Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Thông tin đáng tin cậy trong Báo cáo tài chính sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nhà
đầu tư, người cho vay như các ngân hàng, người mua trái phiếu. Tuy nhiên, áp lực của
thị trường chứng khoán, kỳ vọng của nhà đầu tư quá lớn đối với cổ phiếu mình đang
nắm giữ hoặc các điều khoản gay gắt trong các hợp đồng tín dụng của các ngân hàng
dẫn đến việc Báo cáo tài chính bị phù phép phản ánh một cách không trung thực hợp
lý, một trong những cách đó là sử dụng ước tính kế toán.
Vì vậy, để các ước tính kế toán trên Báo cáo tài chính đáng tin cậy thì cần được
kiểm toán. Tuy nhiên, việc kiểm toán những khoản mục này không có các quy trình cụ
thể mà chỉ là những thủ tục trong các quy trình lớn, nhưng những thủ tục này vẫn chưa
được thiết kế một cách hoàn thiện, thậm chí là chỉ là một vài thủ tục sơ sài. Do đó, em
chọn đề tài này nhằm thiết kế những thủ tục kiểm toán chưa có và hoàn thiện những
thủ tục kiểm toán đã có để đạt được các mục tiêu kiểm toán cụ thể đối với một số ước
tính kế toán.
Ngoài ra, đề tài của em còn trình bày về thực tế kiểm toán các ước tính kế toán
do công ty trách nhiệm hữu hạn kiểm toán và kế toán AAC thực hiện và những kiến
nghị của em nhằm hoàn thiện các thủ tục kiểm toán đó. Tuy nhiên vẫn tồn tại một số
hạn chế trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế và trình bày đề tài.
Nội dung của đề tài gồm 4 phần như sau:
Phần 1: Cơ sở lý luận về thủ tục kiểm toán các ước tính kế toán trong kiểm toán
Báo cáo tài chính
Phần 2: Thực tế về thủ tục kiểm toán một số ước tính kế toán do công ty TNHH
AAC thực hiện
Phần 4: Nhận xét, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện thủ tục kiểm toán các
ước tính kế toán do công ty AAC thực hiện
Để thực hiện được đề tài này, em đã được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của cô
Phạm Hoài Hương trong quá trình viết đề tài, sự hướng dẫn nhiệt tình của các anh chị
trong đoàn công ty AAC trong quá trình thực tập tại công ty. Em xin chân thành gửi
lời cảm ơn đến cô và các anh chị.
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 1
Trường hợp do chủ quan, do thiếu các dữ liệu khách quan hoặc do mức độ
không chắc chắn của một yếu tố nào đó nên các ước tính kế toán không thể lập được
một cách hợp lý thì kiểm toán viên phải cân nhắc khi đưa ra ý kiến trên báo cáo kiểm
toán theo đúng quy định trong Chuẩn mưc số 700 “ Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài
chính.
1.1.3. Sự cần thiết phải có các ước tính kế toán
Việc sử dụng các ước tính kế toán với độ tin cậy hợp lý là một phần rất quan
trọng trong việc lập báo cáo tài chính và không vì là các ước tính mà bị coi là kém tin
cậy. Bởi vì các ước tính kế toán được sử dụng trong báo cáo tài chính phải dựa trên cơ
sở tin cậy chứ không được ước tính một cách tuỳ ý. Tuy nhiên, vẫn không thể tránh
khỏi những quan điểm cho rằng có thể có sự lợi dụng các ước tính kế toán để cố tình
làm sai lệch thông tin trong báo cáo tài chính vì các ước tính này mang nặng tính chủ
quan. Mặc dù vậy, các ước tính kế toán vẫn không bị loại bỏ mà còn được sử dụng khá
phổ biến khi lập báo cáo tài chính. Xin đưa ra một số lý do cho vấn đề này:
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
Thứ nhất, chế độ kế toán chưa thể có quy định một cách chi tiết về một số vấn đề
trong kế toán. Chẳng hạn như việc trích khấu hao tài sản cố định. Hiện nay chế độ kế
toán cho phép doanh nghiệp tự ước tính thời gian sử dụng hợp lý của tài sản cố định để
phục vụ cho việc trích khấu hao nếu doanh nghiệp trích khấu hao theo phương pháp
đường thẳng. Đây là một ước tính kế toán và không thể loại bỏ được vì chế độ kế toán
chỉ quy định khung thời gian sử dụng hữu ích từng loại tài sản cố định được sử dụng
trong các doanh nghiệp chứ không thể quy định chính xác thời gian sử dụng hữu ích
cho từng tài sản mà để các doanh nghiệp tự ước tính thời gian sử dụng của tài sản dựa
trên khung thời gian đã quy định. Giả sử có thể xây dựng được một chế độ kế toán chi
tiết như vậy thì việc áp dụng chế độ của các doanh nghiệp cũng gặp rất nhiều khó
khăn. Bên cạnh đó quản lý việc áp dụng này cũng rất vất vả, chưa kể đến việc tình
hình kinh doanh luôn biến động và đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi tỷ lệ khấu
hao cho kịp thời.
