1
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Lớp: Triết học.
Môn: Mỹ học chuyên nghành.
Tiểu luận:
ĐẶC TRƯNG CỦA SÁNG TẠO HÌNH TƯỢNG TRONG
NGHỆ THUẬT
Năm: Triết học- Năm 3.
Người hướng dẫn: TS. Trần Kỳ Đồng.
Sinh viên: Lê Đăng Thân.
MSSV: 1256070065.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 11 năm 2014.
2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài ……………………………. 3
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài …………………… 4
3. Kết cấu đề tài ……………………………………… 4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I.
HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT
I.1. Sự ra đời của hình tượng nghệ thuật …………………… 5
I.2. Đặc điểm cơ bản của hình tượng nghệ thuật …………… 7
CHƯƠNG II.
ĐẶC TRƯNG CỦA SÁNG TẠO HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT
II.1. Vai trò của tình cảm trong cấu trúc nghệ thuật ……… 10
II.2. Vai trỏ của lý trí trong cấu trúc nghệ thuật ……………. 12
II.3. Tài năng nghệ thuật …………………………………… 14
II.4. Qúa trình sáng tạo nghệ thuật …………………………. 16
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
lịch sử. Mỹ học là khoa học nghiên cứu toàn bộ qui luật, hiện tượng thẫm mỹ
4
trong hoạt động của đời sống con người gồm khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm
mỹ và nghệ thuật. Trong đó, cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm, hình
tượng là tiếng nói trọng tâm, lý tưởng thẩm myỹ là cơ sở để định hướng thẩm
mỹ, nghệ thuật là thành tựu cao nhất của đời sống thẩm mỹ.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích:
Tiểu luận phần nào làm rõ và sâu sắc thêm đặc trưng của quá trình sáng
tạo trong nghệ thuật.
Nhiệm vụ:
Phân tích những đặc điểm cơ bản của quá trình hình thành nên tượng
nghệ thuật.
Đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo nghệ thuật của
người nghệ sĩ.
3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, kết cấu của tiểu luận gồm 2
chương và 6 tiết .
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I.
HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT
I.1. Sự ra đời của hình tượng nghệ thuật
Trong hình tượng nghệ thuật ghi lại hoặc biểu hiện những đặc điểm căn
bản nhất của nghệ thuật nói chung. Một trong những vị trí trung tâm mà phạm
trù này giữ trong khoa học mỹ học được lý giải bởi chức năng phản ánh thực
5
tại khách quan dưới một hình thức đặc thù. Hình tượng nghệ thuật là sự thống
nhất phản ánh và sáng tạo, nó đóng vai trò là đường ranh giới phân tuyến thế
giới thật với thế giới của nghệ thuật. Chính nhờ hình tượng mà ý thức nghệ
thuật hàm chứa nhiều tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của cuộc sống thật.
tiềm ẩn trong thực tại. Người nghệ sĩ phải tự mình làm ra những sản phẩm
mới mẻ chưa từng xuất hiện. Giữa khái niệm khoa học và hình tượng nghệ
thuật, vì vậy, có những điểm khác biệt cơ bản.
Nghệ thuật không đặt ra trước nghệ sĩ nhiệm vụ thể hiện toàn bộ đối
tượng. Yêu cầu đó vừa không cần thiết vừa không thể thực hiện nổi. Nhưng
hình tượng nghệ thuật lại có khả năng tạo ra ảo giác về tính toàn vẹn và đầy
đủ của đối tượng thể hiện. Sức cuốn hút của nghệ thuật mạnh mẽ một phần vì
nét riêng biệt này.
Khái niệm bao giờ cũng xác định về mặt ý nghĩa. Khoa học không cho
phép khái niệm mang tính đa nghĩa. Hình tượng nghệ thuật lại không hàm một
nghĩa duy nhất. Nó có thể gồm nhiều phương diện khác nhau. Công chúng
tiếp nhận nó mỗi người một vẻ. Hình tượng nghệ thuật càng giá trị, càng lấp
lánh ý nghĩa.
Sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức cũng là điểm khác
biệt chính của hình tượng nghệ thuật so với khái niệm khoa học. Hình tượng
nghệ thuật là một chỉnh thể. Mọi sự thay đổi của nội dung hay của hình thức
7
đều đưa đến một sản phẩm khác, không giống với sản phẩm đã có. Tri thức
khoa học thì khác. Một công thức, một định luật có thể trình bày dưới nhiều
hình thức khác nhau, phức tạp có, đơn giản có, nhưng không ảnh hưởng nhiều
đến việc tiếp nhận thực chất của chúng.
I.2. Đặc điểm cơ bản của hình tượng nghệ thuật
Phản ánh hiện thực là quy luật của nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật là
hình ảnh của thế giới khách quan. Tuy vậy, không được đánh đồng khái niệm
hình tượng trong nhận thức luận (triết học) với hình tượng trong lý luận nghệ
thuật.
Trong triết học, khái niệm hình tượng hiểu là bất kỳ một sự phản ánh nào
về ngoại giới vào trong ý thức con người. Ở đây, hình tượng đồng nghĩa với
hình ảnh.
Trong nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật không phải là bất kỳ một sự
phóng đại, cường điệu, cả sự tỉa xén, nhào nặn. Hình tượng nghệ thuật là kết
quả của trí tưởng tượng và tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ.
Đo đó, phản ánh và sáng tạo là hai mặt của quá trình sinh ra hình tượng
của nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật một mặt là hình ảnh của thế giới khách
quan, mặt khác là sự sáng tạo lại thế giới khách quan.
CHƯƠNG II.
9
ĐẶC TRƯNG CỦA SÁNG TẠO HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT
Quá trình sáng tác nghệ thuật có đặc trưng riêng của nó – thể hiện nhân
cách của nghệ sĩ. Đặc điểm của chủ thể nghệ thuật là phản ứng tình cảm đối
với thực tại, nó đóng vai trò lớn trong việc sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật.
Người họa sĩ vẽ cái cảm thấy chứ không phải cái nhìn thấy, đồng thời gởi gắm
tình cảm, tư tưởng (tâm hồn) của mình vào tác phẩm nghệ thuật. Tiếp nhận
nghệ thuật, công chúng không thể dửng dưng. Người ta có thể khóc, cười hồn
nhiên như con trẻ. Song rất khác với những giọt nước mắt vui sướng hay đau
xót của trẻ thơ, cùng với sự rung động của con tim, trí óc của công chúng nghệ
thuật còn được thức tỉnh. Đọc Truyện Kiều chẳng hạn. Nhận thức của người
đọc về thân phận của nàng Kiều tăng thêm, như nhà thơ Tố Hữu đã bài tỏ cảm
xúc về thân phận nàng Kiều ”Nổi chìm kiếp sống lênh đênh”và khi nhận thức
càng tăng thì cảm xúc Tố Hữu càng sâu cùng với nhịp đập dồn dập của trái
tim “Tố như ơi lệ chảy quanh thân Kiều”.
Đồng thời, trong nghệ thuật ngoài những nhân tố tự nhiên ở nhà nghệ sĩ,
còn có thái độ riêng tư của người nghệ sĩ được thể hiện trong tác phẩm nghệ
thuật của anh ta. Nó phản ánh một phần thực tại bằng ý thức.
Người nghệ sĩ đã bằng lý trí tỉnh táo và tình cảm nồng cháy để tạo nên
hình tượng nghệ thuật. Cảm hứng sáng tạo chân chính vì vậy được coi là sự
“thăng hoa” của lý trí và cảm xúc. Thiếu tư tưởng, hình tượng sẽ trống rỗng và
hời hợt. Thiếu cảm xúc, hình tượng sẽ khô cứng và cằn cỗi. Đúng hơn, trong
sáng tạo nghệ thuật, nhận thức phải được chuyển hóa thành tình cảm, thành
niềm tin. Bởi vậy, sức tác động của nghệ thuật mới mãnh liệt và bền lâu
thuật nếu không có lý tưởng thẩm mỹ, không có sự khái quát, không có sự
đánh giá về mặt thẩm mỹ sẽ biến thành những đoạn trích dẫn rút ra từ bộ môn
khoa học xã hội.
