1
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH THY CHUNG Hoạt động cung ứng dịch vụ của ngân hàng th-ơng mại
trong phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp
theo pháp luật việt nam
LUN VN THC S LUT HC H NI 2014
2
L
NGƢỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Thúy Chung
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU RIÊNG LẺ CỦA
DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 12
1.1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CỦA NHTM 12
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ NHTM 12
1.1.2. Đặc điểm dịch vụ NHTM 15
1.1.3. Phân loại các hoạt động cung ứng dịch vụ của NHTM 17
1.2. KHÁI LUẬN VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU RIÊNG LẺ CỦA DOANH NGHIỆP 22
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh
nghiệp 22
1.2.2. Phân biệt phát hành trái phiếu riêng lẻ và phát hành ra công chúng 24
LANG PHÁP LÝ 78
3.1.1 Phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam 78
3.1.2. Phù hợp với mục tiêu cải cách hành chính, cải cách tƣ pháp của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 79
3.1.3. Bảo đảm phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế 80
3.1.4. Phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành 81
3.1.5. Phù hợp với chính sách tài chính và phát triển thị trƣờng chứng
khoán 82
3.2. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO
HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CỦA NHTM TRONG DỰ ÁN PHÁT
HÀNH TRÁI PHIẾU RIÊNG LẺ CỦA DOANH NGHIỆP 82
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật quy định về hoạt động
cung ứng dịch vụ của NHTM 82
3.2.2. Xây dựng cơ chế đồng bộ, hƣớng dẫn và giám sát phối hợp thực
hiện giữa các chủ thể 86
3.2.3. Hoàn thiện cơ chế giám sát của Ngân hàng Nhà nƣớc 88
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB
:
Ngân hàng phát triển Châu Á
ĐHĐCĐ
:
Đại hội đồng cổ đông
EBT
:
Hiệp hội thị trƣờng trái phiếu Việt Nam 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong vài năm qua, những đóng góp của hệ thống NHTM Việt Nam vào
quá trình đổi mới và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá là rất lớn. Các NHTM không chỉ tiếp tục khẳng định
là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, mà còn góp phần ổn định sức
mua đồng tiền. Đến nay, vốn cho sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn do các
NHTM đáp ứng, với tổng tài sản của hệ thống lên tới khoảng 140% GDP.
Cùng với quá trình cải cách và đổi mới, số lƣợng các NHTM ở Việt Nam tăng
nhanh, đã và đang từng bƣớc chuyển dần hƣớng tới một hệ thống tƣơng thích
của các nền kinh tế đang nổi và mới phát triển. Sự lớn mạnh của hệ thống
NHTM thể hiện ở sự tăng lên của vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, mức độ đa
dạng hóa các dịch vụ cung cấp và sự đóng góp của ngành vào GDP hàng năm.
Bên cạnh đó là sự phát triển khá nhanh về số lƣợng các ngân hàng và số
lƣợng chi nhánh/phòng giao dịch, cùng với quá trình hoàn thiện các sản phẩm
dịch vụ truyền thống và phát triển các dịch vụ mới khiến doanh số và tỷ trọng
dịch vụ tăng lên qua các năm. Trên thực tế, hoạt động cung ứng dịch vụ của
NHTM cho các tổ chức phát hành trái phiếu đƣợc pháp luật cho phép và đóng
vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thị trƣờng trái phiếu. Với cơ cấu tổ
chức chặt chẽ, đội ngũ nhân viên am hiểu thị trƣờng và có nhiều kinh nghiệm
về tài chính, ngân hàng, NHTM đang dần khẳng định tính ƣu việt của mình
khi tham gia tƣ vấn và cung cấp dịch vụ cho các tổ chức phát hành. So với các
dịch vụ của công ty chứng khoán cung cấp, dịch vụ của NHTM tuy còn mới
nhƣng cũng mang những ƣu điểm nhất định về tính chuyên môn, đặc biệt là
Vai trò của NHTM trong các dự án phát hành trái phiếu doanh
nghiệp.