Thứ hai, các ước tính kế toán giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn để phục vụ cho
cố định, chi phí trả trước, giá trị sản phẩm dở dang, doanh thu ghi nhận trước, doanh
thu hợp đồng xây dựng dở dang…
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
• Dự phòng nợ phải thu khó đòi: Là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các
khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có khả năng
không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán.
• Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giá
vật tư, thành phẩm, hàng hoá tồn kho bị giảm.
• Chi phí trả trước: Là những khoản chi tiêu thực tế đã phát sinh nhưng liên quan
đến việc tạo ra lợi ích kinh tế của nhiều kỳ kế toán và đang chờ phân bổ dần vào chi
phí sản xuất, kinh doanh của các kỳ kế toán liên quan. Ví dụ cho một số khoản chi phí
trả trước như là chi phí trả trước về thuê cửa hàng, nhà xưởng, nhà kho, nhà văn
phòng…, chi phí mua các loại bảo hiểm mua và trả một lần, chi phí sửa chữa TSCĐ
phát sinh một lần quá lớn cần phải phân bổ cho nhiều kỳ kế toán, công cụ dụng cụ xuất
dùng có giá trị lớn và được sử dụng cho nhiều kỳ kế toán, lãi vay trả trước…
• Khấu hao tài sản cố định (TSCĐ): Là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ
thống giá trị TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong từng kỳ kế toán.
• Doanh thu ghi nhận trước: Là giá trị các dịch vụ doanh nghiệp phải cung cấp
cho khách hàng trong tương lai nhưng lợi ích kinh tế thu được từ các dịch vụ này đã
được ghi nhận trong kỳ kế toán hiện tại.
1.2.2. Ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh
Ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh là giá trị gần đúng của một chỉ tiêu thực tế chưa
phát sinh nhưng đã được ước tính để lập báo cáo tài chính
Ví dụ cho ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh như: dự phòng chi phí bảo hành, chi
phí trích trước…
• Dự phòng chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp: Là dự
phòng chi phí cho những sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã bán, đã bàn giao
cho người mua nhưng doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện
theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng.
thị trường thì có rủi ro tiềm tàng cao hơn các doanh nghiệp có sản phẩm ít bị cạnh
tranh.
Nhà quản lý: Nếu nhà quản lý yếu kém năng lực, không liêm khiết, ít kinh
nghiệm quản lý thì rủi ro tiềm tàng sẽ cao hơn
Ở giác độ các khoản mục, nghiệp vụ: Rủi ro tiềm tàng nằm trong bản chất của
các số dư tài khoản hoặc bản chất các nghiệp vụ. Các ước tính kế toán mang nặng
nhiều yếu tố làm cho rủi ro tiềm tàng cao hơn các khoản mục khác:
Thứ nhất, các ước tính kế toán được lập dựa vào những xét đoán chủ quan và
trong các điều kiện không có sự chắc chắn về kết quả của các sự kiện đã phát sinh
hoặc có thể sẽ phát sinh nên mức độ rủi ro xảy ra sai sót đối với báo cáo tài chính
thường là cao khi có các ước tính kế toán.
Thứ hai, do các ước tính kế toán thường có các tính toán phức tạp nên dễ xảy ra
sai sót.
Thứ ba, một số ước tính kế toán thường được thực hiện vào cuối kỳ kế toán năm.
Trong hoàn cảnh đó, do áp lực công việc nên kế toán có thể để xảy ra sai sót không
mong muốn.
Thứ tư, do áp lực đặt ra bởi người quản lý đơn vị, muốn báo cáo tài chính được
phản ánh không trung thực, hợp lý thì kế toán có thể sử dụng các ước tính kế toán để
thực hiện điều này vì bản chất của các ước tính kế toán mang nặng tính chủ quan.
Thứ năm, do trình độ yếu kém của kế toán viên làm cho các ước tính kế toán
được tính toán không chính xác.
Thứ sáu, có thể do đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị hoạt động trong
lĩnh vực có nhiều biến động cần ước tính nhiều hơn làm cho các ước tính cũng mang
rủi ro tiềm tàng cao hơn.
Như vậy, các ước tính kế toán được đánh giá là có rủi ro tiềm tàng cao.
2.1.2. Đánh giá rủi ro kiểm soát
Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp không
phát hiện và ngăn chặn kịp thời các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính.
Kiểm toán viên không tạo ra rủi ro kiểm soát mà chỉ đánh giá chúng để xác định
nội dung, thời gian và phạm vi của các phương pháp kiểm toán.
chứng kiểm toán thích hợp để có kết luận về tính hợp lý của các ước tính kế toán trong
từng trường hợp cụ thể. Các thông tin cần thiết đủ sức thuyết phục về tính hợp lý của
các ước tính kế toán phải được trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính.
Các bằng chứng để chứng minh cho các ước tính kế toán thường là khó thu thập
hơn và tính thuyết phục thấp hơn các bằng chứng chứng minh cho các chỉ tiêu khác
trong báo cáo tài chính.
