TÀI LIỆU-TƯƠNG TÁC VĂN HÓA TRONG SÁNG TÁC CỦA VLADIMIR NABOKOV - Pdf 28



1

(Bài đã đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12 -2013, tr.91-102)

TƯƠNG TÁC VĂN HÓA TRONG SÁNG TÁC CỦA VLADIMIR NABOKOV

Phạm Gia Lâm
1

Tôi là một nhà văn Mỹ, sinh ra ở Nga, học tập tại Anh, nơi tôi đã nghiên cứu văn
học Pháp trước khi chuyển sang Đức sống mười lăm năm
(1)
.
Đầu tôi nói bằng tiếng Anh, tim tôi cảm bằng tiếng Nga và tai tôi nghe bằng tiếng
Pháp
(2)
.
V.Nabokov

Năm 2012, bản tiếng Việt cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Lolita của V.Nabokov được
nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành đã gây nên một làn sóng chỉ trích đầy xúc cảm trong
cộng đồng độc giả về chất lượng bản dịch. Điều đó đã làm chìm khuất đi mối quan tâm về
đặc trưng thế giới nghệ thuật của tác giả hầu như trước đó chưa được biết đến này ở Việt
Nam. Bài viết này muốn đưa ra một cái nhìn định tính đối với sáng tác của V.Nabokov
dưới góc độ tương tác và đối thoại văn hóa.
1.V.Nabokov – “nhà văn-nhân sư”
Vladimir Nabokov là hiện tượng lớn nhất của văn học Nga hải ngoại, cũng là tác gia
kinh điển của văn học Mỹ thế kỷ XX. Di sản văn học của ông bao gồm 19 tiểu thuyết, 11
tập truyện ngắn, 9 tập thơ, 3 vở kịch, viết bằng cả tiếng Nga và tiếng Anh. Có thể nói số

chạy bằng tiểu thuyết Lolita (1955). Lolita cũng là cuốn tiểu thuyết có ảnh hưởng hơn
cả của V.Nabokov đến tiến trình phát triển của văn xuôi hiện đại.
Năm 1959 V.Nabokov quay về Montreux, Thụy Sĩ, sống cho đến khi qua đời. Tại
đây ông đã viết những cuốn tiểu thuyết cuối cùng, nổi tiếng nhất trong số đó là Ngọn lửa
nhợt nhạt (1962), Ada (1969). V.Nabokov qua đời ngày 02.07.1977, để lại bản thảo dang
dở cuốn tiểu thuyết tiếng Anh Nguyên bản của Laura (tháng 11.2009 đã được công bố ở
Anh, được dịch và công bố ở Nga sau đó nửa tháng). Trên bia mộ của ông chỉ có dòng chữ
ngắn gọn bằng tiếng Pháp Vladimir Nabokov. Écrivain.1899 – 1977, chắc hẳn với ngụ ý 3

ông đã không ưu tiên dùng một trong hai thứ tiếng là Nga và Anh để viết nên những tác
phẩm độc đáo của mình.
Trong biên niên sử văn học Nga, V.Nabokov còn được biết đến với cái tên Vladimir
Sirin - tác giả của các tập Chùm thơ (1922), Đường đồi (1923) và tiểu
thuyết Mashenka (1926). Nhưng cái tên Vladimir Sirin của ông đã chấm dứt sau khi cuốn
tiểu thuyết cuối cùng bằng tiếng Nga Quà tặng được công bố năm 1937. Còn ở Mỹ, ông
nổi danh với cái tên nhà văn Vladimir Nabokov viết bằng tiếng Anh. Ở V.Nabokov, bướm
và cờ vua không chỉ là niềm đam mê khác ngoài văn học, mà còn trở thành những biểu
tượng trong sáng tác của ông. Ông thích kiếm tìm những mô hình của số phận và sự ứng
nghiệm trong tiểu sử của mình. Vậy nên có thể coi hai mảng tiếng Nga và tiếng Anh trong
sáng tác của ông đối xứng nhau như hai cánh của con bướm. Và cũng giống như trên bàn
cờ, tám ô ngang và tám ô dọc ứng với 8 cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Nga và 8 cuốn tiểu
thuyết bằng tiếng Anh của ông. Dường như để không phá vỡ sự đối xứng tuyệt đối đó, số
phận (chiến tranh và cái chết) đã không cho phép ông viết xong cuốn tiểu thuyết thứ 9
bằng tiếng Nga Solus Rex và cuốn tiểu thuyết thứ 9 bằng tiếng Anh Nguyên bản của Laura.
Vladimir Nabokov được mệnh danh là “nhà văn - nhân sư”, ngoài lý do ông sáng
tác bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Nga với số lượng tác phẩm hầu như ngang nhau, còn bởi
tính chất thông tuệ của một nhà văn-nhà khoa học.

