A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết xây dựng Đề án
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác phát triển
thế hệ cán bộ các cấp chính quyền đặc biệt là công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở. Người chỉ rõ: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của
cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ.
Người khẳng định “Chính quyền cơ sở là gốc của chính quyền cách mạng”.
Đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có vững mạnh thì chính quyền cơ sở mới vững
mạnh và Nhà nước mới phát triển.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi cán bộ là khâu
then chốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, là nguyên nhân thành
bại của cách mạng. Đảng đã khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và
của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng.
Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi trực tiếp tổ
chức triển khai và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở
Xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cán bộ cấp xã) có đủ phẩm chất, năng lực
là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt
cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Chính quyền cơ sở (cấp xã, phường, thị trấn) là nơi trực tiếp giải quyết
công việc của người dân, là nơi thực hiện mọi chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và có vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.
Đội ngũ cán bộ công chức cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng đối với chính
1
1
1
quyền cơ sở; chính quyền cơ sở có vai trò quyết định đến hệ thống chính trị
của nước ta.
Cán bộ cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của Đề án nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ ở xã Suối Bau có bản
lĩnh chính trị vững vàng, nghiệp vụ chuyên môn tốt, đảm bảo số lượng, chất
lượng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ của cấp ủy giao. Đồng
thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể cấp xã
phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đề xuất giải
pháp, lộ trình thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ xã Suối Bau, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giai đoạn 2015 - 2020.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Phấn đấu đến năm 2020, xã Suối Bau, huyện Phù Yên, Sơn La về công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đạt kết quả như sau:
- Cán bộ lãnh đạo chủ chốt: 03 đồng chí có trình độ chuyên môn: đại học
trở lên, 03 đồng chí có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên.
- Cán bộ lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể có trình độ chuyên môn
từ cao đẳng trở lên; 100% có trình độ trung cấp lý luận chính trị.
-Bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ: Phấn đấu 70% số cán bộ lãnh
đạo, quản lý được bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ tự học, tự bồi dưỡng ngoại
ngữ, tin học. Phấn đấu 100% cán bộ sử dụng thành thạo máy vi tính trong công
việc.
- 100% cán bộ thấm nhuần đạo đức cách mạng; kiên định mục tiêu lý
tưởng của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
- Xây dựng được gương sáng về đạo đức trong đội ngũ cán bộ chủ chốt
của xã.
3
3
3
3. Giới hạn Đề án
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng đội ngũ cán bộ xã
3.2.Không gian nghiên cứu: xã Suối Bau, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn
chính trị, kinh tế, văn hóa của một huyện.
5
5
5
Tóm lại, có thể khái quát chính quyền cấp cơ sở như sau: Chính quyền
cấp cơ sở, là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam,
thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện
những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh,
quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp, pháp luật
và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên.
Chính quyền cấp cơ sở (cấp xã) là cấp chính quyền gần dân nhất, là cầu
nối trực tiếp giữa hệ thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp
xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Cấp cơ sở có
vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn
kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng
phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
1.1.2. Cán bộ
Theo Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm
2008. Tại khoản 1 Điều 4 quy định về cán bộ: “ Cán bộ là công dân Việt
Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm
kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước”.
1.1.3. Chất lượng cán bộ
Chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã là sự thống nhất biện chứng giữa cơ
cấu, số lượng của đội ngũ và chất lượng của mỗi cá nhân cán bộ bảo đảm đáp
phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ
7
7
7
xứng đáng người có đức, có tài, dù là đảng viên hay người ngoài Đảng”. Trên
cơ sở những quan điểm về cán bộ, chính sách đối với cán bộ nói chung, Đảng
cũng đã đưa ra những quan điểm về đội ngũ cán bộ ở cấp cơ sở và vấn đề thu
hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở. Đảng ta
nhận định đó là những người trực tiếp tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết trung ương 5 (khóa
IX) chỉ rõ: Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm
thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không
ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết
hợp lý và đồng bộ chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở. Đội ngũ cán bộ ở
chính quyền cơ sở là những người làm việc trong bộ máy chính quyền và các
tổ chức đoàn thể quần chúng của hệ thống chính trị cấp cơ sở. Trách nhiệm
của đội ngũ cán bộ này là thay mặt Đảng và Nhà nước trực tiếp lãnh đạo,
quản lý xã hội đến tận người dân. Họ trực tiếp phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, bảo đảm mọi quyền lợi của công dân, chăm lo đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân ở cơ sở, động viên quần chúng làm tròn nghĩa vụ đối
với Nhà nước.
Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII của Đảng Về chiến lược cán bộ trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định
sự thành công hay thất bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của
đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”.
Nước ta đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi phải trẻ hóa, chăm lo công tác đào
tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở.
Mặt khác cần xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
9
9
9
- Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12.8.2011 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai
đoạn 2011 – 2015;
- Quyết định số 11/2013/QĐ-UBND ngày 12/6/2013 của UBND tỉnh
Sơn La về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 10/2010/QĐ-UBND ngày
ngày 03/11/2010 của UBND tỉnh Sơn La về việc giao số lượng, chức danh
cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh Sơn La;
- Quyết định số 10/2013/QĐ-UBND ngày 31/5/2013 của UBND tỉnh
Sơn La về việc ban hành Quy chế tổ chức tuyển dụng công chức xã, phường,
thị trấn trên địa bàn tỉnh Sơn La;
- Nghị quyết số 71/2014/NQ-HĐND ngày 03 tháng 4 năm 2014 của Hội
đồng nhân dân Tỉnh ủy Sơn La Về chức danh, số lượng, mức phụ cấp đối với
cán bộ không chuyên trách trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định số 01/2015/QĐ-UBND ngày 29 tháng 01 năm 2015 về việc
giao số lượng cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh Sơn La
Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 01 tháng 01 năm 2015 của UBND tỉnh
Sơn La Về việc phân loại đơn vị hành chính Xã, phường, thị trấn trên địa bàn
tỉnh Sơn La
1.3. Cơ sở thực tiễn
Chính quyền xã là của chính quyền Nhà nước ở cơ sở, có vị trí, vai trò
đặc biệt quan trọng, là nền tảng của bộ máy Nhà nước, là chỗ dựa, là công cụ
sắc bén để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cơ sở cho
chiến lược ổn định và phát triển đất nước, là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến đời
sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng dân cư trên địa bàn.
Đội ngũ cán bộ xã là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực
hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt của đời sống
kinh tế - xã hội ở cơ sở. Đội ngũ cán bộ xã là người giữ vai trò quyết định
11
11
11
hậu là mùa đông và mùa hè, chịu ảnh hưởng lớn của gió Lào, thiên tai, lũ,
bão…
Địa giới hành chính cụ thể như sau:
Phía Bắc giáp với xã Hồng Ngài, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La;
Phía Nam Giáp xã Tường Thượng, xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh
Sơn La;
Phía Tây giáp xã Sập Xa, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
Phía Đông giáp với xã Kim Bon, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Là xã vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn của huyện miền núi, với
100% là dân tộc Mông, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp canh tác trên đất dốc
theo mùa vụ; văn hóa mang đậm những phong tục tập quán địa phương với
cả những nét đặc sắc và lạc hậu. Con người nơi đây hồn hậu, sống hòa đồng
và thân thiện với thiên nhiên; tôn trọng tôn ty trật tự và yêu thương quý
trọng con người. Nơi đây còn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống
tích cực như hát đối, ném pa pao, khèn, sáo, đàn môi; đan lát, thêu Tuy
nhiên, bên cạnh những nét đặc sắc ấy, sự lạc hậu cũng trải dài theo bề dày
lịch sử và hiện nay đang gây cản trở cho quá trình phát triển của địa phương.
Đó là các hủ tục trong cưới hỏi, ma chay, là trình độ dân trí thấp (khoảng
40% là biết chữ và 75% nghe, hiểu được tiếng phổ thông). Hiện nay, trên địa
bàn xã có 03 trường học đặt tại trung tâm xã (mầm non, tiểu học, trung học
cơ sở) và 10 điểm trường cắm bản cơ bản đáp ứng việc dạy và học của thầy,
trò. Tuy nhiên, các điểm trường chưa được xây dựng kiên cố, chủ yếu là
nhân dân đóng góp xây dựng. Từ năm 2010 đến nay, trên địa bàn xã có nhiều
con em đã và đang theo học các trường trung cấp, cao đẳng, đại học tại các cơ
sở đào tạo ở trong và ngoài tỉnh. Xã Suối Bau là một xã miền núi đặc biệt khó
khăn, có các yếu tố đặc thù về phân loại khu vực thuộc nhóm khu vực III, 100%
cư dân địa phương là đồng bào dân tộc thiểu số (Mông chiếm 99.9%) hưởng
13
13
13
Về phẩm chất đạo đức, lối sống: đại đa số cán bộ xã Suối Bau có phẩm
chất đạo đức tốt, có lối sống giản dị, lành mạnh, mẫu mực, là những cán bộ
thật thà, chất phác, gần dân, được nhân dân tín nhiệm. Trong công việc họ
luôn hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, lợi ích của
tập thể lên trên lợi ích của cá nhân. Bản thân mỗi cán bộ xã Suối Bau luôn
nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức, lối sống theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí
Minh, được nhân dân quý mến và kính trọng, xứng đáng là người cán bộ
theo các chuẩn mực mới, đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần rèn luyện, tu
dưỡng cho mình đạo đức lối sống cách mạng thường xuyên, liên tục, bền bỉ,
thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan. Lắng nghe, tôn trọng ý kiến cán
bộ, đảng viên và nhân dân kịp thời điều chỉnh tác phong công tác; phương
pháp làm việc khoa học; có giải pháp, việc làm cụ thể để khắc phục kịp thời
những hạn chế, yếu kém của bản thân và cơ quan, đơn vị trong thực hiện
nhiệm vụ chính trị được giao.
