LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế gới có hai dòng họ được nhắc tới nhiều nhất và cũng là lớn nhất, đó là
dòng họ: Common law và Civil law. Điểm khác biệt dễ nhận thấy nhất ở hai dòng
họ này là: dòng họ Common law coi trọng án lệ; dòng họ Civil law coi trọng luật
thành văn. Tuy nhiên, do quá trình hội nhập quốc tế mà hai dòng họ này đã có sự
thay đổi đáng kể về quan niệm vai trò của các nguồn luật. Càng ngày, luật thành
văn càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật các nước theo dòng họ
Common law. Vậy vai trò đó được thể hiện như thế nào trong hệ thống pháp luật
của các quốc gia đó?
I. Khái quát về luật thành văn
Theo cách hiểu ngắn gọn nhất, luật thành văn là luật được tập hợp bởi quá trình
pháp điển hóa và hệ thống hóa tạo thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.
Ở Pháp, nước mà coi trọng luật thành văn và cũng là nước có cách diễn đạt luật
thành văn một cách dễ hiểu nhất thì luật thành văn bao gồm các loại sau đây:
- Hiến pháp –đạo luật cơ bản nhất của nhà nước.
- Các công ước quốc tế ( Traité internationale): Vấn đề xung đột giữa các
quốc gia và quốc tế được giải quyết theo nguyên tắc Lexposterion
- Bộ luật (code)
- Luật (loi)
Có thể thấy ưu điểm của luật thành văn là: (i) được ban hành bởi các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền theo một trình tự theo thủ tục do pháp luật quy định;(ii)nội
dung chứa đựng những quy tắc xử sự chung;(iii) Trình độ khoa học cao;(iv)tính an
toàn cho hệ thống pháp lý cao…
Tuy nhiên, Luật thành văn cũng chứa đựng những điểm hạn chế nhất định như :
phải dự liệu trước khi sự việc xảy ra; Việc xây dựng luật thành văn tốn kém khá
nhiều…
II Vị trí của luật thành văn trong hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Common
Law.
1. Vị trí của luật thành văn trong hệ thống pháp luật dòng họ Common
Law nói chung.
Common law là dòng họ pháp luật trong hệ thống pháp luật trực thuộc ít, ít nhiều
Các văn bản do Nghị viện ủy quyền ban hành cũng chiếm tỉ lệ nhất đáng kể
trong hệ thống luật thành văn ở Anh, được chia làm hai nhóm: (i) Các văn bản
thi hành luật được ban hành theo sự ủy quyền được sự ghi nhận trong mỗi đạo
luật của Nghị viện, thường được trình tới Nghị viện và phát sinh hiệu lực nếu
không bị Nghị viện bác bỏ.(ii) luật địa phương.
Hiến pháp. Khi nói tới luật thành văn của Anh không thể không không đề cập
hiến pháp mặc dù vương quốc Anh không có hiến pháp thành văn như nhiều
quốc gia khác. Cái mà người Anh gọi là hiến pháp chính là tổng thể các quy
phạm có nguồn gốc luật thành văn hoặc nguồn gốc án lệ, có nội dung liên quan
đến việc bảo đảm quyền tự do cơ bản của công dân và hạn chế quyền độc đoán
của chính quyền.
Luật Liên minh Châu âu. Năm 1972, vương quốc Anh ra nhập Cộng đồng châu
Âu ( nay goi là liên minh châu Âu).Khi gia nhập liên minh này thì tất nhiên luật
thành văn của nước Anh không chỉ bao gồm luật trong nước mà còn có cả luật của
liên minh châu Âu mà nước này tham gia ký kết và được Nghị viện Anh phê
chuẩn. Phán quyết của tòa án châu Âu có thể trở thành nguồn luật quan trọng, là
tiền lệ pháp của các tòa án vương quốc Anh.
Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy vị trí của luật thành văn 100 năm nay đã
có sự thay đổi ở Anh.Điều đó là điểm chung của các nước thuộc dòng họ Common
law như đã phân tích ở phần 1. Đặc biệt sau khi Anh ra nhập EEC, theo đó pháp
luật Anh phải phù hợp với pháp luật cộng đông về nội dung điều chỉnh. Những vấn
đề mới phát sinh phải được điều chỉnh kịp thời bằng luật thành văn. Sự xuất hiện
của luật thành văn làm thay đổi sâu sắc pháp luật cũ và tạo ra nhiều lĩnh vực mới
trong pháp luật Anh.
Trong pháp luật Anh, không có trật tự đẳng cấp giữa Hiến pháp và luật. Hậu quả
của nó là: Nếu có xung đột giữa Hiến pháp và luật thì nguyên tắc sáp dụng là văn
bản sau có giá trị áp dụng; không có thủ tục kiểm soát tính hợp hiến.
Nếu có xung đột giữa các văn bản pháp luật và án lệ, người ta sẽ áp dụng các văn
bản pháp luật. Tuy nhiên theo tư duy truyền thống vốn coi trọng án lệ, các thẩm
phán Anh luôn cố gắng giải thích các văn bản theo hướng nhằm hạn chế tối đa việc
mặc dù nội dung và và ý nghĩa của các đạo luật do chính Tòa án giải thích. Như
vậy có thể nói, trừ Hiến pháp Mỹ, các đạo luật do chính quốc hội Mỹ thông qua có
giá trị pháp lý cao nhất, cao hơn cả phán quyết của tòa án liên bang và cấp bang và
cao hơn cả các đạo luật tương ứng của các bang. Mỗi bang của Mỹ đều được ban
hành luật riêng áp dụng trong bang.
Phần lớn các bộ luật của Mỹ là kết quả của kỹ thuật tập hợp hóa.Đương nhiên về
bản chất, những công trình tập hợp hóa này không là bộ luật theo cách hiểu của hệ
thống pháp luật châu Âu lục địa. Tuy nhiên, ở một số tiểu bang của Mỹ cũng có
những bộ luật dân sự hoàn toàn theo kiểu hệ thống pháp luật châu Âu lục
địa( Califolia, Bắc Dakota..) Ở 25 tiểu bang có Bộ luật tố tụng dân sự…
Thứ ba, các văn bản dưới luật do cơ quan hành chính ban hành. Các cơ quan
quản lý nhà nước cả ở cấp Liên bang và cấp bang đều ban hành các quy chế và quy
tắc để triển khai cụ thể các quy định cụ thể có trong đạo luật có liên quan. Các văn
bản dưới luật do chính phủ Liên bang ban hành cũng được ưu tiên áp dụng trong
mối quan hệ vơi pháp luật các tiểu bang.
Qua những trình bày ở trên, có thể thấy luật thành văn đóng một vai trò quan trọng
trong hệ thống pháp luật Mỹ và dần trở thành nguồn luật quan trọng của nước này,
đặc biệt là Hiến pháp.Sự tồn tại của luật thành văn trong hệ thống pháp luật Mỹ
đang đặt ra vấn đề đặc biệt trong pháp luật Mỹ. Các luật gia Mỹ đứng trước hai đòi
hỏi mâu thuẫn nhau: Đó là sự an toàn của các hệ thống pháp lý( do đó nhấn mạnh
luật thành văn) và sự mềm dẻo của các quan hệ pháp luật( do đó cần nhấn mạnh án
lệ) Tùy theo bối cảnh mà các luật gia nhấn mạnh đòi hỏi này hoặc đòi hỏi khác.
KẾT LUẬN
Từ các phân tích trên có thể thấy,các nước thuộc dòng họ Common law ngày càng
sử dụng luật thành văn thay cho án lệ- vốn là đặc điểm pháp luật dòng họ này. Điều
đó chứng tỏ luật thành văn đang ngày càng phát huy những ưu điểm của mình.