Trương Thị Thảo Trường THPT Tạ Uyên
ÁP DỤNG NHIỀU PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG DẠY
MÔN ĐỊA LÝ LỚP 12
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong lĩnh vực giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) là một vấn đề đã
được đề cập và bàn luận rất sôi nổi từ nhiều thập kỉ qua. Các nhà nghiên cứu PPDH đã
không ngừng nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu mới của lý luận dạy học hiện đại để
đưa nền giáo dục nước ta ngày càng hiện đại hơn đáp ứng được nhu cầu học tập ngày
càng cao của nhân dân. Những năm gần đây, định hướng đổi mới PPDH đã được thống
nhất theo tư tưởng tích cực hoạt động hóa hoạt động của học sinh dưới sự tổ chức hướng
dẫn của giáo viên: Học sinh tự giác chủ động tìm tòi, phát hiện giải quyết nhiệm vụ nhận
thức và có ý thức vận dụng linh hoạt sáng tạo các kiến thức kỹ năng đã thu nhận được.
Nhưng những định hướng này cũng mới chỉ đến với giáo viên qua những tài liệu mang
tính lý thuyết hơn là hướng dẫn thực hành. Hoạt động chỉ đạo chuyên môn hay bồi dưỡng
giáo viên thường xuyên vẫn còn thiên nhiều về việc tìm hiểu nội dung môn học hơn là
tìm hiểu những vấn đề chính của PPDH. Vì thế không tránh khỏi việc hiểu và vận dụng
đổi mới PPDH một cách máy móc, thậm chí sai lệch ở một số giờ dạy của giáo viên.
Trong năm học vấn đề sử dụng phương tiện dạy học, đặc biệt là bản đồ giáo
khoa, tranh ảnh, các mẫu vật của bộ môn địa lí được thực hiện ở chương trình địa lí
lớp 12 . Đây là một chương trình giúp các em hiểu sâu về địa lí tự nhiên – kinh tế xã hội
Việt Nam, và liên hệ các châu lục, các quốc gia trên thế giới. Khi đã hiểu rõ, nắm chắc
các kiến thức đó các em sẽ có cơ sở áp dụng các biện pháp để khai thác kiến thức từ bản
đồ giáo khoa, giúp các em hiểu rõ hơn về tự nhiên – kinh tế xã hội và con người Việt
Nam, tạo điều kiện cho hoạt động học tập và lao động có hiệu quả và chất lượng, đáp ứng
yêu cầu của đất nước ta hiện nay là mở cửa hội nhập.
Trước đây khi chưa thực hiện đồng bộ kết hợp nhiều phương pháp dạy trên lớp.
Kết quả học tập chưa đạt hiệu quả tối ưu. Phần lớn giáo viên chưa chú trọng khâu chuẩn
bị : Soạn bài, bản đồ, tranh ảnh, các mẫu vật, mô hình, sơ đồ nhất là các hình động trên
máy tính. … nên kết quả của một giờ lên lớp chưa cao. Qua những năm tháng giảng dạy
tôi thấy : Nếu chỉ sử dụng các phương pháp giảng dạy đơn thuần giáo viên hướng dẫn các
em quan sát mà không đi sâu vào phương pháp hướng dẫn các em cách quan sát sử dụng
có những giờ dạy chưa đạt được mục đích của bản thân mỗi giáo viên đứng lớp. Vì những
cơ sở trên đây tôi muốn trao đổi với các bạn tìm ra những phương pháp tối ưu nhất để các
giờ dạy địa lí đạt kết quả cao nhất.
2. Thực tiễn :
Trong chương trình SGK lớp 12 có 4 nội dung chính đó là
Phần địa lý tự nhiên
Phần địa lý dân cư
Phần địa lý kinh tế
Phần địa lý địa phương
. Dù là dạy địa lí tự nhiên hay địa lý dân cư, địa lý kinh tế Việt Nam chúng ta cũng cần
hình thành cho các em học sinh những nội dung cơ bản sau :
-Về kiến thức : Cần nắm những kiến thức cơ bản nào?