Theo chuẩn mực kiểm toán số 540- “Kiểm toán các ước tính kế toán”, kiểm toán
viên cần phải áp dụng một hoặc áp dụng kết hợp các phương pháp sau trong quá trình
kiểm toán các ước tính kế toán
a) Xem xét và kiểm tra quá trình lập các ước tính kế toán của đơn vị
b) Kiểm toán viên lập một ước tính độc lập để so sánh với ước tính của đơn vị
c) Xem xét sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc năm tài chính nhưng trước ngày
lập báo cáo kiểm toán để xác nhận các ước tính kế toán đã lập.
Các phương pháp trên được áp dụng một cách linh hoạt trong quá trình kiểm toán
báo cáo tài chính cho khách hàng. Cụ thể:
Khi xem xét và kiểm tra quá trình lập các ước tính kế toán của đơn vị, kiểm toán
viên cần đặc biệt chú ý đến thủ tục phê duyệt các ước tính kế toán của giám đốc. Vì
các ước tính kế toán thường liên quan đến kết quả kinh doanh của đơn vị, lại mang
nặng tính chủ quan, không có quy định một cách cụ thể, chính xác. Do đó, giám đốc
(hoặc người đứng đầu) đơn vị thường soát xét và phê duyệt các ước tính kế toán quan
trọng. Kiểm toán viên phải xem xét việc soát xét và phê duyệt các ước tính kế toán
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
quan trọng của các cấp quản lý có thích hợp hay không và điều đó có được thể hiện
trong các tài liệu làm cơ sở cho việc lập ước tính kế toán chưa? Kiểm toán viên khi
thực hiện thử nghiệm kiểm soát nhằm kiểm tra sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội
bộ của đơn vị có thể chọn mẫu các ước tính kế toán của đơn vị, kiểm tra xem ước tính
đó đã có chữ ký xét duyệt của giám đốc hoặc người đứng đầu đơn vị chưa.
Tính thích hợp của các ước tính kế toán được thể hiện ở chỗ các giả định được
sử dụng để lập các ước tính phải hợp lý và việc tính toán các ước tính kế toán dựa trên
xem xét các giả định này có hợp lý với kết quả thực tế của các kỳ kế toán trước hay
không; ví dụ: ước tính chi phí trích trước năm nay dựa vào mức trích trước của các
năm trước thì nên xem xét mức trích trước năm trước có phù hợp với chi phí thực tế
phát sinh trong năm trước hay không để có hướng điều chỉnh thích hợp.
Xem xét các giả định này có nhất quán với các giả định được sử dụng để lập các
ước tính kế toán khác hay không; có nhất quán với kế hoạch đã được đơn vị vạch ra
hay không. Kiểm toán viên phải đặc biệt chú ý đến những giả định dễ thay đổi, chủ
quan hoặc dễ có sai sót trọng yếu.
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
Trường hợp xem xét các ước tính phức tạp , có liên quan đến kỹ thuật chuyên
ngành, kiểm toán viên phải sử dụng tư liệu của chuyên gia kỹ thuật. Ví dụ: Khi ước
tính hàm lượng trong quặng, kiểm toán viên phải sử dụng tư liệu của các chuyên gia
chuyên ngành thăm dò địa chất.
Kiểm toán viên phải kiểm tra để đảm bảo các dữ liệu được đơn vị sử dụng để lập
các ước tính kế toán vẫn còn thích hợp. Để thực hiện việc này, kiểm toán viên phải sử
dụng những hiểu biết của mình về kết quả tài chính của đơn vị trong các kỳ kế toán
trước; các phương pháp được đơn vị khác trong ngành áp dụng và những kế hoạch dự
tính trong tương lai mà đơn vị đã trình bày với kiểm toán viên.
Đối với các số liệu và giả định đã quy định trong các văn bản pháp luật liên quan
thì kiểm toán viên phải đối chiếu giữa quy định với giả định do đơn vị sử dụng để lập
ước tính kế toán.
Kiểm toán viên phải kiểm tra phương pháp tính toán mà đơn vị sử dụng để lập
ước tính kế toán liên quan đến báo cáo tài chính. Xem xét phương pháp đó có phù hợp
với đặc điểm của đơn vị và tuân thủ theo quy định, chuẩn mực và chế độ kế toán hay
không
Kiểm toán viên có thể lập một ước tính độc lập dựa trên các giả định và cơ sở dữ
liệu đơn vị đã áp dụng hoặc thu thập một ước tính độc lập rồi sau đó so sánh với ước
tính của đơn vị. Nếu phát hiện chênh lệch, kiểm toán viên phải đánh giá chênh lệch đó
có trọng yếu hay không. Nếu không trọng yếu thì không cần điều chỉnh. Còn nếu
tục phân tích như sau:
- So sánh số dự phòng nợ phải thu khó đòi năm nay với các năm trước để xem có
biến động gì lớn không. Nếu số dự phòng năm nay cao hơn nhiều so với năm trước thì
có thể năm nay có thêm một số khoản nợ phải thu trở thành nợ quá hạn hay không có
khả năng thanh toán hoặc tuổi nợ của các khoản nợ tăng lên. Khi đó, kiểm toán viên
cần kiểm tra xem số nợ phải thu trở thành nợ quá hạn trong năm nay có thật sự tồn tại
không. Đồng thời, kiểm toán viên cần kiểm tra lại tuổi nợ của các khoản nợ phải thu
và tiến hành tính toán lại xem có đúng như vậy không. Nếu số dự phòng năm này thấp
hơn năm trước thì có thể là có một số khoản nợ quá hạn đã được trả bớt hoặc trả đủ,
hoặc có thể có một số khoản nợ không thể thu hồi và đã xoá nợ. Khi đó, kiểm toán
viên phải kiểm tra việc thanh toán nợ quá hạn của các đối tượng trong năm nay xem có
khoản nợ nào đã được trả chưa. Trường hợp thứ hai, kiểm toán viên phải xem xét lại
xem có khoản nợ nào được xác định là nợ không thể thu hồi và bị xoá nợ hay không.