Ở đây có vai trò đặc biệt của trí tưởng tượng phong phú cùng vốn hiểu
biết, sự trải nghiệm của người nghệ sĩ. Trí tưởng tượng cho người nghệ sĩ
những gì mà thực tại không thể cho hoặc chưa kịp cho. Trí tưởng tượng lấp
đầy khoảng trống cho hiểu biết và tư duy của nhà sáng tạo. Tuy nhiên, năng
lực tưởng tượng lại tỷ lệ thuận với vốn sống, vốn hiểu biết của con người.
Càng sống nhiều, sống tỉnh táo và say mê, sống có ý thức và trách nhiệm,
người nghệ sĩ càng có điều kiện tung hoành trong đôi cánh diệu kỳ của tưởng
tượng.
Tưởng tượng là kết quả của sự không thỏa mãn và đo dó nó thôi thúc
hành động. Những ước mơ giúp con người khắc phục được những khó khăn
trong cuộc sống, thôi thúc hành động con người trở nên tích cực hơn, có ý
nghĩa hơn.
II.2. Vai trỏ của lý trí trong cấu trúc nghệ thuật
Người tạo ra hình tượng nghệ thuật không phải chỉ cần có năng lực cảm
xúc, tình cảm, ghi nhận thực tại ở cấp độ hiện tượng, mà phải cần có năng lực
nắm bắt bản chất của quá trình sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật, đó chính là
năng lực tư duy của lý tính. Người nghệ sĩ phản ánh thế giới bằng lý trí ẩn dụ,
tức người nghệ sĩ phải đi thâm sâu vào thực tại của cuộc sống
12
Cùng với khoa học, nghệ thuật có nhiệm vụ giúp con người nhận thức về
thế giới, về con người và đời sống. Các hình tượng nghệ thuật, vì vậy tác động
vào lý trí con người. Qua hình tượng, nghệ sĩ bày tỏ quan điểm, quan niệm và
lý giải những vấn đề đời sống. Bất kỳ một hình tượng nghệ thuật nào cũng
chứa đựng trong đó những nhận thức của người sáng tác. Qua hình tượng nghệ
thuật, bạn đọc tiếp nhận được những vấn đề về đời sống, lý trí bạn đọc bao giờ
cũng được soi sáng, nhận thức của bạn đọc bao giờ cũng được mở rộng, nâng
cao. Nhưng nếu như khái niệm khoa học là kết quả của lý trí thì hình tượng
Tính giai cấp: Trong một xã hội có nhiều giai cấp, ắt có một giai cấp tiên
tiến nhất, cách mạng nhất. Lí tưởng phải gắn liền với tính giai cấp tiên tiến
nhất ấy.
Tính khoa học: đó là kiến thức đúng đắn, phù hợp qui luật khách quan và
lịch sử, khác với những ý tưởng viển vông và lỗi thời hoặc phiêu lưu mạo
hiểm.
Tính tổ chức: để thực hiện lí tưởng, không chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân,
mà phải vận động, tổ chức xã hội cùng thực hiện. Đó là năng lực tổ chức khi
thực hiện lí tưởng.