-Về kỹ năng : Cần rèn luyện kỹ năng gì?
-Về thái độ : GD học sinh về thái độ … -> tìm ra biện pháp thực hiện.
Trong các giờ lên lớp những bài dạy nào có bản đồ, tranh ảnh, mẫu vật thật là tốt nhất vì
học sinh không thể đi đến tận nơi, thấy tận mắt tất cả những nơi trên lãnh thổ Việt Nam
để quan sát thực tế địa phương
Ví dụ : Dạy bài “Đất nước nhiều đồi núi” .
Giáo viên sử dụng bản đồ tự nhiên Việt Nam Átlat địa lý Việt Nam tranh ảnh về cảnh
quan các dạng địa hình, bản đồ trống Việt Nam.
Học sinh quan sát.
Về đặc điểm chung của địa hình:
- Màu chiếm phần lớ trên bản đồ là màu gì? Thể hiện dạng địa hình nào?
- Các dạng địa hình ở Việt Nam
- Cách phân loại điạhình theo độ cao: Địa hình cao, địa hình núi trung bình và địa hình
có độ cao dưới 1000m
Quan sát bản đồ và Átlat
- Hãy xác định hướng nghiêng chung của địa hình và của các dãy núi, kể tên các dãy
núi hướng vòng cung và hướng tây bắc - đông nam
- Qua đó nhận xét về cấu trúc địa hình….
sử sụng phối hợp các bản đồ với nhau để tận dụng tối đa chức năng, ơu thế của từng loại
bản đồ đồng thời cũng tạo điều kiện cho học sinh tiếp súc với bản đồ, biết cách tìm kiếm
thông tin từ các loại bản đồ riêng lẻ hoặc đối chiếu , so sánh phối hợp các bản đồ với
nhau trên cơ sở đó nắm vững tri thức, phát triển tư duy và kỹ năng sử dụng bản đồ.
- Từ bản đồ, tranh ảnh, mẫu vật có thể bồi dưỡng cho học sinh thế giới duy vật
biện chứng, bồi dưỡng năng lực tư duy, tự học, tự nghiên cứu. Do đặc điểm của các đối
tượng sự vật địa lí được trải rộng trong không gian, giáo viên không thể dẫn học sinh đến
tận nơi được. Vì vậy dạy học không thể thiếu bản đồ, tranh ảnh, mẫu vật Trong giảng
dạy địa lí mở đầu bằng bản đồ kết thúc bằng bản đồ. Đây là đặc trưng của bộ môn khoa
học địa lí mà không một môn khoa học nào có thể so sánh được. Cho nên khi lên lớp giáo
viên phải căn cứ vào nội dung yêu cầu của bài học để đưa ra một hệ thống câu hỏi, bài tập
hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức trên bản đồ một cách có hiệu quả.
Ví dụ :Khi sử dụng bản đồ để tìm ra đặc điểm của đồng bằng ven biển Miền Trung
thì việc làm đầu tiên là HS phải dựa vào màu sắc , chữ viết trên bản đồ tự nhiên Việt Nam
để tìm vị trí của các đồng bằng ven biển miền Trung trên bản đồ, sau đó HS phải dựa vào
bản đồ so sánh độ lớn của các đồng bằng miền Trung với các đồng bằng khác của cả
nước ( ĐBSCL, ĐBSH) để rút ra đặc điểm: Các đồng bằng miền Trung đều nhỏ hẹp, cao
hơn nữa HS dựa vào bản đồ và các kiến thứcđể nêu được ý vì dãy Trường Sơn tiến sát ra
biển , các sông ở Miền Trung đều ngắn nhỏ, ít phù sa đó là nguyên nhân làm cho các
đồng bằng miền Trung nhỏ hẹp.
Trương Thị Thảo Trường THPT Tạ Uyên
Phải sứ dụng bản đồ theo quan niệm coi đây là nguồn cung cấp kiến thức quan
trọng, chứ không sử dụng bản đồ theo cách coi đó là phương tiện minh họa cho kiến thức.