Nếu có, kiểm toán viên cần thu thập các bằng chứng cho việc xoá nợ đó như quyết
định xoá nợ…
- Tính tỷ lệ :
T =
Mức dự phòng lập năm nay
x 100%
Số dư nợ phải thu năm nay
T’ =
Mức dự phòng lập năm trước
x 100%
Số dư nợ phải thu năm trước
Nếu T < T’ : Có thể do số dư nợ phải thu năm nay tăng so với năm trước mà
không phải lập dự phòng cho những khoản này. Lúc đó, kiểm toán viên cần kiểm tra
số nợ phải thu tăng lên trong năm nay có khoản nào cần phải lập dự phòng không.
Nếu T > T’ : Có thể do có nhiều khoản nợ trở thành nợ quá hạn trong năm nay
hoặc tuổi nợ của các khoản nợ quá hạn tăng lên nên tỷ lệ trích lập dự phòng trong năm
nay tăng lên so với năm trước. Lúc này, kiểm toán viên cần kiểm tra tuổi nợ của các
không hoặc kiểm tra khả năng thanh toán của khách hàng của đơn vị bằng các chỉ tiêu
phân tích khả năng thanh toán, bằng các thông tin thu thập được từ bên ngoài đơn vị
về việc liệu có phải khách hàng đó lâm vào tình trạng phá sản, giải thể hay không.
Kiểm tra chứng từ về việc lập dự phòng các khoản dự phòng trên báo cáo tài chính
của đơn vị cùng các chứng từ và giấy tờ liên quan, kiểm tra điều kiện ghi nhận khoản
nợ phải thu là khó đòi.
Mục tiêu về sự đầy đủ
Kiểm tra khoản nợ phải thu đã quá hạn thanh toán hoặc khách hàng không đủ khả
năng trả nợ xem đơn vị đã trích lập dự phòng đối với khoản nợ đó chưa bằng cách đối
chiếu với Bảng kê trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi đã được phê duyệt bởi người
có thẩm quyền trong đơn vị
Kiểm tra Bảng đối chiếu công nợ hoặc Bảng phân tích tuổi nợ khoản phải thu để
xem có khoản phải thu nào đủ điều kiện trích lập dự phòng mà đơn vị chưa lập dự
phòng.
Kiểm tra bảng kê các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi được lập trong kỳ, đối
chiếu với chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ chi tiết dự phòng nợ phải thu khó đòi
xem có khoản mục dự phòng nợ phải thu khó đòi nào chưa được tính vào chi phí trong
kỳ hay không.
Mục tiêu về sự đánh giá hợp lý
Kiểm tra Bảng phân tích tuổi nợ do đơn vị lập, đối chiếu với xác nhận công nợ
hay hợp đồng kinh tế để kiểm tra tính chính xác trong việc phân tích tuổi nợ của các
khoản nợ phải thu.
Đối chiếu tỷ lệ trích lập dự phòng đơn vị đã lập có phù hợp với bảng phân tích
tuổi nợ và đúng theo quy định về hướng dấn trích lập các khoản dự phòng tại Thông tư
số 13/2006/TT – BTC hay không.
Kiểm tra việc tính toán của đơn vị dựa vào số dư khoản phải thu quá hạn và tỷ lệ
trích lập dự phòng đã kiểm tra ở trên xem liệu đơn vị tính toán có đúng không, liệu có
sai sót nào trong việc tính toán này dẫn đến mức trích lập không đúng theo quy định
hay không.
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 10
giảm giá hàng tồn kho năm nay thấp hơn năm trước cũng có thể do có một số hàng tồn
kho đã được lập dự phòng năm trước, năm nay không thể bán được nên đã xử lý.
Trường hợp này, kiểm toán viên cần kiểm tra những hàng tồn kho đó xem chúng đã
được xử lý hay chưa, kiểm tra Biên bản xử lý hàng tồn kho không thể bán được của
đơn vị.
- Kiểm toán viên cũng có thể tính chỉ tiêu sau:
Số vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Số dư hàng tồn kho bình quân
Kiểm toán viên so sánh số vòng quay hàng tồn kho của năm nay so với năm
trước. Nếu số vòng quay hàng tồn kho năm nay thấp hơn năm trước thì đó là do lượng
hàng tồn kho được tiêu thụ giảm mà giá trị hàng tồn kho bình quân tăng có thể là do
hàng tồn kho bị ứ đọng, không tiêu thụ được. Như vậy, có thể có một số hàng tồn kho
bị lỗi thời nên khó có thể bán được. Lúc này, kiểm toán viên cần kiểm tra chất lượng
của hàng tồn kho cuối kỳ xem có bị giảm chất lượng không và đơn vị đã lập dự phòng
giảm giá hàng tồn kho đối với những mặt hàng đó chưa.