Người nghệ sĩ đã bằng lý trí tỉnh táo và tình cảm nồng cháy để tạo nên
hình tượng nghệ thuật. Cảm hứng sáng tạo chân chính vì vậy được coi là sự
“thăng hoa” của lý trí và cảm xúc. Thiếu tư tưởng, hình tượng sẽ trống rỗng và
hời hợt. Thiếu cảm xúc, hình tượng sẽ khô cứng và cằn cỗi. Đúng hơn, trong
sáng tạo nghệ thuật, nhận thức phải được chuyển hóa thành tình cảm, thành
niềm tin. Bởi vậy, sức tác động của nghệ thuật mới mãnh liệt và bền lâu
14
II.3. Tài năng nghệ thuật
Là hệ thống tổ chức phức tạp của nhân cách nghệ sĩ độc đáo có một
không hai, tài năng quy định phương hướng và những khả năng sáng tạo của
người nghệ sĩ, loại hình nghệ thuật mà người nghệ sĩ lựa chọn và các quan hệ
của nghệ thuật với các khía cạnh của thực tại. Tài năng của người nghệ sĩ chỉ
có thể phát triển, thực hiện hóa trong một xã hội cụ thể. Biểu hiện của tài năng
nghệ thuật là đa dạng và phong phú. Ở đây, vai trò của yếu tố thiên
bẩm là không thể thiếu. Môi trường và điều kiện góp phần quyết định chuyển
hóa khả năng thành hiện thực. Tuy nhiên, học tập và rèn luyện nhằm vun đắp
tài năng sẵn có mới mang tính quyết định. Nói như K. Marx: “Thực tiễn sẽ
phát triển những năng khiếu tiềm năng trong bản thân”.
Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là bản chất tự do sáng tạo
của nghệ thuật. Nghệ thuật không chỉ là hành động nhận thức, phản ánh đơn
thuần mà còn là một hoạt động có tính chất thực tiễn vật chất, hoạt động sáng
và trí tuệ trong nhân cách của người nghệ sĩ, những khía cạnh được hợp nhất
trong lao động của người nghệ sĩ. Với một sự sinh động đặc biệt, lao động
nghệ thuật bộc lộ ra như là trò chơi của sức mạnh thể chất và tinh thần, từ trò
chơi tạo ra cho con người sự sáng tạo trong nghệ thuật nói riêng và trong hoạt
động thực tiễn của con người nói chung. Nguồn gốc lao động nghệ thuật bắt
nguồn từ những trò chơi nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.
16
Sáng tạo nghệ thuật trước hết là một hành động nhận thức (tức là sự hiểu
biết) nhận thức về sự vật, về con người, về đời sống xã hội và về cả chính bản
thân mình nữa. Muốn sáng tạo trước hết phải nhận thức, phải hiểu biết. Bản
thân sự nhận thức không phải là cái gì bẩm sinh hay huyền bí, nó có nguồn
gốc từ thực tiễn, từ trong lao động sản xuất, từ trong cuộc đấu tranh chống
thiên nhiên, xã hội của con người. Không hiểu biết cuộc sống thì cũng có
nghĩa là không nhận thức và do đó không thể có nghệ thuật. Nhưng nhận thức
không phải chỉ đơn thuần là hiểu biết theo nghĩa sát sạt của từ này, mà nó phải
tiến lên cấp độ cao hơn là khám phá, tức là phát hiện ra những mặt nào, yếu tố
nào bản chất, là quy luật trong sự phức tạp, muôn màu muôn vẻ của hiện thực.
Hiện thực là muôn màu muôn vẻ, đa tạp, cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên tồn tại
lẫn lộn, nhiều khi cái bản chất, cái quy luật lại biểu hiện ra dưới hình thức cái
ngẫu nhiên, cái tạm thời, cái không bản chất. Nghệ thuật nhận thức cuộc sống
là phải luôn luôn tìm ra cho được cái quy luật của đời sống. Nếu không làm
được điều đó thì ý nghĩa nhận thức của nghệ thuật chỉ dừng lại ở hiểu biết đơn
giản, máy móc và bên ngoài của hiện thực mà thôi. Lại nữa, nghệ thuật không
chỉ nhận thức để mà nhận thức, hiểu biết để mà hiểu biết mà là để sáng tạo ra
một công cụ nhận thức mới cho con người. Ðó là tác phẩm nghệ thuật. Cho
nên, ngoài việc hiểu biết sâu sắc, rộng rãi về thế giới, nghệ thuật còn phải
khám phá ra phát hiện ra bản chất bản chất quy luật thế giới. Sáng tạo là một
yêu cầu cực kỳ quan trọng của chức năng nhận thức của nghệ thuật. Lênin nói:
Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn sáng tạo ra
thế ra thế giới khách quan nữa. Sáng tạo là yêu cầu của mọi hình thức nhận