Vì vậy trong quá trình soạn bài, lên lớp, GV luôn phảu căn cứ vào yêu cầu của bài học,
vào bản đồ mà đưa ra được hệ thống câu hỏi, bài tập để giúp HS rèn luyện kỹ năng sử
dụng bản đồ và khai thác kiến thức từ bản đồ dưới nhiều hình thức khác nhau như tìm và
chỉ vị trí các đối tượng địa lý trên bản đồ, đo tính khoảng cách trên bản đồ trình bày và
giải thích về một số đối tượng địa lý, “ đi du lịch” trên bản đồ, trò chơi dựa vào bản đồ ,
điền bản đồ trống vv…
Cần phối hợp giữa sử dụng bản đồ với các phương tiện dạy học khác như tranh
cho HS quan sát , phân tích bảng số liệu về “ nhiệt độ trung bình năm của một số địa
phương “ dưới đây:
Địa điểm Nhiệt độ trung bình năm (
o
C)
Lạng Sơn
HÀ Nội
Huế
Đà Nẵng
21.2
23.5
25.1
25.7
Trương Thị Thảo Trường THPT Tạ Uyên
Quy Nhơn
TP Hồ Chí Minh
26.8
27.1
Nhìn vào bảng số liệu HS dễ dàng nhận biết được nhiệt độ trung bình tăng dần từ
Bắc vào Nam…
c.Phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tìm tòi kiến thức của học
sinh.
Sau khi học sinh đã quan sát cụ thể một mẫu vật, sơ đồ, bảng số liệu thống kê, hình
ảnh … nào đó hoặc các kiến thức đã qua thực tế - Giáo viên cần phát huy tối đa hoạt động
tư duy tích cực của học sinh bằng các tình huống để các em dự đoán nên giả thuyết tranh
luận giữa những ý kiến trái ngược…
Ví dụ : Quan sát tranh khai thác rừng em có nhận xét gì?:
TRANH ẢNH VỀ CẢNH PHÁ RỪNG Ở MỘT SỐ NƠI
+ Em dự đoán xem, hậu quả của việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng, tại
sao con người lại khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng, có ảnh hưởng gì tới tương
nghiệp có sự thay đổi rỏ rệt
Để có thể đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng PPSS, GV cần chú ý các điểm sau
đây
+ Cần xác định rõ của việc so sánh : khi sử dụng PPSS , GV cần trả lời câu hỏi: So
sánh để nhằm mục đích gi?( hình thành biểu tượng, khái niệm địa lý, khắc sâu các khái
niệm địa lý, để hệ thống hopas kiến thức…)
+ Cần chọn kỹ các đối tượng cần so sánh và làm nổi bật lên các vấn đề cần so sánh
+ Phải biết kết hợp PPSS với các PPDH khác như phương pháp sử dụng bản đồ ,
hình vẽ các biểu đồ, số liệu thống kê… hoặc phương pháp thảo luận, trò ch[i vv…
+ Cần phát huy cao độ tính tích cực của HS trong khi so sánh điều náy chie có thể
thực hiệnđược khi GV biết khơi dậy ở HS nhu cầu tìm hiểu kiến thức và biết đề ra các
loại câu hỏi, bài tập dưới nhiều hình thức khác nhau để HS làm.
e.Phương pháp hoạt động nhóm :
Với những câu hỏi khó, những tình huống chưa giải quyết, cá nhân các em có thể
đưa ra ý kiến thảo luận trong nhóm để thống nhất ý kiến.
Thảo luận nhóm là phương pháp thể hiện rõ nhất sự đổi mới trong phương pháp dạy học,
lấy học sinh làm trung tâm.:
Hoạt động nhóm là hoạt động đòi hỏi tính tự giác của học sinh rất cao, em nào
cũng được đưa ra ý kiến của mình. Nhưng hoạt động này đôi khi không hiệu quả vì giáo
viên chưa đi sâu đi sát đến từng nhóm và hướng dẫn các nhóm hoạt động chưa cụ thể.
