phân tích nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục. thực tiễn và giải pháp. - Pdf 25

Bài tập nhóm chuyên đề 6
Dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu
chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội, do
nhà nước chịu trách nhiệm và không vì mục tiêu lợi nhuận. Trên thực tế, có rất
nhiều loại dịch vụ công rất quan trọng phục vụ nhu cầu chung của cả cộng đồng.
Một trong các lĩnh vực dịch vụ công ngày càng được nhà nước coi trọng là giáo
dục. Đây là loại hình dịch vụ khá đặc biệt vì cung ứng dịch vụ này cũng đồng
thời là đầu tư tạo nguồn nhân lực cho tương lai nên chất lượng dịch vụ không
chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người thụ hưởng dịch vụ mà còn ảnh
hưởng đến lợi ích của toàn xã hội. Cũng chính vì vậy, các vấn đề có liên quan
đến dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục luôn được cả xã hội quan tâm, đồng
thời cần và có khả năng thu hút rất nhiều lực lượng tham gia trực tiếp hoặc gián
tiếp vào quá trình cung ứng dịch vụ này.
Ở nước ta pháp luật điều chỉnh về cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực
giáo dục được quy định rải rác trong một số văn bản khác nhau như Luật giáo
dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật giáo dục đại học năm 2012 (có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013), Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày
30/05/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong
lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường, Nghị định số
49/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục…Các quy định này đã thể hiển rõ chủ trương của Đảng và nhà nước ta trong
việc quản lý cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục.
I. NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
1. Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động cung ứng
dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục
Nhà nước ra đời gắn với chức năng quản lý xã hội, dịch vụ công là những
hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của đại đa số dân chúng nên dịch vụ công
ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của xã hội, lợi ích của dân cư. Để bảo vệ các lợi
ích này nhà nước tất yếu phải thực hiện quản lý với dịch vụ công. Pháp luật về
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 1

hình phát triển của dịch vụ công trên cơ sở đó hoạch định chính sách, xây dụng
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 2
Bài tập nhóm chuyên đề 6
kế hoạch phát triển phù hợp. Trên cơ sở phân tích các số liệu thống kê, các nhà
quản lý có thể nắm bắt được tình hình và kết quả của việc cung ứng dịch vụ
công để có biện pháp khuyến khích hoặc điều chỉnh phù hợp. Các thông tin cần
thiết cho việc cung ứng và hưởng thụ dịch vụ công giúp cho cá nhân, tổ chức dễ
dàng lực chọn cho phù hợp, đồng thời giúp cho việc cung ứng dịch vụ công và
hoạt động quản lý của nhà nước được thực hiện một cách minh bạch, công khai.
Khoa học công nghệ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnh
vực giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong việc hưởng
thụ dịch vụ công. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dịch vụ công và
quản lý nhà nước đối với dịch vụ công tạo ra sự liên kết giữa các nhà cung ứng
dịch vụ với nhau, giữa tổ chức cung ứng dịch vụ và gười hưởng thụ; giúp nhà
nước quản lý được nhanh chóng, dễ dàng Chỉ thị 55/2008/CT- BGDĐT ngày
30/09/2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin
trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm
và các biện pháp tổ chức thực hiện nhằm ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh
vực giáo dục.
Thứ ba, Xác lập các quy đinh pháp luật về quản lý việc thành lập các tổ
chức cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục.
Ở Việt Nam, nhà nước thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục, Bộ giáo
dục và đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về giáo dục và đạo tạo, điều này được quy định tại Điều 100 Luật Giáo
dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Bên cạnh đó các Bộ, cơ quan ngang
bộ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ cũng thực hiện chức năng này nhưng
quản lý theo lĩnh vực chuyên môn của Bộ mình đối với một lĩnh vực đào tạo có
liên quan đến ngành của mình quản lý. Bộ và các cơ quan ngang bộ được quy
định phải phối hợp với Bộ Giáo dục và đào tạo để thực hiện việc thống nhất
quản lý nhà nước trong giáo dục ở Việt Nam. Ở cấp địa phương, UBND các cấp