Thực trạng pháp luật về cung ứng dịch vụ của NHTM khi tham gia dự
án phát hành trái phiếu riêng lẻ cho doanh nghiệp. 9
Những hạn chế của pháp luật đối với hoạt động cung ứng dịch vụ của
NHTM trong các dự án này và phƣơng hƣớng hoàn thiện.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn
trong việc NHTM tham gia vào dự án phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh
nghiệp trong nƣớc. Trong nội dung trình bày, tác giả đƣa ra những nhận xét,
đánh giá về các khía cạnh pháp lý và thực tiễn cũng nhƣ đánh giá xu hƣớng của
việc áp dụng vấn đề này vào thực tiễn. Qua đó nêu lên những kiến nghị có thể
áp dụng cho việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động của NHTM.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Đề tài phân tích những khái niệm cơ bản, làm rõ vai trò trách nhiệm của
các bên tham gia trong một dự án phát hành trái phiếu mà đặc biệt là những
vai trò mà NHTM có thể đảm nhiệm; phân tích các khía cạnh pháp lý liên
quan đến phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp và pháp luật về hoạt
động của các NHTM. Tiếp đến, đề tài hƣớng đến nghiên cứu, phân tích và
đánh giá thực trạng pháp luật quy định về hoạt động của NHTM khi tham gia
dự án phát hành trái phiếu riêng lẻ doanh nghiệp qua việc đƣa ra những nhận
định khái quát và cụ thể những mặt tích cực, những mặt hạn chế, bất cập của
pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng.
Cuối cùng, từ những nghiên cứu về các khía cạnh pháp lý và thực tiễn
về hoạt động của NHTM trong dự án phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng
lẻ, tác giả mạnh dạn đƣa ra định hƣớng và những kiến nghị, đề xuất, giải pháp
cứu lịch sử, phƣơng pháp phân tích, so sánh, quy nạp, thống kê… 11
5.3. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài đƣợc triển khai nghiên cứu trong hệ thống các NHTM cổ phần
hiện đang hoạt động trên địa bàn Hà Nội. Đây là trung tâm thƣơng mại lớn
nhất, phát triển nhất trong cả nƣớc và cũng là nơi mà hoạt động tín dụng ngân
hàng phát huy cao nhất tiềm năng của mình. Nhờ đó, tác giả có cơ hội tiếp
cận với nhiều dự án khác nhau trên các lĩnh vực khác nhau để có cái nhìn tổng
quan và đƣa ra những đánh giá xác thực về hoạt động của NHTM khi tham
gia một dự án phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp.
5.4. Dự kiến kết quả
Đề tài mang đến cho ngƣời đọc cái nhìn chi tiết nhất về hoạt động của
NHTM khi tham gia vào dự án phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, đề tài sẽ đƣa ra những đánh giá khách quan về hành
lang pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này và phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chƣơng:
: Tổng quan về hoạt động cung ứng dịch vụ của NHTM trong
phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam.
: Thực trạng pháp luật về hoạt động cung ứng dịch vụ của
NHTM trong phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp.
: Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động cung
ứng dịch vụ của NHTM trong phát hành trái phiếu riêng lẻ cho doanh nghiệp.
12
tổ chức kinh doanh khác hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận nhƣng là tổ
chức đặc biệt vì đối tƣợng kinh doanh là tiền tệ, hoạt động tín dụng là đặc
trƣng đƣợc thực hiện chủ yếu bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để
cho vay. Luật Ngân hàng Pháp năm 1941 định nghĩa: “
” [11].
Ở nƣớc ta trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trƣờng có sự quản
lý của Nhà nƣớc, pháp lệnh Ngân hàng, Hợp Tác Xã Tín dụng và Công ty Tài
chính đã xác định “
” [9, Khoản 1 Điều 1]. Nhìn chung,
ngay từ những ngày đầu tiên, pháp lệnh Ngân hàng đã xác định đƣợc chức
năng hoạt động chính của Ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ nhận tiền gửi,
cho vay, chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán. Tuy nhiên, đây mới chỉ là
những khái niệm sơ khai, mang tính chất liệt kê chƣa đầy đủ về các dịch vụ
mà Ngân hàng cung cấp. Đến nay, khi các dịch vụ ngân hàng phát sinh ra
nhiều biến thể, chúng ta lại có sự lẫn lộn ngay trong quá trình thực hiện các
nghiệp vụ và phát sinh nhiều quan điểm về dịch vụ ngân hàng. Có quan niệm
cho rằng: dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các
hoạt động nghiệp vụ theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay,
huy động tiền gửi ) chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới
gọi là dịch vụ ngân hàng. Quan điểm này phân định rõ hoạt động tín dụng,
một hoạt động truyền thống và chủ yếu trong thời gian qua của các NHTM
Việt Nam, với hoạt động dịch vụ, một hoạt động mới bắt đầu phát triển ở
nƣớc ta. Sự phân định nhƣ vậy trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trƣờng
dịch vụ tài chính hiện nay cho phép ngân hàng thực thi chiến lƣợc tập trung
15
thì cụm từ: “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” đƣợc bao
hàm cả 3 nội dung: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh
toán. Cụ thể hơn dịch vụ ngân hàng đƣợc hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về
vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng
nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,… và ngân
hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Trong
xu hƣớng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân
hàng đƣợc coi nhƣ một siêu thị dịch vụ, một bách hoá tài chính với hàng trăm,
thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tuỳ theo cách phân loại và tuỳ theo
trình độ phát triển của ngân hàng ở mỗi quốc gia.
