A. LỜI NÓI ĐẦU
Không ai còn có thể phủ nhận được vai trò của văn hoá đối với sự phát triển
mỗi dân tộc cũng như đối với sự phát triển nhân loại. Trong suốt chặng đường 81
năm lãnh đạo nhân dân, tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống xâm
lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn
quan tâm toàn diện, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và sức mạnh văn hóa đối
với sự phát triển bền vững của đất nước.
Hiện nay ở Việt Nam, chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện
mở rộng giao lưu kinh tế, giao lưu văn hoá với nước ngoài và trong hoàn cảnh
thế giới đã có những biến đổi to lớn về mọi mặt. Những điều kiện trên đưa tới
nhiều yếu tố tích cực, đồng thời cũng đưa tới nhiều ảnh hưởng tiêu cực, đặc biệt
là trong văn hoá. Khẳng định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu
xuyên suốt của tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta cũng trực tiếp khẳng
định các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà “Nền văn hoá tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc” là một bộ phận cấu thành. Bởi vậy, xây dựng và phát triển
“nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã và đang là một nhiệm vụ
chiến lược đòi hỏi Đảng, toàn dân và toàn quân phải tiến hành các hoạt động
thực tiễn để văn hoá có thể góp phần tốt nhất bảo đảm cho dân tộc vững bước
trên con đường của sự lựa chọn xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay sự lựa chọn xã hội chủ nghĩa chúng ta biết rằng khi đề ra bất kỳ
một chủ trương, chính sách gì, Đảng ta đều lấy cơ sở chủ yếu là lý luận của chủ
nghĩa Mác, mà triết học đóng vai trò nền tảng. Vì vậy, việc xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc cũng không nằm
ngoài quy luật này. Cơ sở triết học đầu tiên ta nhận thấy đó chính là các nguyên
lý nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các nguyên lý này nêu rõ, mọi sự
vật hiện tượng đều tồn tại trong mối quan hệ khách quan phong phú, và trong
mọi sự vật biến đổi thì phát triển là xu hướng chủ yếu. Văn hoá Việt Nam tồn tại
1
trong mối quan hệ giao lưu với với văn hoá thế giới vì vậy việc tiếp theo, có sự
đan xen và hội nhập là điều tất yếu. Tuy nhiên, trong các mối liên hệ này, vấn đề
chủ chốt là hội nhập, giao lưu và phát triển không cào bằng, mà trên cơ sở là bản
và tư bản chủ nghĩa diễn ra hàng ngày sau thắng lợi của cách mạng vô sản, nếu
không có một nền văn hoá mới và những con người mới sẽ làm suy yếu tính ưu
việt của chủ nghĩa xã hội, tạo địa bàn cho sự xâm nhập của văn hoá phản động
gây suy thoái từ bên trong.
Như vậy với những cơ sở khoa học, bằng việc hiểu biết thực tiễn cách mạng
phong phú, Đảng ta ngay từ đầu đã coi trọng xây dựng nền văn hoá mới, nó được
khẳng định trong suốt lịch sử hơn 80 năm của Đảng. Và điều đó chính là lý do
tại sao tôi lại chọn đề tài tiểu luận: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của Đảng ta để
xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện
nay”.
Do còn hạn chế về kiến thức, trình độ, tôi mong các thầy cô góp ý để bài
làm của tôi được tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
3
B. NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ
ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỂ XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ
1.1 Một số khái niệm về nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
của Việt Nam
* Văn hóa là gì?
Ngay từ thời xa xưa hai chữ văn hoá đã sớm xuất hiện trong ngôn ngữ loài
người, đặc biệt ở các quốc gia được coi là cái nôi của văn minh nhân loại. Ở
phương Đông, từ văn hoá xuất hiện sớm trong ngôn ngữ Trung Quốc, dùng để
đối lập với vũ lực. Ở phương Tây, trong nền văn minh cổ đại Hy La, từ văn hoá
(cultus) có nghĩa là trồng trọt, dần dần biến thành từ gieo trồng trí tuệ, tinh thần.
Như vậy, trong khái niệm của người cổ đại dù phương Đông hay phương
Tây, văn hoá mang ý nghĩa giáo hoá con người. Tư duy nhân loại đã sớm quan
tâm đến hoạt động văn hoá. Sự quan tâm đó ngày càng trở nên sâu sắc. Tuy
nhiên để có một định nghĩa đầy đủ về văn hoá, cách tốt nhất là gắn văn hoá với
con người. Thông qua việc khám phá chiều sâu bí ấn của đời sống con người và
hoạt động của con người thì sẽ hiểu được văn hoá là gì. Điều này cũng giải thích
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những dụng cụ sinh hoạt hàng ngày về
mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
là văn hoá. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi hình thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn”
2
.