chương trình, kế hoạch giảng dạy; tuy nhiên quy hoạch và kế hoạch phát triển
nhà trường phải phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạng
lưới các trường đại học của nhà nước, các chương trình, kế hoạch giảng dạy phải
dựa trên cơ sở chương trình khung do bộ giáo dục dào tạo ban hành. Bộ cũng là
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 4
Bài tập nhóm chuyên đề 6
cơ quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ về mô hình tổ chức của các loại
trường đại học, quy định thủ tục và quyết định việc thành lập, sát nhập, chia
tách, giải thể, đình chỉ hoạt động của các trường đại học, cao đẳng.
Bộ Giáo dục và đào tạo là cơ quan ban hành các quy chế tổ chức và điều
lệ hoạt động cho các tổ chức giáo dục và các loại trường học từ giáo dục mầm
non đến giáo dục phổ thông, bậc trung học chuyên nghiệp, bậc đại học và sau
đại học. Nhưng việc quản lý tổ chức và nhân sự của các cơ sở giáo dục công lập
là do UBND các cấp và các bộ chủ quản (đối với các tổ chức sự nghiệp giáo dục
của bộ) quản lý. Tại địa phương, Sở GD-ĐT là cơ quan chuyên môn tham mưu
giúp UBND tỉnh, thành phố rực thuộc trung ương thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về giáo dục và đạo tạo. Sở giáo dục chịu sự chỉ đạo của Bộ giáo dục
và đạo tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, hướng dẫn và kiểm tra, còn quản lý về tổ
chức, biên chế và công tác khác chịu sự chỉ đạo của UBND tỉnh, thành phố.
Tương tự ở cấp huyện, phòng giáo dục là cơ quan chuyên môn thuộc UBND
huyện và giúp cho UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo
dụ, phòng giáo dục đào tạo chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn,
nghiệp vụ của Sở Giáo dục và đào tạo.
Thứ tư, Xác lập các quy định pháp luật về nhân sự, cơ cấu tổ chức của bộ
máy quản lý nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực
giáo dục.
Điều 54 Luật giáo dục quy định hiệu trưởng là Hiệu trưởng là người chịu
trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền bổ nhiệm, công nhận. Bổ nhiệm hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng các
trường THPT do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định theo tiêu chuẩn chuyên môn,

hiện nhanh chóng các hành vi vi phạm pháp luật trong việc cung ứng dịch vụ
công, các hạn chế khiếm khuyết trong tổ chức cung ứng ịch vụ công cũng được
phát hiện. Tuy nhiên, thanh tra, kiểm tra không thể là biện pháp để nhà nước can
thiệp vào hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ công nên việc thanh tra
kiểm tra phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật.
Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục rất đa dạng và khác nhau về
tính chất và mức độ. Các vi phạm có thể được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức
cung ứng dịch vụ hay người thụ hưởng dịch vụ, tuy nhiên có thể thấy vi phạm
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 6
Bài tập nhóm chuyên đề 6
của các cá nhân, tổ chức cung ứng dịch vụ thường có tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội cao hơn do nó ảnh hưởng tới lợi ích của số đông. Hiện nay các
hành vi vi phạm và việc xử phạt vi phạm hành chính về cung ứng dịch vụ công
trong lĩnh vực giáo dục được quy định tại Luật giáo dực năm 2005, Luật giáo
dục đại hoạc năm 2012 và được quy định chi tiết, cụ thể trong Nghị định số
49/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục Việc xử phạt vi phạm hành chính nghiêm minh vừa nhằm phạt trực tiếp
người vi pham vừa có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa vi phạm tiếp tục
xảy ra.
Theo Quy định tại Điều 113 Luật giáo dục thì tổ chức hoạt động của
Thanh tra giáo dục gồm thanh tra Bộ, thanh tra Sở và hoạt động của thanh tra
giáo dục được thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra. Hoạt động của thanh
tra giáo dục cấp huyện do trưởng phòng giáo duc và đào tạo cấp huyệt trực tiếp
phụ trách theo sự chỉ đạo nghiệp vụ của thanh tra Sở giáo dục và đào tạo; hoạt
động thanh tra giáo dục trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại
học do thủ trưởng cơ sở trực tiếp phụ trách theo quy định của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề.
Về các hành vi vi pạm và các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục được quy định rõ tại Điều 118 Luật giáo dục năm 2005 và
Điều 71 Luật giáo dục đại học năm 2012, bao gồm các hành vi như: Thành lập

đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người,
động lực trực tiếp của sự phát triển”. Đó là một sự khẳng định hết sức đúng đắn
xuất phát từ lợi ích của nhân dân ta, đồng thời phù hợp với chân lý phổ biến của
lịch sử thế giới. Từ đó đến nay nhiều hội nghị chuyên đề của Đảng tiếp tục ban
hành các nghị quyết về đổi mới, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Chính
vì vậy mà sự nghiệp giáo dục - đào tạo nước ta ngày càng phát triển cả về quy
mô và chất lượng.
Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật để tổ chức thực hiện cung
ứng dich vụ công trong lĩnh vực này như Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại
học…Luật Giáo dục quy định việc phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trung
học cơ sở. Với sự đầu tư của Nhà nước và truyền thống hiếu học của dân tộc,
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 8
Bài tập nhóm chuyên đề 6
chúng ta đã hoàn thành việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, đang thực
hiện phổ cập trung học cơ sở và phát triển mạnh các trường dạy nghề, giáo dục
đại học và chuyên nghiệp.
Xác định rõ mục tiêu đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, Nhà nước
ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ
chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục, Nhà nước đã không ngừng tăng
tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục và tích cực vận động, thu hút vốn ODA, tài trợ
của các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước dưới hình thức viện trợ không
hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi.
Nhà nước mở rộng hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, các cá nhân
nước ngoài và Việt kiều nhằm khai thác mọi tiềm năng bên ngoài để phát triển
giáo dục. Chính phủ đã ban hành các văn bản nhằm khuyến khích đầu tư nước
ngoài vào lĩnh vực giáo dục như cho phép thành lập các cơ sở giáo dục và đào
tạo 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, mở rộng liên kết giữa các cơ sở đào tạo
trong nước và các tổ chức nước ngoài…Nhờ có chính sách đúng đắn, ngành
giáo dục đã tận dụng được mọi nguồn viện trợ thông qua các chương trình hợp

- Cơ sở bán công: do Nhà nước thành lập trên cở sở huy động các tổ chức,
cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất; hoặc
cơ sở bán công thuộc sở hữu nhà nước, do các cơ quan nhà nước quản lý, nhưng
mọi chi phí hoạt động được trang trải bằng lệ phí do học sinh đóng góp.
- Cơ sở dân lập: do các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi
chính phủ, tổ chức kinh tế thành lập và đầu tư vốn. Giống như cơ sở bán công,
các cơ sở dân lập tự trang trải toàn bộ kinh phí.
- Cơ sở tư thục: do cá nhân hay một nhóm cá nhân thành lập và đầu tư
vốn.
Để khuyến khích phát triển xã hội hóa cung ứng dịch vụ công trong lĩnh
vực giáo dục nói riêng và các lĩnh vực dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi
trường nói chung, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30
tháng 5 năm 2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa. Theo đó, tạo điều
kiện thuận lợi và các chính sách ưu đãi về giao đất, cho thuê đất, ưu đãi về thuế
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 10
Bài tập nhóm chuyên đề 6
thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về tín dụng để khuyến khích đầu tư. Nhà nước
khuyến khích các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nhất
là các chủ thể phi nhà nước tham gia vào hoạt động xã hội hóa cung ứng dịch vụ
công trong đó có lĩnh vực giáo dục. Nhà nước tạo môi trường phát triển, môi
trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật để thúc đẩy các cơ sở
công lập và ngoài công lập phát triển cả về quy mô và chất lượng.
Giáo dục và đào tạo được coi là động lực để phát triển kinh tế - xã hội,
giáo dục và đào tạo được đặt lên vị trí quốc sách hàng đầu. Trong số các giải
pháp phát triển giáo dục thì xã hội hóa được coi là giải pháp mang tính chiến
lược, nhằm huy động mọi nguồn lực của xã hội cho phát triển giáo dục, đáp ứng
nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân và đào tạo nguồn nhân lực cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
II. THỰC TIỄN THỰC HIỆN CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG TRONG
LĨNH VỰC GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM

lưới cơ sở giáo dục đã được mở rộng đến khắp các xã, phường trên cả nước, góp
phần xõa xã trắng về giáo dục mầm non, củng cố vững chắc kết quả xóa mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học. Quy hoạch mạng lưới các trường đại học đã được
triển khai tích cực. Các vùng khó khắn như Tây Bắc, Nam Trung Bộ, Đồng bằng
sông Cửu Long đã thành lập thêm các trường đại học, cao đẳng, tạo điều kiện
cho việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ. Hai đại học quốc gia (Đại học Quốc gia
Hà Nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) đã được tổ chức lại; ba đại học
khu vực (Thái Nguyên, Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng) tiếp tục được nâng cấp,
phát triển; các trường đại học trọng điểm của các khối sư phạm, công nghệ,
nông nghiệp, kinh tế được tăng cường.
Bên cạnh sự phát triển của các cơ sở công lập, hệ thống các cơ sở ngoài
công lập đã hình thành và phát triển ở mọi bậc học, cấp học trên khắp các vùng,
miền trong cả nước. Hoạt động của các cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập
đã đóng góp một phần rất quan trọng vào sự nghiệp giáo dục của nước ta. Việc
đa dạng hóa các loại hình giáo dục đã góp phần mở rộng cơ hội học tập cho
nhân dân, thu nhận nhiều trẻ em, học sinh, sinh viên tham gia học tập, từ đó
trang bị những kiến thức cần thiết đáp ứng nhu cầu việc làm cho một bộ phận
dân cư.
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 12
Bài tập nhóm chuyên đề 6
Việc hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, các cá nhân nước ngoài và
Việt kiều nhằm khai thác mọi tiềm năng bên ngoài để phát triển giáo dục và đào
tạo ngày càng được mở rộng. Chính phủ đã ban hành các văn bản nhằm khuyến
khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo như: cho phép thành
lập các cơ sở và đào tạo 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam; mở rộng liên kết
giữa các cơ sở đào tạo trong nước và các tổ chức nước ngoài… Nhờ có chính
sách đúng đắn, ngành giáo dục đã tận dụng được mọi nguồn viện trợ thông qua
các chương trình hợp tác song phương và đa phương với các nước, các tổ chức
quốc tế, các tổ chức phi chính phủ để tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo.
Trong vòng hơn 10 năm qua, đã có khoảng 114 chương trình, dự án hợp tác, với

