu của thị trường
và khả năng có thể khai thác các nguồn lực của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch.

cấu trúc giá , chi phí của các đối thủ cạnh tranh.
- Các đặc điểm về nguồn lực của doanh nghiệp như phần thị trường, chu kỳ
sống của sản phẩm ,trình độ lao động , chi phí tiền lương, tình hình doanh thu, chất
lượng sản phẩm
1.1.7.4. Phương pháp lợi thế vượt trội
Phương pháp này gợi mở cho các nhà quản lý khi lập kế hoạch phải xem xét
khai thác các lợi thế vượt trội để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Khi
lập kế hoạch doanh nghiệp cần phát huy lợi thế vượt trội trên các mặt sau:
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
15
Chuyên đề tốt nghiệp
- Lợi thế vượt trội trong lĩnh vực tiêu thụ , trong việc triển khai các kênh phân
phối sản phẩm với các đối tác khác.
- Lợi thế vượt trội trong sản xuất thể hiện trong việc tăng cường liên doanh liên
kết để phát huy chuyên môn hoá.
- Lợi thế vượt trội trong việc hợp tác nghiên cứu điều tra dự báo.
- Lợi thế vượt trội nhờ năng lực và trình độ của các nhà quản lý trong việc giải
quyết các vấn đề phát sinh cụ thể.
1.1.7.5. Phương pháp phân tích chu kì sống của sản phẩm
Chu kỳ sống của sản phẩm là khoảng thời gian từ khi nó được đưa ra thị trường
cho đến khi nó không còn tồn tại trên thị trường. Chu kỳ sống của sản phẩm được đặc
trưng bởi 4 giai đoạn chủ yếu : Triển khai , tăng trưởng , bão hoà và suy thoái .Tương
ứng với mỗi giai đoạn là các vấn đề và cả cơ hội kinh doanh. Do vậy ,doanh nghiệp cần
nắm vững đặc điểm của từng giai đoạn để lập kế hoạch sản xuất phù hợp vì mỗi giai
đoạn của chu kỳ sống có mức độ tiêu thụ trên thị trường khác nhau.
1.2. SỰ CẦN THIẾT HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH SXKD
TRONG DOANH NGHIỆP
Khi hoạt động trong nền kinh tế thị trường, tất cả các DN đều phải tuân theo các
quy luật của thị trường. Thị trường luôn có những diến biến bất ngờ, do vậy DN nào
không có sự chuẩn bị trước để thích ứng với thị trường chắc chắn sẽ bị loại khỏi thị

Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
17
Chuyên đề tốt nghiệp
- Trong giai đoạn tăng trưởng , kế hoạch ngắn hạn được sử dụng nhiều và thiên
về cụ thể vì các mục tiêu được xác định rõ hơn , các nguồn lực đang được đưa vào và
thị trường cho đầu ra đang tiến triển .
- Ở giai đoạn chín muồi , doanh nghiệp nên có các kế hoạch dài hạn và cụ thể vì
ở giai đoạn này tính ổn định và tính dự đoán được của doanh nghiệp là lớn nhất .
- Trong giai đoạn suy thoái , kế hoạch lại chuyển từ kế hoạch dài hạn sang kế
hoạch ngắn hạn , từ kế hoạch cụ thể sang kế hoạch định hướng . Cũng giống như giai
đoạn đầu , giai đoạn suy thoái cần tới sự mềm dẻo, linh hoạt vì các mục tiêu phải được
xem xét và đánh giá lại , nguồn lực cũng được phân phối lại cùng với những điều chỉnh
khác.
1.3.1.2. Các yếu tố chính trị , luật pháp
Các doanh nghiệp hoạt động phải tuân thủ pháp luật của nhà nước về thuế, lao
động, cạnh tranh, bảo hiểm, giá hàng hóa. Những thay đổi của các yếu tố này có thể tạo
ra những thay đổi trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Việc phân tích các nhân
tố thuộc chính trị pháp luật có vai trò quan trọng đối với quá trình dự báo nhu cầu và
lập kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp.
1.3.1.3. Tính không chắc chăn của môi trường kinh doanh
Lập kế hoạch là quá trình chuẩn bị để đối phó với sự thay đổi và tình huống
không chắc chắn của môi trường kinh doanh mà chủ yếu là các nhân tố trong môi
trường nền kinh tế và môi trường ngành.Môi trường càng bất ổn định bao nhiêu thì kế
hoạch càng mang tính định hướng và ngắn hạn bấy nhiêu.Những doanh nghiệp hoạt
động trong môi trường tương đối ổn định thường có những kế hoạch dài hạn , tổng hợp
và phức tạp , còn những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường hay có sự thay đổi
lại có những kế hoạch hướng ngoại và ngắn hạn. Các nhà lập kế hoạch cần phải tính
toán , phán đoán được sự tác động của môi trường kinh doanh , sự không chắc chắn
của môi trường kinh doanh được thể hiện dưới ba hình thức sau:
- Tình trạng không chắc chắn: xảy ra khi toàn bộ hay một phần của môi

