TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
Tiểu luận Triết học
Đề tài:
VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT – Ý THỨC TRONG
ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN
NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: Thầy NGUYỄN NGỌC KHÁ
Thầy NGUYỄN CHƯƠNG NHIẾP
Học viên thực hiện: LÊ THỊ HẰNG NGA
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn
Tp.HCM, tháng 1 năm 2011
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
MỤC LỤC
2
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xu thế của thời đại hiện nay là sự phát triển: phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa
học. Bước chuyển biến của thời đại “bùng bổ thông tin” đã tác động mạnh mẽ tới giáo dục.
Nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới – giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại
hóa; giai đoạn chuyển mình từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và tri thức.
Yếu tố quyết định cho sự thành công của sự nghiệp ấy là con người, vì vậy phải chăm lo
phát triển nguồn lực con người. Nhà trường phải thay đổi nội dung và phương pháp giáo
dục để chuẩn bị cho xã hội một lớp người lao động mới, có những năng lực và phẩm chất
phù hợp với yêu cầu của đất nước trong thời kì mới.
Bên cạnh đó, xu thế phát triển, đổi mới phương pháp giáo dục của các nước trong khu
vực và trên thế giới buộc Việt Nam cũng phải đổi mới. Xu thế ấy đã được UNESCO đề
xướng với bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định
mình.
Ngữ văn là môn học đã được giảng dạy từ lâu ở trường phổ thông và có tác động mạnh
2. Lịch sử vấn đề
Ngay từ thời cổ đại, Socrat đã đưa ra một phương pháp dạy học hướng tới sự nâng đỡ
học sinh trong quá trình tự mình đi tìm kiến thức, gọi là phương pháp “bà đỡ”. Nhưng chỉ
đến thời hiện đại thì tính tích cực của phương pháp này mới phát triển mạnh. Thế kỉ XVII,
Komenxki, nhà giáo dục nổi tiếng đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy
cảm phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra các phương pháp cho các giáo
viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”. Tư tưởng này ngày càng được hoàn thiện và bổ
sung bởi những đóng góp của các nhà sư phạm, các nhà giáo dục. Quan điểm dạy học đã có
hệ thống và cơ sở cho nên trong thời gian qua, các nhà trường trên thế giới đều thực hiện
việc đổi mới. Ở Pháp, người ta đã tiến hành cải cách giáo dục (1935), chuyển sang cách dạy
định hướng và quan sát. Ở Nhật đã sử dụng các phương pháp giáo dục tích cực để đào tạo
con người hiện đại của họ. Ở Mỹ, nhà sư phạm nổi tiếng J. Deway đã đưa ra một phương
4
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
châm được xem là cách tân của khoa học sư phạm: “Học sinh là mặt trời xung quanh nó
quy tụ mọi phương tiện giáo dục”. Và ở nhà trường nước ta cũng đang tiếp cận xu hướng
này, tuy vậy do mới vận dụng nên những chuyển biến về phương pháp chỉ là khởi đầu.
Hơn 20 năm qua, gắn với những thành tựu chung của công cuộc đổi mới sâu sắc, toàn
diện trên đất nước ta, sự nghiệp giáo dục đào tạo đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ,
tạo nguồn động lực đưa nhà trường tiến kịp với yêu cầu của thời đại mới đặt ra. Sự chuyển
biến của quá trình giáo dục – đào tạo đã làm thay đổi nhận thức về mục đích, nội dung và
phương pháp dạy, đưa đến cuộc cách mạng thực sự về quan điểm giáo dục. Nguyên bộ
trưởng Bộ Giáo dục Trần Hồng Quân đã từng nói: “Cuộc cách mạng về phương pháp đang
diễn ra trên thế giới có phạm vi rất rộng bao gồm các phương pháp lựa chọn nội dung, các
phương pháp dạy học, các phương pháp sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại… và chính
cuộc cách mạng về phương pháp này sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục ở
thời đại mới”.
Trong bối cảnh đó, các môn học ở nhà trường đều có sự điều chỉnh, bổ sung phù hợp
với bước phát triển mới của chiến lược giáo dục, góp phần hoàn thiên mô hình nhân cách
học sinh, người chủ nhân tương lai của đất nước. Môn Văn, môn học giữ vị trí quan trọng
việc, người viết gặp một số khó khăn về tài liệu, về kinh nghiệm thực tế nên việc áp dụng
phương pháp mới vào bài giảng còn nhiều thiếu sót. Tuy nhiên, với ý nghĩ muốn góp một
phần nhỏ vào công việc đổi mới phương pháp đang rất cần thiết của ngành giáo dục hiện
nay, người viết có thêm cơ sở để tự tin vào công việc mình thực hiện.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tiểu luận một cách hệ thống, hoàn chỉnh và chính xác người viết đã sử
dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu, tham khảo tài liệu; Phương
pháp khảo sát, thực hành.
6
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
NỘI DUNG
Chương I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
I.1. VẬT CHẤT
Theo Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản
ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Vật chất là cái tồn tại khách quan cho dù cái tồn tại ấy con người có nhận thức được
hay chưa nhận thức được.
Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên
giác quan của con người.
Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất.