Như vậy, văn hoá Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần
do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ
nước nhằm mục tiêu phục vụ con người.
1
Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Từ điển tiếng Việt , Trung tâm Từ điển học, 1997
2
Hồ Chính Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,1995, t3, tr431.
5
*Tiên tiến là gì?
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa
VIII) ngày 16 tháng 7 năm 1998 về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đã giải thích: Tiên tiến là yêu nước và
tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con
người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người
trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên.
Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện,
trong các phương tiện chuyển tải nội dung.
*Dân tộc là gì?
Trong quan niệm của Đảng ta, văn hóa là một lĩnh vực thực tiễn của đời
sống xã hội, nó cũng có những quy luật vận động phát triển riêng, trong đó tính
dân tộc được coi là thuộc tính cơ bản của văn hóa, phản ánh mối quan hệ giữa
dân tộc và văn hóa trong điều kiện dân tộc đã hình thành. Nội lực của dân tộc,
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những
tinh hoa của cộng đồng các dân tộc được vun đắp nên trong lịch sử hàng ngàn
năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, hình thành qua nhiều thế hệ, tầng nấc
thang biến đổi, phát triển. Vì thế, nó kết tinh những gì đặc sắc nhất, đẹp đẽ nhất,
độc đáo nhất của các cộng đồng dân tộc Việt Nam, nó có giá trị bền vững,
trường tồn cùng thời gian, nó như chất keo kết nối cộng đồng người gắn bó với
nhau, để cùng tồn tại và phát triển. Biểu hiện cụ thể của nó: “bao gồm những giá
trị bền vững, những tinh hoa vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh
7
dựng nước và giữ nước, trở thành những nét đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt
Nam, con người Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân
tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ
quốc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đầu óc thực tế, tinh thần
cần cù, sáng tạo trong lao động, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối sống”
3
.
Bản sắc dân tộc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: cách
tư duy, cách sống, cách dựng nước, giữ nước, cách sáng tạo trong văn hóa, khoa
học, văn học, nghệ thuật,… nhưng được thể hiện sâu sắc nhất là trong hệ giá trị
của dân tộc, nó là cốt lõi của một nền văn hóa. Nó là cơ sở tinh thần cho sự ổn
định xã hội và sự vững vàng của chế độ. Trong sự tiến bộ và phát triển của xã
hội, các giá trị này thường không biến mất mà hóa than vào các giá trị của thời
sau, theo quy luật kế thừa và tái tạo.
Con người không thể sống tách khỏi cộng đồng cũng như mỗi dân tộc
không thể sống biệt lập với thế giới. Trong lịch sử, các quốc gia luôn có sự tiếp
xúc, giao lưu với nhau qua các cuộc di cư lớn nhỏ, chiến tranh xâm lược, trao đổi
kinh tế, vật phẩm, quan hệ hôn nhân, ngoại giao Và như thế bản sắc văn hóa
dân tộc không chỉ được hình thành nên bằng những yếu tố bản thân vốn có mà
còn có sự tiếp nhận, biến đổi văn hóa nước ngoài sao cho phù hợp, để nâng lên
thành cái riêng đặc sắc của từng dân tộc. Với những ý nghĩa và giá trị của mình,
lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hội nông nghiệp (cầu mưa, xuống đồng,
cơm mới ), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng, rèn, pháo, đua ghe ).
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đã bao hàm: tín ngưỡng phồn
thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Con người
cần sinh sôi, mùa màng cần tươi tốt để duy trì và phát triển sự sống, nên đã nảy
sinh tín ngưỡng phồn thực.
Người Việt tự nhận là thuộc về họ Hồng Bàng, giống Tiên Rồng (Hồng
Bàng là tên một loài chim nước lớn, Tiên là sự trừu tượng hóa một giống chim
9
đẻ trứng, Rồng là sự trừu tượng hóa từ rắn, cá sấu). Rồng sinh ra từ nước bay lên
trời là biểu trưng độc đáo đầy ý nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Trong tín ngưỡng sùng bái con người, phổ biến nhất là tục thờ cúng tổ tiên,
gần như trở thành một thứ tôn giáo của người Việt. Việt Nam trọng ngày mất là
dịp cúng giỗ hơn ngày sinh. Nhà nào cũng thờ Thổ công là vị thần trông coi gia
cư, giữ gìn hoạ phúc cho cả nhà. Làng nào cũng thờ Thành Hoàng Làng - vị thần
cai quản che chở cho cả làng.