khoa học công nghệ…
 Nhân lực
Trước hết là nguồn nhân lực , đây được coi là một trong những thế mạnh của
nước ta , nhưng thực tế ở các doanh nghiệp còn rất nan giải. Lực lượng lao động mặc
dù thừa về số lượng nhưng lại yếu về chất lượng .Số lượng lao động có trình độ quản
lý , tay nghề cao còn thiếu nhiều , lực lượng lao động trẻ ít kinh nghiệm vẫn cần phải
đào tạo nhiều .Do vậy khi lập kế hoạch sản xuất cũng chịu tác động lớn từ nguồn nhân
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
19
Chuyên đề tốt nghiệp
lực, kế hoạch sản xuất được lập ra phải đảm bảo năng lực, năng suất lao động của nhân
viên có thể đáp ứng được.
 Nguồn lực tài chính:
Một bản kế hoạch khả thi là một bản kế hoạch đưa ra dựa trên những căn cứ
vững chắc và đáng tin cậy. Một trong những căn cứ đó là tiềm lực tài chính của DN.
Nếu như lập kế hoạch không tính đến năng lực tài chính thì sẽ chỉ là vẽ ra kế hoạch
tưởng tưởng chứ không phải là lập kế hoạch, bởi vì lập kế hoạch là đề ra mục tiêu và
lập kế hoạch hành động nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Chính vì vậy, nguồn
tài chính là yếu tố quan trọng cần phải cân nhắc, xem xét trong quá trình lập kế hoạch.
Các cán bộ kế hoạch dựa vào đây để đưa ra những kế hoạch hành động cụ thể, nằm
trong khả năng tài chính của DN, có như vây, mới đảm bảo hoàn thành được mục tiêu.
Nếu như, những mục đưa ra vượt quá khả năng về tài chính của DN, đảm bảo DN
không thể đạt được mục tiêu. Ngược lai, nếu những mục tiêu đưa ra lại quá thấp so với
khả năng tài chính thì lại gây ra sự không hiệu quả về chi phí và nguồn lực. Cả hai
trường hợp đều không đảm bảo tính hiệu quả của kế hoạch sản xuất kinh doanh. Do đó,
khi lập kế hoạch cần phải dựa vào tiềm lực tài chính của Công ty.
 Cơ sở vật chất, trang thiết bị:
Ngoài đội ngũ cán bộ làm công tác kế hoạch và tiềm lực tài chính thì cơ sở vật
chất và trang thiết bị cũng là yếu tố có ảnh hưởng tới công tác lập kế hoạch ở DN. Đây
là những công cụ phục vụ đắc lực cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của Công ty.

Nam”.
Công ty Bia Á Châu đã đầu tư dây chuyền sản xuất với trang thiết bị hàng đầu
Châu Âu , áp dụng công nghệ tiên tiến với cùng đội ngũ kỹ sư có kinh nghiệm, lượng
công nhân được đào tạo chuyên môn hóa hoàn toàn khả năng làm chủ khoa học và
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
21
Chuyên đề tốt nghiệp
công nghệ để tạo ra sản phẩm đảm bảo chất lượng có sức mạnh cạnh tranh cao trên thị
trường
 Địa điểm xây dựng : Khu công nghiệp Tiên Sơn
 Điện thoại: 0241.3710280
 Fax: 0241.3710281
 Giấy phép đầu tư số 08/GDPT –KCN –BN ngày 27/11/2011 do ban quản
lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh cấp
 Giấy phép kinh doanh: 23.00.211492 đăng kí thay đổi lần thứ 7 ngày
22/01/2009 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp
 Vốn đầu tư: Xấp xỉ 200 tỷ đồng.
 Diện tích: xấp xỉ 2 ha
 Thời gian xây dựng nhà máy: Bắc đầu khởi công xây dựng từ tháng 9/2002 đến
tháng 4/2004 đưa ra sản phẩm
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
2.1.2.1. Chức năng
Công ty cổ phần Bia Á Châu được thành lập theo nguyên tắc dân chủ , công
khai nhằm mục đích phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm và đời sống
cho người lao động trên địa bàn tỉnh và tỉnh lân cận, đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ ngân sách cho Nhà nước , tạo thu nhập cho các cổ đông, tạo tích lũy cho công ty
nhằm mở rộng sản xuất và phát triển cho sản xuất kinh doanh.
Công ty cổ phần Bia Á Châu hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực sản xuất bia nên
chức năng của công ty là phục vụ nhu cầu về nước giải khát của người dân, đặc biệt là
phân khúc những người lao động có thu nhập thấp.

thuận giá liên quan đến sản xuất kinh doanh và dịch vụ đối với khách hàng.
Đê thực hiện được các chức năng cũng như quyền hạn của công ty . công ty
luôn có quan điểm kinh doanh rõ ràng, tuân thủ pháp luật và các quy định của nhà
nước , thực hiện đầy đủ nhiệm vụ với nhà nước. Đồng thời công ty phải tổ chức hoạt
động kinh doanh có hiệu quả và phát triển nguồn vốn kinh doanh để thu lợi nhuận,
nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho nhân viên trong công ty.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp:
Nhằm mục tiêu phù hợp với đặc điểm tình hình của đơn vị hiện nay công ty cổ
phần Bia Á Châu đã tổ chức xây dựng bộ máy quản lý tương đối gọn nhẹ , hợp lý góp
phần giảm chi phí của công ty.
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
23
Chuyên đề tốt nghiệp]
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
24
HỘI ĐÔNG
QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TGĐ SẢN XUẤT
P.KẾ
HOẠCH
VẬT TƯ
P. TC
HÀNH
CHÍNH
P.TÀI
CHÍNH

mảng sản xuất và các giám đốc chuyên môn: giám đốc kinh doanh, giám đốc sản xuất,
giám đốc kĩ thuật thiết bị.
Các phòng ban chức năng:
Bùi Thu Thủy Lóp: Kế hoạch 49B
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status