tưởng và quan niệm thẩm mỹ; giai đoạn thứ hai là thời kỳ cải tổ, vào giữa những năm
1980: hiện tượng V.Nabokov được thừa nhận nhưng với rất nhiều e dè bởi sáng tác và
quan điểm của nhà hoạt động văn hóa Nga ở hải ngoại này xa lạ với chính sách văn hóa
của nhà nước xô viết; giai đoạn thứ ba bắt đầu từ khi Liên xô tan rã: thừa nhận
V.Nabokov là hiện tượng lớn của văn học Nga, là nhà hoạt động văn hóa hải ngoại nổi
tiếng. V.Nabokov thu hút sự quan tâm không chỉ của giới ngữ văn học mà của cả giới văn
hóa học.
Thế giới nghệ thuật của V.Nabokov bắt đầu được hình thành qua những sáng tác
bằng tiếng Nga, dựa trên nền tảng tinh thần và những truyền thống của văn hóa Nga,
đồng thời lại chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, trước hết là văn hóa Pháp và Đức.
Sáng tác bằng tiếng Nga chính là phương tiện để V.Nabokov giữ gìn bản sắc văn hóa khi
sống xa Tổ quốc. Trong khi đó sáng tác bằng tiếng Anh của ông lại là một hình thức tồn tại
khác của văn hóa Nga, là phương tiện chuyển tải di sản văn hóa Nga sang văn hóa Mỹ.
Vấn đề song ngữ /song văn hóa ở V.Nabokov liên quan đến các thuật ngữ “văn
hóa Nga”, “văn hóa phương Tây” và “văn hóa Anh ngữ”. Nói “văn hóa Nga” ở đây là trỏ 5

văn hóa của người Nga, không phân biệt quốc tịch, có tiếng Nga là tiếng mẹ đẻ, dùng các
phạm trù của tiếng Nga để tư duy, đồng thời cũng là trỏ nguồn lực văn hóa đa dạng của
cộng đồng Nga hải ngoại. Thuật ngữ “văn hóa phương Tây” hay “văn hóa Tây Âu” liên
quan đến thời kỳ V.Nabokov sáng tác bằng tiếng Nga khi đang sống ở một số nước Tây
Âu. Văn hóa Mỹ mà ông chịu ảnh hưởng từ khi chuyển đến nước này (1940) được hiểu là
một trong những nền “văn hóa Anh ngữ”.
Khối lượng đồ sộ những tài liệu bao gồm hồi ký, báo chí chính luận, công trình khoa
học nghiên cứu sáng tác của V.Nabokov đã tạo nên phân ngành Nabokov học (tiếng
Nga: Набоковедение, tiếng Anh: Nabokov Studies) với 3 nhóm lớn: những công trình do
Nga kiều viết riêng về Nabokov-Sirin; những công trình của các tác giả nước ngoài; những
công trình của các học giả trong nước Nga, chủ yếu xuất hiện thời kỳ cải tổ và hậu xô viết.