1.1.2. Đặc điểm dịch vụ NHTM
a
Chỉ các NHTM với những ƣu thế riêng mới có thể thực hiện một cách
đầy đủ và trọn vẹn các dịch vụ tài chính, ngân hàng. Là một loại hình doanh
nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, NHTM là loại
hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ
những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định (về vốn pháp định, phƣơng án
kinh doanh ) thì mới đƣợc phép hoạt động trên thị trƣờng. Đây đƣợc coi là
một đặc điểm cốt lõi trong việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Không một
tổ chức kinh tế nào - ngoài ngân hàng - có đủ điều kiện về vốn, về cơ cấu tổ
chức, cơ cấu tài chính… và đƣợc pháp luật cho phép cung ứng các dịch vụ
ngân hàng một cách chính thống và đầy đủ. Lý do pháp luật quy định cụ thể
và khắt khe về chủ thể thực hiện dịch vụ ngân hàng là vì tính rủi ro cao trong
hoạt động ngân hàng. Với vai trò trung gian về tài chính, các ngân hàng nắm
trong tay lƣợng tài sản khổng lồ của xã hội, tạo ra tính thanh khoản tiền tệ,
giúp huy động nguồn vốn nhàn rỗi và đầu tƣ vào nhiều mục đích khác nhau.
Để ngƣời dân có thể đặt niềm tin vào các chủ thể này, pháp luật cần tạo ra
một hành lang pháp lý vững chắc, mà đầu tiên là phải quy định các điều kiện
tiền, dịch vụ cung cấp các tài khoản giao dịch…. Đến nay, có thêm rất nhiều 17
những dịch vụ ngân hàng hiện đại nhƣ: dịch vụ thẻ ngân hàng, dịch vụ quản
lý tiền mặt (ngân quỹ), dịch vụ thanh toán điện tử, dịch vụ ngân hàng tại nhà,
dịch vụ bảo quản và ký gửi, dịch vụ thƣ bảo đảm thực hiện đấu thầu, dịch vụ
tƣ vấn tài chính, dịch vụ hợp đồng trao đổi tín dụng, trái phiếu ràng
buộc…vv… Ngoài ra, còn có một số dịch vụ ngân hàng mới ngày càng đƣợc
áp dụng rộng rãi tại các NHTM nhƣ: cung cấp dịch vụ hƣu trí, bán các dịch
vụ bảo hiểm, home banking, phone banking, internet banking… vv. Đặc điểm
này giúp cho các NHTM mở rộng cơ hội tiếp cận với khách hàng và tham gia
tích cực hơn vào thị trƣờng.
d
Khác với các tổ chức kinh tế khác, khách hàng của NHTM là những
ngƣời đóng vai trò hai mặt đối với ngân hàng. Thứ nhất, họ là những ngƣời
cung cấp các điều kiện để ngân hàng hoạt động, tạo nguồn vốn cho ngân
hàng. Thứ hai, khách hàng là đối tƣợng sử dụng các sản phẩm của ngân hàng,
nhƣ vay vốn, gửi tiền, sử dụng dịch vụ thanh toán vv. Phần lớn, những khách
hàng này lại sử dụng chính những đồng tiền mà họ đã gửi vào. Vì vậy, khách
hàng chính là những ngƣời cung cấp đầu vào cho ngân hàng và họ cũng chính
là ngƣời sử dụng sản phẩm đầu ra của ngân hàng.
1.1.3. Phân loại các hoạt động cung ứng dịch vụ của NHTM
Chƣơng IV Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định về hoạt động của
tổ chức tín dụng, trong đó, Mục 2 quy định hoạt động của NHTM. Có thể
thấy, ngoài các hoạt động tín dụng đặc trƣng, NHTM còn đƣợc phép thực
hiện một số nghiệp vụ khác, có hoặc không có điều kiện. Căn cứ các hoạt
động đƣợc phép thực hiện này, NHTM cung cấp các dịch vụ tƣơng ứng tới
khách hàng nhằm tăng tối đa mức lợi nhuận thu đƣợc từ hoạt động kinh
doanh. Có rất nhiều cách phân loại dịch vụ NHTM, nhƣng dựa trên các hoạt
dàng lƣu thông trên thị trƣờng khi khách hàng có nhu cầu chuyển nhƣợng.