nuôi, thú y, điện tử, sửa chữa xe máy…
Bên cạnh đó đã xuất hiện một số mô hình dạy nghề mới theo hướng xã
hội hóa có hiệu quả như: mô hình cơ sở dạy nghề trong doanh nghiệp; mô hình
dạy nghề cho lao động nông thôn; mô hình dạy nghề lưu động; mô hình dạy
nghề cho lao động xuất ngũ…
2. Một số hạn chế, bất cập
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong quá trình thực hiện cung
ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục vẫn còn những hạn chế, khó khăn nhất
định.
Thứ nhất, chất lượng thực hiện cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo
dục chưa được tốt.
Trong những năm qua cho thấy, số lượng các trường đại học, cao đẳng
mọc lên ngày càng nhiều. Ở hệ thống các trường công lập, nhiều trường cao
đẳng được chuyển lên hệ đại học như cao đẳng nội vụ, cao đẳng tài nguyên môi
trường, Bên cạnh đó, số trường đại học ngoài công lập cũng mọc lên như
“nấm”. Tuy nhiên, trái với số trường mọc lên thì chất lượng đào tạo ở một số
đơn vị giáo dục chưa được tốt, đặc biệt là ở một số đơn vị giáo dục ngoài công
lập. Ở các cơ sở đào tạo ngoài công lập nhiều trường vẫn được cấp phép hoạt
động dù không bảo đảm đủ điều kiện về cơ sở vật chất và nguồn giảng viên nên
đã không mang lại chất lượng đào tạo tốt trong việc giảng dạy. Điều này dẫn đến
việc một số cơ sở không duy trì được quy mô ban đầu thậm chí phải giải thể.
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 14
Bài tập nhóm chuyên đề 6
Một số trường chạy theo nguồn thu dẫn đến hạ thấp các tiêu chuẩn tuyển
sinh và thiếu nghiêm túc trong đánh giá kết quả đầu ra, không đầu tư thích đáng
cho hoạt động học thuật và chất lượng đào tạo.
Thực tế cho thấy, bên cạnh các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ
sở, trung học phổ thông ngoài công lập phải nộp học phí tương đối cao nhưng
chất lượng đào tạo và cơ sở vật chất giảng dạy đầy đủ thì vẫn có những cơ sở
giáo dục ngoài công lập chất lượng chưa tốt. Đội ngũ giáo viên giảng dạy trình

nhận thấy dạy thêm, học thêm ngày càng phổ biến hơn đến mức phần lớn phụ
huynh không thể yên tâm về quá trình học tập của con cái mình nếu không cho
học thêm. Những ví dụ đó cho thấy Nhà nước chưa có sự nhạy cảm trong việc
nắm bắt nhu cầu xã hội , quản lý Nhà nước vẫn mang nặng tính hành chính, chủ
quan, duy ý chí.
Bên cạnh đó, chưa có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước nên vì mục đích
lợi nhuận, một số cơ sở giáo dục dân lập có xu hướng đẩy giá dịch vụ lên cao, đi
kèm với nó là cơ chế tài chính, thu chi thiếu minh bạch, ảnh hưởng tiêu cực đến
những người hưởng dịch vụ.
Thứ ba, có sự thiếu hụt ngân sách trong cung ứng dịch vụ công
Mặc dù hàng năm nhà nước đều cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước cho
lĩnh vực giáo dục đào tạo và có nguồn thu từ học phí nhưng vẫn còn hạn chế,
không đảm bảo được chi phí thiết yếu của các đơn vị nhà nước cung cấp dịch vụ
công. Nguồn ngân sách hạn hẹp như vậy đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả cung
ứng dịch vụ công, ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ mà trước hết là không đủ trả
lương thỏa đáng cho cán bộ công chức, viên chức. Thực trạng này có thể làm
phát sinh hiện tượng tiêu cực, phá hủy nền tảng đạo đức của xã hội. Hơn nữa, ở
một số cơ sở đào tạo không đủ tiền để mua cơ sở vật chất đáp ứng đầy đủ cho
việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn như một số trường kỹ thuật
cần phải có các dụng cụ máy móc để thực hành tuy nhiên nhà trường không có
đủ số tiền để cung cấp một cách tốt nhất cơ sở vật chất cho sinh viên,… Trong
khi đó nhu cầu học của xã hội ngày càng tăng lên nhanh chóng với đòi hỏi cao
về chất lượng khi mức sống ngày càng cải thiện.
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 16
Bài tập nhóm chuyên đề 6
Thứ tư, một số đơn vị giáo dục ngoài công lập quá quan tâm tới yếu tố
thương mại hóa dẫn đến việc lơ là chất lượng giáo dục
Các cơ sở ngoài công lập luôn có vốn góp của các cá nhân, tổ chức và các
cá nhân, tổ chức này được chia lợi nhuận hoặc được phân phối chênh lệch giữa
tổng thu và tổng chi của đơn vị trong năm tài chính sau khi hoàn thành nghĩa vụ