phòng thủ của Luzhin, Thám tử, Chiến công, Quà tặng. Nổi bật trong các tác phẩm này là
đạo lý, tập quán Nga và những con người Nga bị rơi vào môi trường sống xa lạ, tách rời
“đất mẹ”. Nga kiều coi việc gìn giữ cái “thực thể Nga” này là sứ mệnh thiêng liêng của họ.
Các nhân vật thuộc nhóm tác phẩm này, theo cách Nga, thường suy ngẫm về sự vĩnh
hằng, cái cao cả, thấm đượm tinh thần Nga, từ tâm và thiện nguyện. Về phương diện cấu
trúc-thể loại, các tác phẩm này chủ yếu mang tính chất tự thuật, cốt truyện thường có kết
cấu đa tầng và khá lỏng lẻo hoặc tính co giãn lớn.
Mảng thứ hai, gồm các tác phẩm bằng tiếng Nga K,Q,J; Tiếng cười trong bóng tối,
Tuyệt vọng và cuốn tiểu thuyết đầu tiên bằng tiếng Anh Cuộc đời thực của Sebastian
Knight (hoàn thành đầu 1939 ở Paris, công bố năm 1941 ở Mỹ). Các nhân vật có thể là
người Nga nhưng cách ứng xử của chúng đã bị chi phối bởi dục vọng cá nhân về quyền
lực, giàu sang và vinh quang; đắm đuối trong tình trường đã lấn át những khát khao sáng
tạo.
Khi nói về thời kỳ sáng tác ở châu Âu của V.Nabokov, nhân bàn về tiểu thuyết Tuyệt
vọng và motif thất vọng trong sáng tác của ông, V.Khodashevich đã coi ông là “bậc thầy
lớn nhất của văn học châu Âu hiện đại”.
3. Về “chất Nga” và “chất phương Tây”
Thước đo “chất Nga” trong sáng tác của V.Nabokov trước hết là sự hiện hữu hình ảnh
Tổ quốc Nga. Cũng như nhiều nhà văn Nga hải ngoại khác, tất cả những gì từ Tổ quốc còn
lại với ông khi sống ở xứ người là tiếng mẹ đẻ và hồi ức. Đối với người nhập cư, việc
chuyển sang nói bằng một ngôn ngữ khác tiếng mẹ đẻ là nhu cầu khách quan trong giao
tiếp. Với nhà văn nhập cư, đó còn là điều kiện sống còn bởi chỉ như vậy họ mới có công 7

chúng độc giả bền vững. V.Nabokov thuộc thế hệ thứ hai trong làn sóng di tản thứ nhất
(sau Cách mạng tháng Mười, trước Đại chiến thế giới II) nên việc thích ứng với môi trường
xã hội, văn hóa và ngôn ngữ khác không khó khăn như thế hệ trước. Mặt khác, do gắn liền
với “khí chất”, tiểu sử và trải nghiệm cá nhân nên hồi ức về nước Nga của mỗi nhà văn hải

8

của mình. (…). Thói quen lâu năm nói theo cách của mình không cho phép tôi bằng lòng
với những khuôn mẫu sẵn có ở ngôn ngữ mới chọn – và những khó khăn khủng khiếp của
việc hóa thân sắp tới cùng nỗi sợ hãi phải giã từ cái sinh thể đã được thuần dưỡng đẩy tôi
vào trạng thái (…) không có nhà văn nào trước tôi ở mức độ nhất định cảm thấy như
vậy”.
.