Về lĩnh vực văn học, văn học Việt Nam xuất hiện khá sớm, có hai thành phần
là văn học dân gian và văn học viết. Văn học dân gian chiếm vị trí quan trọng ở
Việt Nam, có công lớn gìn giữ phát triển ngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn
nhân dân. Sáng tác dân gian gồm thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện
cười, câu đố, tục ngữ, ca dao với nhiều màu sắc các dân tộc ở Việt Nam.
Văn học cổ điển đã tạo nên những kiệt tác như Truyện Kiều (Nguyễn Du),
Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn),
Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi) Việt Nam từ mấy thế kỉ trước đã có những cây
bút nữ độc đáo: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà huyện Thanh Quan.
Văn xuôi hiện đại có những tác giả không thể nói là thua kém thế giới:
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân,
Nam Cao Bên cạnh đó là những nhà thơ đặc sắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn
Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Tố Hữu Tiếc rằng hiện nay chưa có những
tác phẩm lớn phản ánh đầy đủ, trung thực và xứng đáng đất nước và thời đại.
đậm đà bản sắc dân tộc
11
Sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một nhiệm vụ
to lớn bao trùm toàn bộ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Muốn công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công thì phải phát huy cao độ năng lực tinh thần
của con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn nhằm thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ, văn minh. Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu
cầu tăng nhanh về văn hoá của mọi tầng lớp dân cư, quá trình dân chủ hoá xã
hội… là yếu tố làm thay đổi đời sống văn hoá dân tộc.
Hơn nữa, trước thực trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống ở một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng ngày càng phổ biến hơn, tinh
vi hơn, nghiêm trọng hơn cản trở sự phát triển của đất nước ta, đòi hỏi chúng ta
phải chấn hưng nền văn hoá dân tộc thông qua sự nghiệp xây dựng và phát triển
nền văn hoá dân tộc thông qua sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
diễn ra mạnh mẽ, trên quy mô lớn. Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và mạng thông tin toàn cầu, "ngôi nhà"
thế giới dường như trở nên "nhỏ bé" hơn. "Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội
phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn,
thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển"
4
. Sự ảnh
hưởng của quá trình này không chỉ về phương diện kinh tế. Bất luận tham gia
chủ động hay buộc phải cuốn theo một cách bị động vào quá trình toàn cầu hoá
kinh tế thì văn hóa dân tộc đều phải tiếp xúc, giao thoa với các nền văn hóa khác
trên thế giới, đều thôi thúc từng dân tộc suy nghĩ xem phải ứng xử với xu thế lịch
sử này như thế nào. Việc mở cửa hội nhập với khu vực và các nước trên thế giới,
tiếp thu các thành tựu văn hoá, văn minh của nhân loại đòi hỏi chúng ta phải có
văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay
13
Ý thức rõ về sức mạnh văn hóa đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi
ách áp bức của đế quốc xâm lược, “Đề cương văn hóa Việt Nam" tháng 2 năm
1943 - Cương lĩnh văn hoá đầu tiên của Đảng đã ra đời, làm nền tảng lý luận cho
sự nghiệp xây dựng nền văn hóa kháng chiến, kiến quốc những năm tiếp theo,
xác định: "văn hóa là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hóa" vì vậy,
"Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được công cuộc cải tạo xã
hội" và "Đảng tiên phong phải lãnh đạo văn hóa tiên phong"; đồng thời đề ra ba
nguyên tắc cuộc vận động văn hóa mới: Dân tộc, đại chúng, khoa học.
Đề cương văn hóa Việt Nam là sự khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh: Văn
hoá "soi đường cho quốc dân đi", góp phần động viên, tập hợp đội ngũ trí thức,
văn nghệ sĩ vào Hội Văn hoá cứu quốc, tạo sức mạnh to lớn làm nên cuộc Tổng
khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi và Chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Trong cuộc kháng chiến
chống đế quốc Mỹ xâm lược, sức mạnh nội sinh của văn hóa được phát huy
mạnh mẽ, trở thành niềm cổ vũ to lớn chiến sĩ và nhân dân ta. Trên nền tảng văn
hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa thời đại, những tác phẩm thơ, văn, ca, múa,
nhạc, họa được sáng tác, phục vụ kịp thời, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc, thôi
thúc phong trào thi đua mạnh mẽ giữa tiền tuyến và hậu phương, góp phần giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Thời kỳ hòa bình, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội IV của Đảng
đã tiếp tục khẳng định: Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó tập
trung "Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa" với những
giá trị đạo đức, niềm tin, lý tưởng, lẽ sống cao đẹp.
Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, với tư duy đổi mới toàn diện về kinh
tế, chính trị, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, Đảng đã chủ trương đổi mới
tư duy trên lĩnh vực văn hóa. Tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị đã ban hành
Nghị quyết số 05 về văn hóa - văn nghệ trong cơ chế thị trường và những chỉ thị
14
hội được bổ sung và phát triển đã nêu lên định hướng về văn hóa: “Xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa
dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa
gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội
sinh quan trọng của phát triển. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa
tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của
nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm
giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao".
Như vậy, có thể nói phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước ta là
phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc
lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thụ tinh
hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt
động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa
bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất
nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục
vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Để thực hiện những phương hướng trên, Đảng đã đưa ra những quan điểm
chỉ đạo cơ bản:
1 - Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội.
Chǎm lo vǎn hóa là chǎm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu
nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan
16
hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự
phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu vǎn hóa, vì xã hội công
bằng, vǎn minh, con người phát triển toàn diện Vǎn hóa là kết quả của kinh tế đồng
thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố vǎn hóa phải gắn kết chặt chẽ
Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
vǎn minh đều tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền vǎn hóa nước nhà.
Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền
tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển vǎn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng,
quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển vǎn hóa vì đội ngũ trí thức đó là
tinh hoa của văn hoá dân tộc, cho nên trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân, song
phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là đại biểu cho
lợi ích của giai cấp công nhân và của cả dân tộc, được trang bị thế giới quan Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vạch ra phương hướng đúng đắn cho sự phát
triển văn hoá dân tộc. Đảng là đại biểu tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức, tâm hồn
dân tộc, là người đi tiên phong trong sự nghiệp xây dựng văn hoá, tổ chức, lôi
cuốn nhân dân tham gia sự nghiệp đó.
5 - Vǎn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển vǎn hóa là một sự nghiệp
cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.
Bảo tồn và phát huy những di sản vǎn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên
những giá trị vǎn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào
18
cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ, vǎn
minh là một quá trình cách mạng đầy khó khǎn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian.
Trong công cuộc đó, "xây" đi đôi với "chống", lấy "xây" làm chính. Cùng với việc
giữ gìn và phát triển những di sản vǎn hóa quý báu của dân tộc, tiếp thu những tinh
hoa vǎn hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, phải tiến hành kiên
trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu,
chống mọi mưu toan lợi dụng vǎn hóa để thực hiện "diễn biến hòa bình".
II. ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NỀN VĂN HOÁ TIÊN TIẾN ĐẬM
ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC.
Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân
không chỉ dùng biện pháp ngoài con người và dùng chính sức mạnh của con
người để giải phóng con người.
Biểu hiện tiên tiến ở đây là trình độ giải phóng con người, xã hội, giai cấp
là muốn kết thừa thành tựu nhân văn của giai đoạn trước. Trong giai đoạn cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân mục đích của cách mạng đó là ai cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, còn trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ
nghĩa thì mục đích là phát triển hết năng lực con người.
Trong cách mạng giải phóng dân tộc con người có thể hy sinh hạnh phúc cá
nhân, nhưng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa thì đó là việc phát triển, nâng cao
trình độ nhân tính của con người: cao về trí tuệ, sáng về tinh thần, khoẻ về thể
chất…
Văn hoá ngày nay không chỉ phục vụ cho toàn xã hội mà còn hướng tới
phục vụ từng con người, khắc phục vụ sự tha hoá của con người. Khoa học công
nghệ phát triển mạnh làm tha hoá con người chẳng hạn như nhân bản vô tính làm
mất đi giá trị nhân văn: hôn nhân, sản xuất ra những con người giống nhau, tạo
ra những con người bản năng…
5
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính
trị quốc gia, H.1998, tr 55-56
20
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh tinh thần giải phóng con
người như là mục đích tối thượng của chủ nghĩa Mác – Lênin: “Muốn chủ nghĩa
cộng sản thực hiện được, mọi người đều được phát triển hết khả năng của
mình”
6
. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VII chỉ rõ: “Một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đương nhiên bao
gồm cả tính nhân văn”
7
. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb. Chính trị
quốc gia, H.1884, tr15
21
Ngoài yếu tố hệ tư tưởng- thành tố quan trọng của nền văn hóa tiên tiến thì
các yếu tố khác của nó cũng đòi hỏi phải có trình độ hiện đại: trình độ giáo dục,
khoa học- công nghệ… phải dần tiến kịp và hoà nhập với trình độ thế giới, phải
hướng tới cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ để công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo và làm chủ các tri thức khoa
học và công nghệ để xây dựng đất nước. Nâng cao trình độ tư duy khoa học, duy
lý trong mọi hoạt động kinh tế- xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, giải
quyết các vấn đề dân tộc đặt ra trên tầm thời đại.