chức lại hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực của quốc gia, theo hướng có một cơ quan (Bộ Giáo dục)
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục mầm non và giáo dục phổ
thông thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay và một cơ quan (Bộ Đào tạo và
Phát triển nguồn nhân lực) thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học và phát triển nguồn nhân lực quốc gia (bao gồm
bộ phận quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và giáo dục
thường xuyên mà hiện nay đang thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo; bộ phận quản lý
nhà nước về dạy nghề thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; bộ phận
quản lý nhà nước về thanh niên đang thuộc Bộ Nội vụ hiện nay). Nếu không tổ
chức lại hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo thì không thể
đổi mới quản lý giáo dục và “đổi mới căn bản và toàn diện” nền giáo dục Việt
Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập
quốc tế.
Hai là, nâng cao hiệu lực chỉ đạo tập trung, thống nhất của Chính phủ
trong việc thực hiện chiến lược, chính sách phát triển giáo dục. Đổi mới chức
năng và phương thức hoạt động của Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển
nhân lực do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch theo hướng giúp Thủ tướng chỉ
đạo việc thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục trong thực hiện chiến lược
phát triển giáo dục. Hội đồng này có bộ phận giúp việc, huy động lực lượng các
nhà khoa học, giáo dục, hoạt động kinh tế - xã hội, có uy tín thuộc các lĩnh vực
khác nhau tham gia quá trình xây dựng, thẩm định các chủ trương, chính sách,
kế hoạch phát triển, đánh giá chất lượng, hiệu quả các hoạt động giáo dục một
cách thống nhất và đồng bộ.
Ba là, tăng đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển giáo dục, tập trung
đầu tư cho tuyến cơ sở và những vùng khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa,
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 18
Bài tập nhóm chuyên đề 6
vùng dân tộc thiểu số; dành lượng kinh phí thích đáng trợ giúp người thuộc diện
chính sách và người nghèo thụ hưởng dịch vụ công, chuyển cơ chế cấp kinh phí

tập trung làm tốt các nhiệm vụ chủ yếu, như xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch và chính sách phát triển giáo dục; xây dựng cơ chế và quy chế quản lý và
kiểm định chất lượng đào tạo; tổ chức kiểm tra và thanh tra giáo dục, Cần
giảm thiểu việc quản lý còn nặng tính chất sự vụ, bị động và tập trung thái quá
trong việc thực hiện các “dự án” giáo dục. Trên cơ sở thể chế hóa vai trò, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý giáo dục ở các cấp, các ngành
mà thực hiện sự phân cấp quản lý mạnh mẽ cho các bộ, ngành, các địa phương.
Hoàn thiện quy chế quản lý hoạt động của các loại hình trường. Giao quyền chủ
động cao hơn cho các trường đại học, cao đẳng để tạo điều kiện cho các trường
chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục, đồng
thời chịu trách nhiệm lớn hơn đối với xã hội và nhân dân. Đẩy mạnh phân cấp
và góp phần giải quyết có hiệu quả các vấn đề bức xúc; ngăn chặn và đẩy lùi các
hiện tượng tiêu cực trong giáo dục.
Thực hiện hợp lý cơ chế tự chủ trong giáo dục, đào tạo gắn với đổi mới cơ
chế tài chính. Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, quản lý
mục tiêu, chất lượng giáo dục, đào tạo. Phát triển hệ thống kiểm định và công bố
công khai kết quả kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo; tổ chức xếp hạng cơ
sở giáo dục, đào tạo. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, thực hiện nền nếp
kỷ cương tại các cơ sở giáo dục; kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực
trong giáo dục, đào tạo. Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục, đào
tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai
trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài,
xây dựng xã hội học tập. Xây dựng cơ chế phối hợp quản lý giữa nhà trường, gia
đình và xã hội, cơ chế gắn kết giáo dục - đào tạo với nghiên cứu khoa học - công
nghệ và ứng dụng qua các hình thức tổ chức, liên kết, các chính sách vĩ mô và vi
mô.
Tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống đánh giá và kiểm định chất
lượng giáo dục. Nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên gia công tác trên
lĩnh vực này. Xây dựng các chuẩn và công khai hóa các chuẩn trong giáo dục và
đào tạo.