2.2.1.2. Về trình độ văn hóa, lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp
vụ của đội ngũ cán bộ.
Văn hóa: 8/10 cán bộ xã Suối Bau đã tốt nghiệp THPT. Trong thời gian
tới cần phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cấp xã, bởi văn hóa là gốc rễ, nền tảng,
tiền đề cho đào tạo, bồi dưỡng các trình độ khác.
Lý luận chính trị: 6/10 cán bộ xã Suối Bau đã được đào tạo trình độ sơ
cấp, trung cấp và cao cấp lý luận chính trị. Về cơ bản, tình hình an ninh, chính
trị của xã Suối Bau ổn định, cho thấy đội ngũ cán bộ xã đã vận dụng hiệu quả
trình độ lý luận chính trị, có bản lĩnh chính trị vững vàng, áp dụng đúng đắn
vào nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Trong thời gian, tới cần nâng cao hơn
nữa trình độ lý luận chính trị cho cán bộ xã Suối Bau không còn cán bộ chưa
được đào tạo về lý luận chính trị.
Chuyên môn, nghiệp vụ: Về cơ bản đội ngũ cán bộ đã đảm bảo đúng tiêu
15
15
15
Độ tuổi: Dưới 30 tuổi: 01 đồng chí, chiếm 10%;
- Từ 31 đến 40 tuổi: 5 người, chiếm 50%;
- Từ 41 đến dưới 50 tuổi: 4 người, chiếm 40%.
Tôn giáo: không có người theo tôn giáo.
2.2.1.4.Thực trạnglãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ của địa phương
Thứ nhất: Lãnh đạo phát triển kinh tế
Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, được nhân dân
đồng tình hưởng ứng thực hiện và thu được những kết quả quan trọng: Thu
nhập bình quân 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/ tháng; cơ cấu kinh tế
chuyển dịch tích cực trong từng ngành, từng lĩnh vực, phù hợp với điều kiện
thực tế của địa phương. Nông nghiệp đạt sản lượng lương thực từ 2.782 tấn
năm 2012 tăng lên 3.927 tấn năm 2014, vượt 70,8% so với chỉ tiêu Đại hội
XIX của Đảng bộ xã đề ra. Chăn nuôi gia súc, gia cầm được chú trọng phát
triển, đã và đang trở thành ngành sản xuất chính. Đến nay, tổng đàn trâu có
288 con, đàn bò 1.121 con, đàn dê 1.396 con, đàn ngựa 49 con, đàn lợn trên 2
tháng tuổi trên 1.318 con, đàn gia cầm đạt trên 10.500 con, góp phần giải
quyết sức kéo và cung cấp phần lớn nguồn thực phẩm tươi sống trên địa bàn.
Là xã vùng cao, có gần 100 % diện tích là đồi núi, nhưng nhiều hộ dân
đã san ủi mặt bằng, cải tạo đất trồng rau xanh, tận dụng mặt nước ao, suối
nuôi thả cá, góp phần cải thiện bữa ăn, là mô hình tốt để cộng đồng dân cư
học tập, nhân rộng.
Công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng được quan tâm chỉ đạo và tổ chức
thực hiện. Từ năm 2010 - 2014, toàn xã đã trồng mới được 253,12 ha rừng,
khoanh nuôi bảo vệ được 791,88 ha rừng, nâng độ che phủ 26,23%; chuyển
đổi 841 ha đất canh tác lương thực trên đất dốc sang trồng rừng kinh tế, trồng
cây ăn quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phủ xanh đất trống, đồi
núi trọc.