Thêm nữa, nước Nga của Nabokov – đó còn là văn học cổ điển Nga, là văn hóa quý tộc
Nga. Nhờ có những bản dịch của V.Nabokov sang tiếng Anh và tiếng Pháp mà phương Tây
được biết đến Bài ca về binh đoàn Igor và các tác phẩm của A.Pushkin, M.Lermontov,
F.Tyutchev. Không khó nhận ra mối liên hệ giữa văn xuôi của V.Nabokov với văn học cổ
điển Nga. Khi nghiên cứu 6 cuốn tiểu thuyết tiếng Nga của V.Nabokov, nữ giáo sư Đại
học Paris IV Nora Buhks đã nhấn mạnh “tinh thần Chekhov”, nêu bật “motif Pushkin”
(chẳng hạn motif gặp gỡ-chia tay của Evgeni Onegin trong tiểu thuyết Mashenka)
(6)
. Còn
Yu.Levin thì chỉ ra nguyên tắc song chiếu trong kết cấu tiểu thuyết Chiến công: song chiếu
về tiểu sử, về niên biểu. Yu.Levin cho rằng “đề tài lánh đời” trong Mashenka rất tiêu biểu
cho văn học Nga. Theo ông, tiền bối của nhân vật Garin có thể là những kẻ “lang thang” -
một dạng của “con người thừa”. Tuy nhiên, đến V.Nabokov, nhân vật lang thang đã mang
một diện mạo mới mẻ và đặc biệt là lưu vong
(7)
. Nhiều nhà nghiên cứu Nga và Tây Âu
(A.Mulyarchick, C.Kostyukov, M.Lipovetsky, N.Buhks, Larry M. McCaffery,…) cũng đề cập
đến mối liên hệ giữa sáng tác của V.Nabokov và F.Dostoevsky, chẳng hạn, giữa Mời dự án
tử hình và Tội ác và hình phạt (những tình huống cốt truyện và kiểu nhân vật song trùng),
giữa Thám tử và Kẻ song trùng, Bút ký dưới hầm (đề tài tự thú), giữa Nước phòng thủ của
Luzhin và Con bạc (đề tài trò chơi với số phận và kiểu nhân vật “người chơi”)… Đúng là

Luzhin.
Thoạt nhìn ta thấy dường như V.Nabokov không đề cập đến bất kỳ một vấn đề chính
trị-xã hội nào luôn khiến các nhà văn Nga hải ngoại thuộc làn sóng thứ nhất quan tâm, khi
mà tiểu thuyết K, Q, J đầy “hơi hướng Đức”, còn Nước phòng thủ của Luzhin nếu có được
viết bằng tiếng Pháp chắc sẽ lẫn vào rất nhiều tác phẩm văn học Pháp khác. Trong những
sáng tác thời kỳ đầu lưu vong kể trên của ông hầu như vắng bóng không chỉ thiên nhiên
Nga mà toàn bộ cuộc sống Nga đầy những mâu thuẫn phức tạp. Quả là trong cái nước
Nga của V.Nabokov rất khó tìm thấy những đại diện tiêu biểu của “biển cả nhân dân”.
Thiên nhiên Nga được thay bằng điền trang, đời sống nhân dân Nga được thay bằng lối
sống gia đình Nabokov. Nhưng ở một phương diện khác, có lẽ đó lại là cách độc đáo lưu
giữ hình ảnh nước Nga “của riêng mình” – một “nước Nga nhỏ”, “nước Nga điền trang”
trước Cách mạng. Điều này in đậm dấu ấn ở các nhân vật trong văn xuôi của ông, với nỗi
niềm tiếc nuối, cô đơn của một tâm hồn xa xứ, bị “lưu đày”, rất hiện sinh. Mặt khác, chính
tính chất hiện sinh toát lên từ chủ đề lưu vong, từ số phận của những nhân vật Nga lưu 10

vong trong tác phẩm của V.Nabokov đã kết nối ông không chỉ với văn học Nga mà với cả
văn học Tây Âu. Có lẽ vì thế mà N.Anastasev đã gọi nước Nga của V.Nabokov là “nước Nga
đậm chất quốc tế”
(10)
.
4. Sáng tác bằng Anh ngữ – một phương cách đối thoại với văn hóa Mỹ
Hoạt động sáng tạo của V.Nabokov còn bao gồm một phương diện quan trọng khác là
dịch thuật. Ông dịch các tác phẩm văn học cổ điển của Nga sang tiếng Anh, Pháp và ngược
lại. Khi dịch, ông luôn trung thành với tác phẩm gốc nhưng từ góc nhìn của văn hóa Nga,
để cho độc giả-đồng bào mình cảm thấy gần gũi và dễ hiểu, ông đã thổi “hồn Nga” cho
chúng qua việc thay đổi hiện thực Anh và Pháp bằng những hiện tượng của văn hóa Nga.
Bằng cách đó, những bản dịch tiểu thuyết Alice in Wonderland của Lewis Carroll (Anh)