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
b. Thử nghiệm chi tiết
Mục tiêu về sự tồn tại
Với mục tiêu về sự tồn tại đã nói ở trên, kiểm toán viên cần thực hiện các thủ tục
kiểm toán để kiểm tra liệu hàng tồn kho được trích lập dự phòng giảm giá có thực sự
tồn tại vào ngày kết thúc niên độ hay không và chúng có đủ điều kiện để được lập dự
phòng hay không. Các thủ tục kiểm tra chi tiết có thể thực hiện đó là:
Kiểm tra các chứng từ gốc của hàng tồn kho của đơn vị như hóa đơn mua hàng,
hóa đơn vận chuyển, phiếu nhập kho…
Chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho cuối kỳ hoặc kiểm tra Biên bản kiểm kê hàng
tồn kho cuối kỳ của đơn vị để kiểm tra tính có thật của hàng tồn kho cuối kỳ, đối chiếu
với Bảng trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho đơn vị đã lập xem có mặt hàng nào
được lập dự phòng nhưng lại không tồn tại vào ngày lập báo cáo tài chính của doanh
tồn kho đơn vị đã lập cho hàng tồn kho đó. Kiểm tra tổng cộng số dư dự phòng giảm
giá hàng tồn kho trên sổ chi tiết hàng tồn kho với số dư dự phòng giảm giá hàng tồn
kho trên tài khoản tổng hợp, đối chiếu với số dư được trình bày trên báo cáo tài chính.
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
2.2.3. Kiểm toán chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ)
2.2.3.1. Mục tiêu kiểm toán
Sự tồn tại: Các tài sản cố định đơn vị trích khấu hao trong kỳ là thực sự tồn tại
trong đơn vị vào ngày lập Bảng cân đối kế toán.
Sự đầy đủ: Tất cả các TSCĐ của đơn vị tại ngày kết thúc niên độ đều đã được
trích khấu hao, ghi chép vào sổ kế toán và trình bày đầy đủ trên Báo cáo tài chính của
đơn vị.
Sự đánh giá hợp lý: Tất cả các khoản trích khấu hao tài sản cố định đều được tính
toán một cách hợp lý, dựa trên những cơ sở đáng tin cậy và phương pháp tính toán hợp
lý.
2.2.3.2. Thử nghiệm cơ bản
a. Thủ tục phân tích:
- So sánh mức trích khấu hao TSCĐ kỳ này với kỳ trước. Nếu mức trích khấu
hao kỳ này tăng so với kỳ trước thì có thể do doanh nghiệp có tăng thêm TSCĐ trong
kỳ này. Kiểm tra TSCĐ tăng giảm trong kỳ. Nếu mức trích khấu hao kỳ này giảm so
với năm trước có thể là do TSCĐ giảm trong kỳ hoặc do đơn vị tính khấu hao theo
phương pháp số dư giảm dần. Kiểm toán viên cần kiểm tra lại TSCĐ tăng giảm trong
kỳ hoặc xem xét lại phương pháp khấu hao mà đơn vị lựa chọn. Có thể do một số
TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng trong đơn vị. Lúc đó, kiểm toán viên
cần kiểm tra lại các TSCĐ đã khấu hao hết nguyên giá nhưng vẫn còn được sử dụng.
- Tính tỷ lệ % của chi phí khấu hao (theo loại tài sản cố định) trên tài sản cố
định (theo loại) của năm này, so với tỷ lệ % tương ứng của năm trước.
CP khấu hao (theo loại TSCĐ) năm nay
X 100%
TSCĐ (theo loại) năm nay
Mục tiêu về sự đánh giá hợp lý
Kiểm tra phương pháp tính khấu hao đơn vị lựa chọn có phù hợp với đặc điểm
hoạt động kinh doanh của đơn vị hay không.
So sánh phương pháp khấu hao tài sản cố định năm nay với các năm trước xem
đơn vị có sử dụng phương pháp khấu hao nhất quán không. Nếu phát hiện ra có sự
không nhất quán với các năm trước, kiểm toán viên cần phỏng vấn đơn vị về điều này
và tìm hiểu nguyên nhân.
Kiểm tra lại thời gian sử dụng của tài sản cố định đơn vị ước tính có hợp lý
không, có phù hợp với khung thời gian sử dụng hữu ích được quy định trong Quyết
định 206/2003/QĐ – BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính quy định về chế độ quản
lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản có định hay không.
Kiểm tra việc trích khấu hao tài sản cố định và ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh
doanh có đúng theo bộ phận sử dụng hay không bằng cách đối chiếu với sổ tài sản cố
định của từng bộ phận sử dụng tài sản cố định.