đã được đề cập tại Nghị quyết 90/CP (1997), Nghị quyết 05/2005/NQ-CP và
một số văn bản quan trọng khác của Đảng và Nhà nước. Trong đó, việc thực
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 21
Bài tập nhóm chuyên đề 6
hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục được chú trọng đầu tiên. Để đẩy mạnh
xã hội hóa cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục cần thực hiện nhiều
nhóm giải pháp:
Thứ nhất, làm rõ vấn đề mang tính lý luận về xã hội hóa cung ứng dịch vụ
công nói chung và cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục nói riêng, như
đa dạng hóa các hình thức cung ứng dịch vụ công, làm rõ cơ chế hoạt động của
các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công,
Thứ hai, thực hiện các biện pháp, chính sách tạo dễ dàng và khuyến khích
đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập cung ứng dịch vụ công như đơn giản
hóa thủ tục thành lập và hoạt động của các trường ngoài công lập, thực hiện
chính sách khuyến khích đầu tư đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập. Đặc
biệt, Nhà nước nên xây dựng và khuyến khích quy chế đặc thù đối với các cơ sở
đào tạo không vì lợi nhuận cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục.
3. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đối với các cơ sở cung
ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục.
Thứ nhất, Công tác kiểm tra, thanh tra đối với các cơ sở giáo dục cần làm
thường xuyên, cần tổ chức hoạt động kiểm tra, thanh tra đối với chính các cơ
quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện quản lý các cơ sở giáo dục này. Việc
xử lý vi phạm đối với các đơn vị sai phạm cần được tiến hành nghiêm túc, đúng
quy định.
Thứ hai, xã hội hóa giáo dục là khuyến khích sự tham gia của các tổ chức
xã hội trong việc giám sát hoạt động của các cơ sở giáo dục, vì vậy cần tăng
cường sự tham gia của:
- Tổ chức hội đồng trường: Như đã nêu trong Luật Giáo dục 2005, hội
đồng trường là một tập thể đại diện cho tiếng nói và lợi ích của xã hội, do vậy
mà hội đồng trường nên giữ quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm hiệu trưởng; thực

về quản lý nhà nước đối với các hoạt động cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực
giáo dục. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập khiến cho
chất lượng của dịch vụ không cao, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người thụ
hưởng dịch vụ; vì vậy đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ để hoàn thiện pháp
luật, nâng cao hiệu quả của việc cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực này.
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 23
Bài tập nhóm chuyên đề 6
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật giáo dục năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
2. Luật Giáo dục Đại học năm 2012.
3. Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/05/2008 về chính sách khuyến
khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề,
y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.
4. Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11/04/2005 quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định
số 40/2011/NĐ-CP).
5. Chỉ thị 55/2008/CT- BGDĐT ngày 30/09/2008 về tăng cường giảng dạy,
đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn
2008-2012.
6. TS. Nguyễn văn Quang, Hoàn thiện khung pháp luật về xã hội hóa cung
ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2010.
Nhóm 11CH20 – Chuyên ngành Luật Hành chính & Hiến pháp 24
Bài tập nhóm chuyên đề 6
MỤC LỤC
I. NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CUNG
ỨNG DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC 1
1. Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công
trong lĩnh vực giáo dục 1
2. Quy định của pháp luật về tổ chức thực hiện cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status