Hình thức này góp phần nâng cao hiệu quả huy động vốn của NHTM trên thị 19
trƣờng tiền tệ, đồng thời giúp NHTM cung cấp dịch vụ tài chính đến tay
khách hàng đa dạng và tiện lợi hơn.
b.
Song song với huy động vốn là nhóm cấp tín dụng. Cấp tín dụng đƣợc hiểu
là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho
phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả, trong đó, NHTM thực
hiện cấp tín dụng thông qua nghiệp vụ cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công
cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá khác; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán
trong nƣớc, bao thanh toán quốc tế (đối với các ngân hàng đƣợc phép thanh toán
quốc tế); bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác sau khi đƣợc
Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận. Tuy cùng bản chất là cấp một khoản tiền để
khách hàng sử dụng có cam kết, nhƣng mỗi nghiệp vụ cấp tín dụng lại mang một
đặc điểm nhất định, nhằm cung cấp dịch vụ đến từng đối tƣợng khách hàng với
các nhu cầu sử dụng vốn khác nhau. Cụ thể:
- Cho vay: NHTM trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và đời sống. NHTM cho vay theo nguyên tắc đối tƣợng
vay phải hoàn trả gốc và lãi khi khoản vay đến hạn và đƣợc kiểm tra, giám sát
quá trình sử dụng vốn vay của tổ chức, cá nhân vay vốn. Hoạt động cho vay
đi kèm với các rủi ro trong hoạt động tín dụng nên NHTM đƣợc sử dụng các
biện pháp đảm bảo tài sản từ các đối tƣợng vay nhƣ: thế chấp, cầm cố, bảo
lãnh… và trích lập quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp các khoản cho vay không
thu đƣợc nợ.
- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá:
NHTM cấp tín dụng dƣới hình thức chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có
thực hiện chức năng thanh toán quốc tế nhƣ: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá
quý, giao dịch liên quan đến L/C, chuyển tiền quốc tế, bao thanh toán quốc tế,
giao dịch hàng hóa tƣơng lai… để đáp ứng nhu cầu giao lƣu kinh tế quốc tế
của các cá nhân và doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc. 21
- Các dịch vụ khác nhƣ thu hộ, chi hộ, phát triển các sản phẩm ngân
hàng điện tử…vv cũng nằm trong nhóm này.
d. C
Nhóm các dịch vụ khác của NHTM căn cứ vào quy định tại Luật các tổ
chức tín dụng 2010. Trong đó, NHTM đƣợc thực hiện những hoạt động khác
(ngoài các hoạt động tín dụng thƣờng xuyên) bao gồm:
- Góp vốn đầu tƣ, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác
từ nguồn vốn tự có để đa dạng hóa danh mục đầu tƣ, hạn chế rủi ro và nâng
cao hiệu quả kinh doanh theo giới hạn pháp luật quy định từng thời kì.
- Tham gia thị trƣờng tiền tệ, mua bán trái phiếu chính phủ, trái phiếu
doanh nghiệp, môi giới tiền tệ.
- Hoạt động ủy thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng kể cả
quản lý tài sản, vốn đầu tƣ của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng ủy thác…
- Dịch vụ quản lý tiền mặt, tƣ vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ
quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn.
- Tƣ vấn tài chính doanh nghiệp, tƣ vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập
doanh nghiệp, tƣ vấn đầu tƣ.
- Kinh doanh vàng, kinh doanh dịch vụ chứng khoán khi đƣợc NHNN
chấp thuận bằng văn bản. Ngoài ra, NHTM có thể thành lập công ty độc lập
để hoạt động kinh doanh chứng khoán bao gồm: môi giới chứng khoán, tƣ
vấn đầu tƣ chứng khoán, quản lý danh mục đầu tƣ, lƣu ký chứng khoán, tƣ
vấn niêm yết và bảo lãnh phát hành.