Kiểm tra các tài sản cố định tăng, giảm trong kỳ xem đơn vị khi tăng, giảm tài
sản cố định có tăng, giảm mức khấu hao tương ứng hay không bằng cách phỏng vấn
đơn vị về việc trong năm có tài sản cố định tăng giảm hay không. Nếu có, đối chiếu hồ
sơ gốc của tài sản cố định tăng, giảm với Bảng trích khấu hao để xem đơn vị có tăng,
giảm mức khấu hao theo ngày sử dụng hay không.
Kiểm tra cột thời gian sử dụng của tài sản cố định trên Bảng trích khấu hao, rà
soát lại ngày tháng bắt đầu sử dụng tài sản cố định trên hồ sơ gốc hoặc sổ tài sản cố
định xem có tài sản cố định nào đã khấu hao hết nguyên giá nhưng vẫn còn sử dụng
trong đơn vị và được tiếp tục trích khấu hao.
Tiến hành tính toán lại chi phí khấu hao TSCĐ theo phương pháp đơn vị lựa chọn
và thời gian sử dụng đơn vị ước tính. Sau đó đối chiếu Bảng trích khấu hao của đơn vị.
Nếu có chênh lệch phải tìm hiểu nguyên nhân và xử lý.
2.2.4. Kiểm toán chi phí trả trước
2.2.4.1. Mục tiêu kiểm toán:
Sự tồn tại: Các khoản chi phí trả trước trình bày trên báo cáo tài chính của đơn vị
là thực sự tồn tại vào ngày lập báo cáo tài chính.
đối chiếu với sổ chi tiết chi phí trả trước.
Mục tiêu về sự đầy đủ
Chọn mẫu một số khoản mục chi phí trả trước trong bảng chi tiết phân bổ chi phí
trả trước và kiểm tra xem đã ghi sổ chưa.
Mục tiêu về sự đánh giá chính xác
Kiểm tra tỷ lệ phân bổ chi phí trả trước của đơn vị lựa chọn có phù hợp không:
- Tỷ lệ phân bổ của CPTT còn lại đầu kỳ có nhất quán kỳ trước
- Tỷ lệ phân bổ của CPTT phát sinh trong kỳ có phù hợp với quy định
Kiểm tra việc tính toán của đơn vị có đúng không
Tiến hành tính toán lại một số khoản mục chi phí trả trước dựa trên quy định tỷ lệ
phân bổ chi phí trả trước của đơn vị và so sánh với số liệu của đơn vị.
2.2.5. Kiểm toán dự phòng bảo hành sản phẩm
2.2.5.1. Mục tiêu kiểm toán
Sự phát sinh: Các sản phẩm mà đơn vị lập dự phòng phải trả về bảo hành sản
phẩm được trình bày trên báo cáo tài chính của đơn vị là thực sự đã được tiêu thụ
trong năm và có đủ điều kiện được trích lập dự phòng bảo hành sản phẩm.
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
Sự đầy đủ: Tất cả các sản phẩm, hàng hóa được bán trong năm và đủ điều kiện
lập dự phòng bảo hành thì đều đã được lập dự phòng ,được ghi sổ kế toán và trình bày
đầy đủ trên báo cáo tài chính.
Sự hợp lý: Các khoản dự phòng bảo hành sản phẩm được tính toán một cách
đúng đắn dựa trên những cơ sở hợp lý.
2.2.5.2. Thử nghiệm cơ bản
a. Thủ tục phân tích
So sánh mức trích lập năm trước với số thực tế đã phát sinh trong năm trước.
Tính tỷ lệ :
Mức trích lập dự phòng năm nay
x 100%
Doanh thu tiêu thụ năm nay
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
2.2.6.1. Mục tiêu kiểm toán:
Sự tồn tại: Các khoản chi phí phải trả (chi phí trích trước) trên báo cáo tài chính
của đơn vị là thực sự tồn tại vào ngày lập báo cáo tài chính.
Sự đầy đủ: Tất cả các khoản chi phí trích trước đều đã ghi sổ kế toán và trình bày
đầy đủ trên báo cáo tài chính.
Sự đánh giá: Các khoản chi phí trích trước được tính toán đúng đắn và dựa trên
những cơ sở hợp lý.
2.2.6.2. Thử nghiệm chi tiết
Mục tiêu về sự tồn tại
Yêu cầu các bằng chứng chứng minh việc ghi sổ các khoản trích trước như: quyết
định trích trước chi phí sửa chữa tài sản cố định, quyết định trích trước tiền lương nghỉ
phép, hợp đồng vay hoặc xác nhận của người cho vay…
Mục tiêu về sự đầy đủ
Kiểm tra tất cả các hợp đồng vay hoặc số trái phiếu trả sau để xem việc tính số lãi
trích trước có đầy đủ
Mục tiêu về sự đánh giá hợp lý
Kiểm tra bảng chi tiết chi phí phải trả cuối kỳ, sổ chi tiết, sổ cái và các tài liệu khác
liên quan.
Kiểm tra số trích trước chi phí phải trả năm trước với chi phí thực tế phát sinh để đánh
giá tính hợp lý của việc trích trước. Kiểm tra việc tính toán trên các bảng kê như bảng
kê chi phí lãi vay…
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
Phần II.