trở nên thô thiển, dài dòng”
(11)
.
Câu chuyện nhà văn tự dịch tiểu thuyết Lolita của mình sang tiếng Nga không gói gọn
trong phạm vi dịch thuật thông thường mà thực ra là tác giả đã sáng tạo nên một phiên
bản mới của cuốn tiểu thuyết. Trong bản tiếng Nga của Lolita, V.Nabokov phải tìm cách
thể hiện phù hợp với văn hóa Nga cho hàng trăm kiểu chơi chữ, lối nói ẩn dụ hết sức tinh
tế. Xin dẫn ra hai ví dụ. Trường hợp thứ nhất, câu đầu tiên của Lolita, bản tiếng Anh
là: Lolita, light of my life, fire of my loins, trong bản tiếng Nga: Лолита, свет моей
жизни, огонь моих чресел. Nếu đối chiếu cả hai văn bản của tác giả thì thấy câu ở bản
tiếng Anh, với nhịp điệu và âm thanh của nó, mang đậm chất thơ hơn so với câu ở bản
tiếng Nga (tuy ở cả hai bản, từ loin và чресло cùng có nghĩa là phần thăn bên trong dưới
thắt lưng, sát quả thận). Vậy nên có thể dịch câu này sang tiếng Việt theo “tinh thần” của
bản tiếng Anh là Lolita, ánh sáng của đời tôi, ngọn lửa dục tình của tôi. Trường hợp thứ
hai, câu áp chót của Lolita, trong nguyên bản tiếng Anh: I am thinking of aurochs and
angels, the secret of durable pigments, prophetic sonnets, the refuge of art; ở bản tiếng
Nga: Говорю я о турах и ангелах, о тайне прочных пигментов, о предсказании в
сонете, о спасении в искусстве. Giữa hai câu này có hai chỗ đáng lưu ý. Thứ nhất, bản
tiếng Nga không dịch từ auroch thành зубр mà thành тур vì зубр chỉ loại bò rừng nói
chung ở châu Âu, còn тур tuy cũng chỉ bò rừng nhưng gắn với tín ngưỡng dân gian của
các dân tộc Đông Slav
(12)
. Thứ hai, từ tiếng Anh refuge không được dịch là убежище (nơi
ẩn náu – như trong bản tiếng Việt của Dương Tường) mà là спасение (sự cứu rỗi). Nghệ
thuật như là sự cứu rỗi (Искусство как спасение) – đó là quan niệm truyền thống trong
mỹ học Nga, gắn bó mật thiết với tư tưởng Chính thống giáo Slav. Những ví dụ nêu trên 12


đầy đủ hình thức này. Loại “văn bản búp bê mẹ-con” đã quy định kết cấu của gần như tất
cả các tác phẩm của Nabokov, bắt đầu từ truyện ngắn Truyền miệng và cuốn tiểu 13