Nhìn chung, khi nghiên cứu về hoạt động của các NHTM, chúng ta sẽ
vẫn dựa trên các tiêu chí về thời gian hoạt động của doanh nghiệp, kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh và phƣơng án phát hành trái phiếu đã đƣợc
doanh nghiệp đó thông qua. 23
hai, hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp phải
tuân thủ các nguyên tắc nhất định. Theo đó, doanh nghiệp phát hành trái phiếu
riêng lẻ theo nguyên tắc tự vay, tự trả và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử
dụng vốn. Các hoạt động phát hành trái phiếu phải đảm bảo công khai, minh
bạch, công bằng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tƣ. Việc
phát hành trái phiếu để cơ cấu lại nợ phải đảm bảo nguyên tắc không phát
hành trái phiếu ra thị trƣờng quốc tế để cơ cấu lại nợ bằng đồng Việt Nam.
Đối với phát hành trái phiếu để đầu tƣ cho các chƣơng trình, dự án, doanh
nghiệp phát hành phải đảm bảo duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu là hai
mƣơi phần trăm (20%) trong tổng mức đầu tƣ của chƣơng trình, dự án [2].
Các nguyên tắc này đƣợc coi nhƣ những cam kết của tổ chức phát hành đối
với các nhà đầu tƣ để đảm bảo tính minh bạch và an toàn của trái phiếu mà
mình phát hành ra thị trƣờng.
ba, đây là một phƣơng thức huy động vốn trung và dài hạn. Bằng các
cam kết và đảm bảo chi trả gốc và lãi trái phiếu, tổ chức phát hành thu hút vốn
từ các nhà đầu tƣ để thực hiện các dự án đầu tƣ. Các dự án đƣợc sử dụng trong
phƣơng án phát hành trái phiếu riêng lẻ của các doanh nghiệp thƣờng là những
dự án lớn, cần một lƣợng vốn đáng kể và có thời gian hoàn thiện lâu dài. Chính
vì vậy, họ cần huy động một nguồn vốn trung và dài hạn, chứ không phải vốn
ngắn hạn nhƣ các khoản vay ngân hàng với lãi suất linh động. Hiện nay, pháp
luật quy định thời hạn tối thiểu của trái phiếu riêng lẻ là 1 năm, tƣơng ứng với
thời hạn vay vốn trung và dài hạn áp dụng tại các ngân hàng.
, phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp khá đa dạng về
hình thức, loại hình trái phiếu và phƣơng thức phát hành. Trái phiếu có thể
trƣờng chứng khoán công khai, minh bạch và có hiệu quả. Thông thƣờng,
hoạt động phát hành ra công chúng sẽ chịu những quy định pháp luật
nghiêm ngặt hơn, điều kiện cho các doanh nghiệp phát hành cũng khắt khe 25
hơn. Trong khi đó, việc giới hạn số lƣợng nhà đầu tƣ và phƣơng thức phát
hành riêng lẻ giúp cho hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ dễ thực hiện
và cũng dễ quản lý hơn.
1.2.3. Phân biệt phát hành trái phiếu riêng lẻ và các hình thức huy động
vốn khác của doanh nghiệp
Giống với các hình thức huy động vốn khác, phát hành trái phiếu riêng
lẻ cũng đƣợc thực hiện bởi các doanh nghiệp trong mọi ngành nghề, lĩnh vực
và giúp các doanh nghiệp thu xếp đƣợc nguồn vốn cần thiết để đẩy vào quá
trình sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, mỗi hình thức huy động vốn lại mang
những ƣu, nhƣợc điểm khác nhau, các doanh nghiệp căn cứ vào những ƣu,
nhƣợc điểm này để lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp với doanh
nghiệp mình trong từng thời kỳ. Nhìn một cách tổng quát nhất, huy động vốn
của doanh nghiệp có thể chia vào các nhóm nhƣ: vay vốn ngân hàng, tín dụng
thƣơng mại, phát hành chứng khoán, thuê tài chính vv… Phát hành trái phiếu
riêng lẻ thuộc nhóm phát hành chứng khoán.
So với các nhóm huy động khác, phát hành chứng khoán là nhóm huy
động vốn khó thực hiện hơn cả. Để thực hiện đƣợc phƣơng thức huy động
vốn này, các doanh nghiệp cần đáp ứng những tiêu chuẩn, điều kiện theo quy
định pháp luật, cũng nhƣ những yêu cầu tín nhiệm của các nhà đầu tƣ. Thông
qua phƣơng thức phát hành các loại cổ phiếu, trái phiếu, doanh nghiệp có thể
làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu hoặc huy động các nguồn vốn trung và dài
hạn. Bên cạnh đó, các nhóm phƣơng thức huy động vốn khác cũng mang
những ƣu và nhƣợc điểm nhất định, nhƣ: Tín dụng ngân hàng có thể đáp ứng
đƣợc nguồn vốn nhanh, thuận tiện trong giao dịch, thoả mãn các nhu cầu vốn