THỰC TẾ CÔNG TÁC KIỂM TOÁN CÁC ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN TẠI
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
1. Khái quát về công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC(trước đây là công ty kiểm toán và kế
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có qui chế riêng về việc
lựa chọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổ chức niêm
yết trên sàn giao dịch chứng khoán, các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng
khoán AAC hoạt động theo phương châm: độc lập, khách quan, trung thực và bí mật
số liệu của khách hàng, và đó cũng là lời cam kết của công ty đối với khách hàng.
1.2. Các lĩnh vực hoạt động của công ty
1.2.1. Kiểm toán
Cung cấp các dịch vụ kiểm toán luôn luôn là thế mạnh của AAC. Các dịch vụ
kiểm toán do AAC cung cấp đều được lập kế hoạch và tiến hành theo các Quy trình
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
kiểm toán chuẩn do AAC xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ các Chuẩn mực kiểm toán.
Quy chế kiểm toán độc lập và các quy định hiện hành. đồng thời có sự so sánh. đối
chiếu và vận dụng các Chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Thông lệ được chấp nhận
chung của Quốc tế. Từ các kết quả kiểm toán. AAC đảm bảo cung cấp những góp ý
xây dựng hiệu quả cho các khách hàng của mình. Trải qua một thời gian dài nỗ lực xây
dựng và không ngừng phát triển, AAC đã tạo dựng được niềm tin của các khách hàng
trong từng dịch vụ kiểm toán.
Các dịch vụ kiểm toán do AAC cung cấp bao gồm:
Kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC)
Kiểm toán BCTC vì mục đích thuế
Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán nội bộ
Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở thủ tục thỏa thuận trước
Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Kiểm toán báo cáo dự toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.2.2. Thuế
Thông qua một đội ngũ các chuyên gia am hiểu về các sắc thuế và tận tâm, AAC
sẵn sàng hỗ trợ các khách hàng hoàn thành đúng nghĩa vụ thuế với nhà nước đồng thời
1.3. Bộ máy tổ chức quản lý của công ty
Tổng Giám đốc:
- Là người đại diện toàn quyền của công ty, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ
Tài chính và trước Pháp luật về toàn bộ hoạt động của công ty.
- Đánh giá rủi ro của hợp đồng kiểm toán liên quan đến hoạt động của công ty.
- Duy trì mối quan hệ với các cán bộ cao cấp của công ty.
- Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầm quan
trọng cao.
- Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã được thực hiện.
- Chịu trách nhiệm ký Báo cáo kiểm toán và thư quản lý.
- Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc cuộc kiểm
toán hoặc ủy quyền lại.
Phó Tổng Giám đốc:
- Được phân công ủy quyền giải quyết cụ thể các vấn đề liên quan đến nhân sự,
hành chính, khách hàng, và các vấn đề về nghiệp vụ.
- Chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và Pháp luật Nhà nước về những vấn đề
được phân công và ủy quyền.
- Giải quyết những vấn đề liên quan đến chuyên môn của mình.
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 20
Tổng Giám Đốc
Phó Tổng Giám Đốc
Xây Dựng Cơ Bản
Phó Tổng Giám Đốc
Báo Cáo Tài Chính
Khối
Kiểm Toán
XDCB
Phòng
Tư Vấn và
Đào Tạo
Kiểm
Toán
BCTC
1
Phòng
Kiểm
Toán
BCTC
3
Ban
Kiểm
Soát
Chất
Lượng
Phòng
Kiểm
Toán
BCTC
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
Kế toán trưởng:
Là người giúp Tổng giám đốc tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê tài
chính và kiểm toán nội bộ.
Trưởng, phó phòng:
- Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc và đóng vai trò quan
trọng trong lĩnh vực hoạt động của công ty. Trưởng phòng giữ vai trò lãnh đạo trong
ban quản lý của công ty, họ có chức năng như một cầu nối giữa Tổng Giám Đốc, ban
quản lý và các nhân viên trong công ty, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến
nhân sự, phối hợp hoạt động và đảm nhận các vấn đề về công việc hành chính.
- Phó phòng là người tham mưu trực tiếp cho trưởng phòng, thay mặt trưởng
1.4.2. Thực hiện kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật
kiểm toán thích hợp với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán.
Các nội dung chủ yếu trong giai đoạn này bao gồm:
- Quy định về nhiệm vụ của nhóm trưởng: Nhóm trưởng có vai trò hết sức quan
trọng trong mỗi cuộc kiểm toán, thực hiện nhiều nhiệm vụ như: thảo luận với khách
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S. Phạm Hoài Hương
hàng, liên hệ khách hàng để sắp xếp kiểm kê hàng tồn kho, tổ chức lưu trữ hồ sơ, lập
kế hoạch kiểm toán và phân tích hồ sơ, sắp xếp, kiểm tra, đánh giá các thành viên
trong nhóm…
- Các quy trình nghiệp vụ đặc trưng : Đối với mỗi doanh nghiệp sẽ có các chu
trình, mỗi chu trình lại có những nghiệp vụ phát sinh đặc trưng. Tùy theo tính chất
trọng yếu của mỗi chu trình, nghiệp vụ mà nhóm trưởng phân công cho các kiểm toán
viên đảm nhận.