thuyết Mashenka bằng tiếng Nga cho đến các tiểu thuyết tiếng Anh Lolita và Hãy nhìn vào
Harlequins!.
Thực ra, trong lịch sử văn học, loại văn bản búp bê mẹ-con không phải là mới.
Những văn bản búp bê mẹ-con từng tồn tại trong hát ru của văn học châu Âu, trong
Odyssey của Homer. Ta cũng bắt gặp loại văn bản búp bê mẹ-con dưới dạng “kịch trong
kịch” ở Hamlet của W.Shakespeare hoặc Hải âu của A.Chekhov, dạng “nhật ký trong tiểu
thuyết” ở Một nhân vật của thời đại chúng ta của M.Lermontov, Bọn làm bạc giả của
A.Gide, dạng “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” ở Nghệ nhân và Margarita của M.Bulgakov.
Trong sáng tác bằng tiếng Nga của V.Nabokov, kiểu “văn bản búp bê mẹ-con” khá đa
dạng, từ tiểu thuyết trong truyện ngắn (Truyền miệng) đến truyện vừa trong tiểu thuyết
(Tuyệt vọng), tự bạch trong tiểu thuyết (Mời dự án tử hình), tiểu thuyết trong tiểu thuyết
(Quà tặng). Đến các sáng tác bằng tiếng Anh, đặc biệt là Lolita, nguyên tắc kết cấu văn
bản búp bê mẹ-con được V.Nabokov vận dụng triệt để. Ở đây nhà văn đã xây dựng hai
bình diện kết cấu văn bản; các bình diện “bên ngoài” và “bên trong” của văn bản được
triển khai đồng bộ, chồng xếp lên nhau. Ta bắt gặp hai tác giả, hai người kể chuyện. Người
đầu tiên là tác giả của văn bản thứ nhất, “bên ngoài” – tức là chính V.Nabokov, người thứ
hai là tác giả của văn bản thứ hai, “bên trong” - tác giả cuốn nhật ký, Humbert Humbert.
Đến lượt mình, nhân vật Humbert Humbert lại đóng vai trò kép: vừa là người kể câu
chuyện của mình vừa là tác giả phóng chiếu những quy luật thẩm mỹ lên tác phẩm-lời tự
bạch của mình và lên bản thân đời sống hiện thực. Với sự chồng xếp, giao cắt hai (và
nhiều) văn bản trong mô hình kết cấu văn bản búp bê mẹ-con, tiểu thuyết Lolita đã tạo
nên một ma trận trò chơi có thể được khái quát thành 10 kiểu quan hệ “chơi” như
sau: tác giả - người kể chuyện, tác giả - văn bản 1, tác giả - văn bản 2, tác giả - độc
giả, người kể chuyện - văn bản 1, người kể chuyện - văn bản 2, người kể chuyện - độc

thuyết Tiếng cười trong bóng tối. Bản tiếng Nga đầu tiên của cuốn tiểu thuyết này (1932)
có nhan đề Камера обскура/Buồng tối của máy quay. Đến bản tiếng Anh (1960), ngoài
việc thay nhan đề bằng Laughter in the Dark /Tiếng cười trong bóng tối, đổi tên một loạt
nhân vật, V.Nabokov còn “nâng” tuổi của nhân vật Margot lên thành 18 (chắc hẳn để làm
“nhẹ” đi vấn đề ngoại tình vốn rất nhạy cảm trong văn hóa Mỹ thời đó!). Bên cạnh đó,
V.Nabokov còn dành nhiều thì giờ cho việc phổ biến văn hóa Nga sang cộng đồng Anh
ngữ, thông qua loạt bài giảng và chuyên luận về văn học cổ điển Nga. Đầu tiên trong số đó
phải kể đến cuốn Nikolai Gogol (1944). Cuốn sách thể hiện quan điểm độc đáo của
V.Nabokov coi “tác phẩm của Gogol cũng như toàn bộ nền văn học Nga vĩ đại là hiện
tượng ngôn ngữ chứ không phải hiện tượng tư tưởng”. Ông bác bỏ cách tiếp cận sáng tác
của Gogol theo kiểu “xã hội học”. Trong phần 2 của cuốn sách với tiêu đề Bóng ma nhà
nước viết về Quan thanh tra, V.Nabokov đã gọi các nhà phê bình là những “tâm hồn ngây
thơ”, họ “nhất định sẽ thấy trong vở kịch thái độ đả kích dữ dội nhằm vào chế độ tham
nhũng ở nước Nga quê mùa”. Trong khi đó, ông tập trung khảo sát và giải thích kết cấu vở
kịch không theo logic thông thường mà theo logic của “giấc mơ”. 15