17
17
văn hóa tiên tiến, 5 khu dân cư được công nhận khu dân cư văn hóa, với 163
số hộ được công nhận gia đình văn hóa 3 năm liền.
-Về công tác chính sách xã hội
Công tác giảm nghèo, tăng hộ khá, giải quyết nhà ở theo Nghị quyết 30
của chính phủ và đảm bảo an sinh xã hội: được cấp ủy đảng, chính quyền và
xã hội quan tâm thực hiện tốt với nhiều giải pháp hiệu quả, giải quyết một
phần khó khăn cho các đối tượng nghèo và các đối tượng cần được bảo trợ.
Hỗ trợ về nhà ở 174 nhà (theo quyết định 167), các chương trình khác 31nhà;
hỗ trợ con giống; bò 47 con, lợn 122 con, Ngô giống được cấp theo quyết
định 102 7.985 Kg; Dự án giảm nghèo giai đoạn II: trâu 05 con, Bò 06 con,
Dê 343 con, Lợn 98 con, gà 2.700 con, Ngan 750 con; mở đường vào khu sản
xuất và bê tông hóa đường nội bản 19,790km với tổng số vốn đầu tư
3.675.949.000 đồng; 99% được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quyết định 139.
-Về giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội
Công tác đấu tranh phòng chống ma túy kết hợp với nội dung bản cam kết
“5 có, 5 không” trong đồng bào dân tộc Mông được triển khai mạnh mẽ, có hiệu
quả. Năm 2010 đến nay, xã Suối Bau có 10/10 bản, 01 cơ quan xã, 01 trạm y tế
xã, 03 nhà trường được công nhận đạt “đơn vị không có ma túy”. Không có các
tệ nạn xã hội xảy ra…
Thứ ba: Lãnh đạo xây dựng quốc phòng, an ninh
-Về Công tác quốc phòng, an ninh
Công tác quốc phòng quân sự địa phương được quan tâm, chú trọng xây
dựng cơ sở vững mạnh toàn diện về chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo điều
kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển. Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến
thức quốc phòng - quân sự địa phương được nâng lên; lực lượng dân quân tự
vệ, dự bị động viên được rà soát, củng cố, kiện toàn và huấn luyện theo quy
18
18
19
trí, yêu cầu của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.2.3. Một số hạn chế
Một là: Trình độ các mặt của một số cán bộ cấp xã còn thấp so với yêu
cầu, nhiệm vụ, nên mặc dù đã qua đào tạo, bồi dưỡng nhưng do đầu vào
không bảo đảm nên chất lượng sau đào tạo, bồi dưỡng không cao, các lớp bồi
dưỡng chủ yếu là ngắn hạn nên hiệu quả thấp dẫn đến cán bộ không biết việc
để làm hoặc không đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ.
Hai là: Một số chức danh cán bộ cấp xã tuy đã đạt tiêu chuẩn về trình
độ, nhưng do độ tuổi cao, năng lực hạn chế lại chưa đủ điều kiện nghỉ hưu,
chưa có chính sách hỗ trợ hợp lí nhằm động viên, khuyến khích các cán bộ
trên nghỉ việc nên chưa thể bố trí, bổ nhiệm được cán bộ trẻ để thay thế.
Ba là: chất lượng cán bộ cấp xã còn thấp so với yêu cầu nhiệm vụ, việc
tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách của cấp trên
xuống cơ sở nhiều lúc không kịp thời, đầy đủ; việc triển khai thực hiện nhiệm
vụ của chính quyền cơ sở còn chậm; giải quyết công việc còn nhiều sai sót,
một số ít cán bộ ý thức trách nhiệm với công việc không cao, làm việc theo
kiểu cầm chừng, trông chờ, ỷ lại vào cấp trên.
Đội ngũ cán bộ hiện nay đã đủ về số lượng theo quy định song về trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước và
khả năng kỹ thuật sử dụng tin học ở một số bộ phận cán bộ chưa đáp ứng được
yêu cầu thực tiễn. Hiện nay, đội ngũ cán bộ chuyên trách xã còn có 20% chưa
qua đào tạo về chuyên môn; 60% chưa qua đào tạo kiến thức quản lư nhà nước,
đây là điểm yếu cơ bản nhất của đội ngũ cán bộ xã Suối Bau. Trong điều kiện
hiện nay, khi nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, nhiều địa phương trên cả nước đang tập trung thực hiện chương trình
xây dựng nông thôn mới; Đảng và Nhà nước ta đang đang thực hiện tăng
20
20
21
vụ…); một số làm việc thụ động, cầm chừng, trách nhiệm không cao, không
nắm rõ tình hình địa phương, tình hình công việc; một số ít có biểu hiện thiếu
trách nhiệm, chưa thật sự quan tâm đến cơ sở và kể cả công chức chuyên môn
cấp xã theo ngành, lĩnh vực phụ trách.