Nền văn hoá mới phải tạo ra những phẩm chất, đạo đức, tâm hồn, lối sống
con người Việt Nam hiện đại ngang tầm với sự nghiệp đổi mới đất nước. Từ đó
góp phần hình thành bản lĩnh của con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam đáp
ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vững
vàng trước những biến động to lớn của thời đại, những thách thức của vận mệnh
dân tộc. Nền văn hoá Việt Nam hiện đại phải vươn lên góp phần giải quyết các
vấn đề đặt ra trước toàn nhân loại: vấn đề toàn cầu, vấn đề chiến tranh và hoà
bình, ô nhiễm môi trường, nạn đói…
Nền văn hoá tiên tiến thể hiện ở hình thức biểu hiện, phương tiện chuyển tải
nội dung. Đòi hỏi chúng ta phải sử dụng hình thức sáng tạo mới để sáng tạo ra
những giá trị văn hóa tốt đẹp hơn bằng tư duy mới, phương pháp mới của thời đại.
Xây dựng những cơ sở kết cấu hạ tầng của xã hội cũng như của văn hoá
từng bước hiện đại, đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật hiện đại giúp con
người sáng tạo tốt hơn, nhanh hơn, lưu giữ những giá trị văn hóa lâu bền hơn.
2.2. Bản sắc dân tộc của nền văn hoá mới
Nền văn hoá tiên tiến phải có sắc thái riêng, cái độc đáo của truyền thống,
tâm hồn, cốt cách, lối sống… của một dân tộc chứa đựng những tinh hoa của quá
khứ kết hợp với những cái tốt đẹp hiện đại. Nền văn hoá đó phải phát triển trên
nền những sắc thái riêng đã trở thành bản sắc của chính nó. Nếu không trước xu
hoạt động văn hoá, đặc biệt là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá” để tạo nên sự chuyển biến bước đầu và là tiền đề quan trọng để
văn hoá nước nhà tiếp tục phát triển đúng hướng và vững chắc. Cuộc vận động
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", "Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào thi đua yêu nước ngày
càng được mở rộng và từng bước đi vào thực chất trong đời sống xã hội.
Văn hoá đã trở thành một nội dung quan trọng trong các hoạt động của các
cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp, từng bước
gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ kinh tế, xã hội.
Công cuộc bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá của dân tộc đã đạt được
nhiều tiến bộ. Nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể được bảo vệ và phát
huy giá trị, các nghệ nhân được tôn vinh, công tác xã hội hoá được tăng cường
và thu hút được đông đảo các tổ chức và cá nhân tham gia bảo vệ và phát huy giá
trị di sản văn hoá. Cả nước hiện có 127 bảo tàng; có hơn 4 vạn di tích đã được
kiểm kê; 11 di sản được UNESCO vinh danh là di sản thế giới (trong đó có 6 di
sản văn hoá vật thể và 5 di sản văn hoá phi vật thể).
Lĩnh vực văn hoá các dân tộc thiểu số, văn học nghệ thuật, giao lưu và hợp
tác văn hóa quốc tế, xây dựng thể chế văn hóa, các lĩnh vực gắn bó mật thiết với
văn hóa như giáo dục, khoa học, công nghệ, thông tin đại chúng đều đạt được
những thành tựu đáng kể, góp phần tích cực gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy
những giá trị tốt đẹp trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, dần loại bỏ những sự
lỗi thời, lạc hậu.
3.2. Những yếu kém, khuyết điểm
Tuy nhiên, do những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường và
hội nhập quốc tế, lĩnh vực văn hóa cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, tác
động không nhỏ đến văn hóa truyền thống của dân tộc. Sự phát triển của văn hóa
24
chưa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế, thiếu gắn bó với nhiệm vụ
xây dựng và chỉnh đốn Đảng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến
quá trình phát triển kinh tế và nhiệm vụ xây dựng Đảng. Tệ nạn xã hội, bạo lực