Đây là một hoạt động mà người giáo viên thực hiện chưa tốt. Có giáo viên để các nhóm
hoạt động, ít để ý đến các em, có nhóm các em gây ồn ào mất trật tự, có nhóm chỉ có một
vài em làm việc còn lại một số các em khác không chú ý .
Thảo luận là trao đổi ý kiến về một vấn đề có phân tích lý lẽ, giữa giáo viên và học
sinh, giữa học sinh với học sinh. Giúp cho học sinh mở rộng kiến thức, phát triển được tư
duy khoa học. Giúp học sinh phát triển kĩ năng nói, giao tiếp tranh luận Thảo luận có
nhiều hình thức : Thảo luận cá nhân(hay cả lớp ), thảo luận theo cặp, nhóm, theo tổ
Để hoạt động nhóm đạt hiệu quả trước hết giáo viên phải đưa ra những yêu cầu rõ
ràng cần thảo luận những câu hỏi nào ? (Chú ý những câu hỏi khó mới cần đưa ra thảo
luận). Thời gian qui định là bao lâu? Mỗi nhóm báo cáo xong cần có nhận xét đánh giá
Ví dụ : Phần 1 :Đặc điểm chung của địa hình
+ Cho học sinh quan sát bản đồ tự nhiên Việt Nam
Cho biết Việt Nam có những dạng địa hình nào ?
Dạng địa hình nào chiếm phần lớn diện tích?
Em hãy xác định hướng nghiêng chung của địa hình trên bản đồ.
Hướng chính của các dãy núi?
Giáo viên cho học sinh tự dán kí hiệu các dãy núi được cắt rời lên bản đồ trống
Việt Nam.
Ví dụ : Phần 2 Các khu vực địa hình ở nước ta.( khu vực đồi núi)
Hoạt động nhóm :
Nhóm 1 : Tìm hiểu về khu vực đồi núi Đông Bắc
Nhóm 2 : Tìm hiểu về khu vực đồi núi Tây Bắc
Nhóm 3 : Tìm hiểu về khu vực đồi núi Bắc Trường Sơn
Nhóm 4: Tìm hiểu về khu vực đồi núi Nam Trường Sơn
Đại diện nhóm trình bày, chỉ trên bản đồ tự nhiên Việt Nam.
+ Quan sát thảo luận nhóm. Rút ra kết luận …
Bằng sự kết hợp đồng bộ giữa phương pháp quan sát – Thảo luận – Kiểm tra đánh
giá giờ học đã thật sự thu hút học sinh.
4. Hiệu quả mới :
Các tiết dạy có sự chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, đồ dùng dạy học như : Tranh
ảnh, bảng số liệu, mẫu vật, bản đồ, thao tác chính xác, kết hợp đồng bộ nhuần nhuyễn
các phương pháp dạy học. Giáo viên đã giúp các em nắm các kiến thức cơ bản một cách
chính xác, do chính các em tìm ra từ các phương tiện trực quan và biết tái hiện kiến thức
Trương Thị Thảo Trường THPT Tạ Uyên
khi cần thiết, biết suy luận, diễn tả một sự vật hiện tượng địa lí, vận dụng chúng vào thực
tiễn, trong đời sống hằng ngày, đặc biệt là trong quá trình thi và kiển tra.
Kết quả như sau:
Các lớp mà tôi đảm nhiệm trước khi áp dụng thì đa số HS học bài nắm bài một
cách máy mọc , học theo kiểu “học vẹt” học xong quên luôn đến khi kiểm tra phần lớn
các em không hiểu được vấn đề khi trình bày bài và không biết cách vận dụng. Số bài
+ Sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng địa lí lớp 12.
+ Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì môn địa.
+ Át lát địa lí Việt Nam - Thế giới.
+ Tài liệu bộ giáo dục đào tạo “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Yên Mô, Ngày 24 tháng 10 năm 2011.
Người viết
Trương Thị Thảo