Sáu là: Một số cán bộ chưa sử dụng hiệu quả thời gian làm việc; việc
chấp hành kỷ cương, kỷ luật hành chính có phần chưa nghiêm; trách nhiệm,
tính tiên phong, gương mẫu của công chức là thủ trưởng cơ quan, đơn vị chưa
phát huy đúng mức nên có phần ảnh hưởng đến phong cách, tác phong, lề lối
làm việc của CBCC, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ
quan, đơn vị.
Bảy là: Về hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động thực tiễn điều hành, quản
lý kinh tế - xã hội của đội ngũ cán bộ còn yếu, chưa tương xứng và đáp ứng
yêu cầu xu thế phát triển hiện đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Tám là: Công tác lãnh đạo, điều hành, quản lý của đội ngũ cán bộ còn
hạn chế, một số lĩnh vực còn lúng túng; công tác phối hợp giữa các ngành còn
chưa thật sự hiệu quả, thiếu tính chủ động trong tổ chức triển khai thực hiện
nhiệm vụ.
Chín là: Bản lĩnh chính trị của một số ít cán bộ còn bị dao động, phai
nhạt lý tưởng, mờ nhạt trong quá trình đổi mới gắn với việc xây dựng và phát
triển đi lên chủ nghĩa xã hội.
2.2.4. Nguyên nhân của hạn chế
2.2.4.1.Nguyên khách quan
Là một xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn của huyện miền núi, điều
kiện kinh tế xã hội còn chậm phát triển, trình độ dân trí thấp. Chất lượng
nguồn nhân lực của địa phương còn thấp, vì vậy mà chất lượng nguồn tuyển
dụng, bố trí cán bộ bị ảnh hưởng. Đồng thời, địa bàn cấp xã không có sức hút
22
22
22
ứng được yêu cầu của thực tiễn.
Thứ tư: : Công tác cán bộ chưa được quan tâm đúng mức. Trước đây công
tác cán bộ ở cấp xã không thực sự được cấp ủy, chính quyền huyện nhận thức đầy
đủ, thiếu quan tâm đúng mức, để một thời gian quá dài không có chính sách
đồng bộ , thiếu chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở, không kịp
thời bàn và đưa ra những chính sách để củng cố và tăng cường cho cơ sở.
Công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa được thực hiện
bài bản. Việc bố trí sử dụng cán bộ còn thiên về tình cảm cá nhân, quá trình lựa
chọn, giới thiệu đề bạt, bổ nhiệm còn chứa đựng các yếu tố chủ quan, tùy tiện,
thích lựa chọn những người thân, quen, họ hàng, người dễ điều khiển.
Một số nơi vẫn còn tình trạng cán bộ đi học theo kiểu chạy bằng cấp,
để đủ tiêu chuẩn theo quy định; nhiều cán bộ dù đã đạt chuẩn nhưng chưa
được đào tạo, bồi dưỡng có hệ thống; một số cán bộ chưa chịu khó học tập,
rèn luyện, tác phong công tác, nề nếp làm việc chuyển biến chậm, cán bộ còn
thiếu sáng tạo trong việc vận dụng đường lối, nghị quyết của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước để xây dựng nhiệm vụ chính trị của địa phương,
nên chưa có những giải pháp tốt, mang tính đột phá trong thực hiện nhiệm vụ.
Thứ năm: chưa cơ chế chính sách phù hợp để thu hút cán bộ có năng
lực, trình độ chuyên môn về công tác tại cơ sở.
Thứ sáu: Một số ít cán bộ còn suy thoái về đạo đức, lối sống; thiếu tinh
thần trách nhiệm trong công việc, chưa thường xuyên phấn đấu, rèn luyện, tu
dưỡng đạo đức; tư duy nhiệm kỳ, bệnh kinh nghiệm, chủ quan duy ý chí.
Chưa thật sự làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng với nhân dân; sao nhãng trong
việc tiếp thu ý kiến của dân.
24
24
24
Thứ bẩy: vai trò giám sát của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền
chưa sâu, thường xuyên và liên tục.
2.3. Nội dung cụ thể cần thực hiện