Tiếp theo cuốn Nikolai Gogol, năm 1945 V.Nabokov công bố tuyển tập Ba nhà thơ
Nga gồm bản dịch thơ và giới thiệu tiểu sử của Pushkin, Lermontov và Tyutchev; năm
1958 hoàn thành bản dịch và viết lời giới thiệu chi tiết cho cuốn Một nhân vật của thời đại
chúng ta của M.Lermontov; năm 1960, dịch và chú giải Bài ca về binh đoàn Igor. Bản tiếng
Anh cuốn tiểu thuyết Evgenii Onegin (1964) gồm phần dịch thành văn xuôi và chú giải của
V.Nabokov. Phần chú giải tỉ mỉ của ông là sự hội tụ của không gian văn hóa Nga, sự tôn
vinh giá trị cao quý của tiếng Nga, giúp người đọc hình dung cuốn tiểu thuyết này như là
kết quả của sự gặp gỡ giữa văn hóa Nga và văn hóa phương Tây.
Với việc giảng dạy và biên khảo văn học Nga cổ điển, V.Nabokov đã trở thành một
“tuyên truyền viên” tích cực cho văn hóa Nga trong môi trường văn hóa Mỹ. Qua những
công việc trên cùng với hoạt động sáng tác, dịch thuật bằng tiếng Anh, V.Nabokov không

CHÚ THÍCH
(1) Nabokov's interview (03) Playboy (1964) (http://lib.ru/NABOKOW/Inter03.txt)
(2) Nabokov's interview (04), Life (1964) (http://lib.ru/NABOKOW/Inter04.txt)
(3) Xem, chẳng hạn: “Bilingualism”, Encyclopedia Britanica; Seth J. Schwartz and Jennifer B.
Unger, “Biculturalism and Context: What Is Biculturalism, and When Is It Adaptive?”, Human
Development, 2010 March; 53(1), pp.26–32; “Билингвизм”,Словари и Энциклопедии на
Академике (http://dic.academic.ru);
Попов В. А. (2000), “Бикультурализм”, Народы и религии мира.

Энциклопедия. М., C. 88
(4) Мельников Н. Г. (Сост.), "Классик без ретуши. Литературный мир о творчестве
Владимира Набокова:Критические отзывы, эссе, пародии",
Владимир Владимирович Набоков.Энциклопедическое собрание сочинений (2005), 1
2 томов текста, 266 иллюстраций (CD-Rom), ИДДК
(5) Владимир Набоков (1926), “Машенька”. Часть 3, Владимир Владимирович Набоков.
Энциклопедическое собрание сочинений (Sđd). Những trích dẫn tác phẩm tiếp theo
trong bài đều từ nguồn này
(6) Букс Н. Эшафот в хрустальном дворце: О русских романах В. Набокова. M., 1998, C.11,
61
(7) Левин Ю. “Заметки о "Машеньке" В.В.Набокова. Pro et Contra”,
Владимир Владимирович Набоков. Энциклопедическое собрание сочинений. (Sđd).
(8) Dẫn theo: Мулярчик А. (1997), “Русская проза В. Набокова”. М.,C.44
(9) Липовецкий М.(1997), “Русский постмодернизм. (Очерки исторической поэтики)”,
Монография. Екатеринбург, C. 53
(10) Анастасьев Н. (2002), Владимир Набоков. Одинокий король. М., C.147
(11) Владимир Набоков. “Лолита. Постскриптум к русскому изданию”, Владимир
Владимирович Набоков. Энциклопедическое собрание сочинений. (Sđd)
(12)
T


(http://magazines.russ.ru/kreschatik/2006/1/pe28-pr.html).
(16) Xem: John Barth (1984), “The Literature of Replenishment (Postmodernist Fiction)”, Friday
Book: Essays and Other Non-Fiction. London, The John Hopkins University Press (bản pdf
trên http://www.massey.ac.nz/massey/)
(17) Maurice Couturier (1993), “Nabokov in Postmodernist Land”, Critique: Studies in
Contemporary Fiction. Volume 34, Issue 4, 1993, pp.247-260 (bản pdf
trên http://www.tandfonline.com)
(18) Nabokov's interview (06) Wisconsin Studies (1967)
(http://lib.ru/NABOKOW/Inter06.txt_with-big- pictures.html)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status