- Quy định về đánh chỉ mục và tham chiếu giấy làm việc: Giấy làm việc được
đánh chỉ mục và tham chiếu phù hợp với quy định chung của công ty nhằm đảm bảo
cho việc kiểm tra, so sánh, đối chiếu…
- Quy định về các ký hiệu được sử dụng thống nhất trên giấy làm việc: Công ty
quy định các ký hiệu được sử dụng thống nhất trên giấy làm việc nhằm tránh việc ghi
bằng chữ mất thời gian.
- Chương trình kiểm toán: Là toàn bộ những chỉ dẫn cho kiểm toán viên và trợ lý
kiểm toán tham gia vào công việc kiểm toán và là phương tiện ghi chép, theo dõi, kiểm
tra tình hình thực hiện kiểm toán. Chương trình kiểm toán chỉ dẫn mục tiêu kiểm toán
từng phần hành, nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cụ thể và
thời gian ước tính cần thiết cho từng phần hành.
1.4.3. Kết thúc kiểm toán
Kiểm toán viên xem xét các vấn đề liên quan đến giả thiết hoạt động liên tục, các
sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kế toán đến ngày phát hành báo cáo kiểm toán.
Đồng thời đánh giá lại toàn bộ các khoản mục của báo cáo tài chính, đối chiếu với
Lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất công nghiệp
Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất, xuất khẩu và sửa chữa các loại cần câu cá,
dụng cụ thể thao, xe đạp, đồ chơi, dung cụ văn phòng và phụ tùng của các loại sản
phẩm trên.
2.1.2. Khách hàng chủ yếu
Toàn bộ sản phẩm của công ty xuất khẩu 100%. Khách hàng ở đây là công ty mẹ
và các công ty con khác trong tập đoàn.
2.1.3. Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
• Kỳ kế toán năm ( bắt đầu từ ngày 01/01/2007 đến ngày 31/12/2007)
• Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán: Đồng đô la Mỹ (USD)
2.1.4. Các chính sách kế toán áp dụng tại công ty
Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho:
Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: Theo giá gốc
Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho: Nhập trước xuất trước.
Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Kiểm kê định kỳ.
Phương pháp lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: được thực hiện trên
việc ghi giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được.
Giá trị thuần có thể thực hiện được đánh giá trên cơ sở giá bán có thể thực hiện được
tại thời điểm kết thúc niên độ kế toán.
Nguyên tắc ghi nhận và khấu hao TSCĐ:
Nguyên tắc ghi nhận TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình: Ghi nhận theo
nguyên giá. Trong Bảng cân đối kế toán được phản ánh theo ba chỉ tiêu: Nguyên giá,
hao mòn lũy kế và giá trị còn lại.
Phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình: Khấu hao theo
đường thẳng.Tỷ lệ khấu hao phù hợp với quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12
tháng 12 năm 2003 của Bộ tài chính.
Mức khấu hao cụ thể như sau:
Loại tài sản Số năm sử dụng
Nhà cửa, vật kiến trúc 25
Máy móc thiết bị 10
- Dự phòng quỹ trợ cấp mất việc làm: được ghi nhận và xác định
vào thời điểm cuối năm tài chính.(31/12)
Công nợ
Kiểm toán viên đã dùng các câu hỏi sau để tìm hiểu về công nợ của doanh
nghiệp:
Doanh nghiệp đã từng có nợ khó đòi trong quá trình hoạt động kinh doanh
không?
Không
Doanh nghiệp có những tranh chấp với khách hàng hay nhà cung cấp không?
Không
Công ty có khoản công nợ nào không rõ ràng không?
Không
Những nhân tố khác
Có những quy định quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tiếp tục kinh doanh?
Không
Có yêu cầu thẩm vấn hay thanh tra của cơ quan chức năng như thuế, thanh tra,
nhà nước, kiểm toán nhà nước không?
Không
2.2. Kiểm toán dự phòng nợ phải thu khó đòi
2.2.1. Thủ tục kiểm toán công ty thiết kế sẵn
Công ty thiết kế sẵn các thủ tục kiểm toán đối với khoản dự phòng nợ phải thu
khó đòi như sau:
• Mượn danh sách tuổi của các con nợ, đối chiếu với chứng từ gốc để xác
định tính chính xác tuổi của các khoản nợ.
• Đánh giá khả năng thanh toán nợ của các con nợ trong trường hợp khoản nợ
không được thanh toán đúng hạn.
Xem xét liệu các khoản nợ có được bảo đảm hay không.
Kiểm tra mức độ đáng tin cậy về khả năng thanh toán nợ của
con nợ từ các tài liệu của khách hàng.
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 24
đòi 0 0
Các khoản phải thu dài hạn
0,00
0,00
Phải thu dài hạn của khách hàng
0 0
Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc 0 0
Phải thu dài hạn nội bộ 0 0
Phải thu dài hạn khác
0 0
Dự phòng phải thu dài hạn khó đòi 0 0
Nhận thấy, doanh nghiệp không trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi trong cả
hai năm 2006 và 2007. Kiểm toán viên đã hỏi đơn vị về phương pháp trích lập dự
SVTH: Đỗ Như Hoài – Lớp 32k06.3 Trang 25