I.1. Ý THỨC
I.1.1. Bản chất của ý thức
Thứ nhất, ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ
óc con người. Là sự phản ánh chủ động, có chọn lọc gắn liền với nhu cầu, mục đích của con
người. Nghĩa là, không phải mọi sự tác động của thế giới khách quan vào trong bộ óc của
con người cũng hình thành nên ý thức. Là quá trình xâm nhập của lý trí vào hiện thực, làm
hiện thực bộc lộ các thuộc tính, trên cơ sở đó, con người nắm bắt được bản chất và qui luật
của hiện thực. Tính năng động sáng tạo của ý thức còn được biểu hiện dưới dạng ý tưởng. Ý
độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm chưa có sư truyền tin bên
trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí.
8
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
I.2. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
I.2.1. Vai trò quyết định của vật chất với ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng, vật chất có trước, ý thức có sau, vật
chất quyết định ý thức, còn ý thức là sự phản ánh vật chất vào trong bộ óc con người. Các
Mác đã chỉ ra rằng: “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất đã được chuyển vào bộ óc con người
và được cải biến trong đó”.
Biểu hiện của mối quan hệ này trong đời sống xã hội là tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội (lĩnh vực vật chất quyết định lĩnh vực tinh thần). Cụ thể là nhân tố vật chất (điều
kiện khách quan, quy luật khách quan) quyết định nhân tố tinh thần (tư tưởng, đường lối,
quan điểm, lý luận, đường lối chính sách, mục tiêu, phương pháp, biện pháp, giải pháp,…).
Vật chất quyết định ý thức thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: không có vật chất thì sẽ không có
ý thức (có thực mới vực được đạo, có bột mới gột nên hồ,…).
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức: nội dung của ý thức mang tính khách
quan, do thế giới khách quan quy định.
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức: bản chất sáng tạo và bản chất xã hội
của ý thức cũng phải dựa trên những tiền đề vật chất nhất định.
Thứ tư, vật chất quyết định phương thức tồn tại và kết cấu của ý thức.
I.2.2. Sự tác động trở lại của ý thức với vật chất
Ý thức có sự tác động trở lại với vật chất bởi vì: ý thức là ý thức của con người, gắn
liền với tính tích cực, năng động của con người (nhân tố chủ quan); ý thức là sự phản ánh
năng động sáng tạo của thế giới khách quan.
Nếu ý thức phản ánh phù hợp với vật chất thì nó sẽ thúc đẩy các quá trình vật chất phát
triển. Nếu ý thức phản ánh không phù hợp với vật chất thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của
các quá trình vật chất.
Tự bản thân ý thức không thể có sức mạnh để tác động vào vật chất mà phải thông
Thực tế khách quan trong hoạt động dạy học bao gồm một số yếu tố cơ bản sau: Điều
kiện kinh tế - xã hội ở địa phương nơi diễn ra hoạt động dạy học; cơ sở vật chất, trang thiết
bị, đồ dùng phục vụ cho hoạt động dạy học; trình độ tâm sinh lý của học sinh;…
Ở đây, người viết xin được tập trung làm rõ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng
dạy học và trình độ tâm sinh lý của học sinh, bởi đây là những yếu tố có ảnh hưởng quyết
định hơn cả đến việc đổi mới, lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp.
Cơ sở vật chất của trường học là tất cả các phương tiện vật chất được giáo viên và học
sinh sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình giáo dục, giảng dạy. Khác với
trước kia, nhà trường chỉ lấy việc dạy chữ làm mục đích chủ yếu, nhà trường chỉ là một hệ
thống phòng học. Ngày nay, mục đích đó đã thay đổi, tất yếu nhà trường phải có một cấu
trúc tương ứng. Trường lớp là bộ phận quan trọng của cơ sở vật chất nhà trường, đó là tập
hợp những tòa nhà, mặt bằng, không gian… nơi thực hiện quy trình công nghệ của hoạt
động giáo dục đào tạo.
Cái cốt lõi của cơ sở vật chất trường học chính là thiết bị dạy học. Nhận định về thiết
bị dạy học, V.P.Golov viết: “Phương tiện dạy học là một trong những điều kiện quan trọng
nhất để thực hiện nội dung giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh trong quá trình dạy
học”. Thiết bị dạy học là công cụ lao động của người giáo viên; là công cụ nhận thức của
11
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
học sinh như N.M.Sacmaep đã nói: “Đối với học sinh, thiết bị dạy học là công cụ mà nhờ đó
các em hiểu biết được thế giới xung quanh chúng”. Chính vì vậy, Nghị quyết 40/2000/QH10
của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới giáo dục phổ thông đã
nêu rõ: “Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực
hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học”.
Quy luật khách quan trong hoạt động dạy học bao gồm một số quy luật: quy luật nhận
thức, quy luật tâm lý, quy luật xã hội,…
Ta biết rằng, bản chất của quá trình dạy học là hoạt động nhận thức độc đáo của học
sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Lênin đã xác định con đường biện chứng của nhận
thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng lại đến thực
tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách
Tuy nhiên trong lịch sử giáo dục nước ta, vấn đề cơ sở vật chất kĩ thuật của công tác
giáo dục, mặc dù là không thể thiếu nhưng chưa được xem là một trong những vấn đề cơ
bản, ngang hàng với những vấn đề mục tiêu, nội dung, phương pháp,… Sở dĩ như vậy là vì
từ thời xa xưa, hễ có thầy có trò và một ít giấy bút để viết là có thể tổ chức được công việc
giáo dục; nội dung và phương pháp giáo dục là ở thầy, còn chỗ học có thể là trong nhà,
ngoài sân, một mái chùa…Về sau, với sự phát triển của xã hội, nhu cầu về cơ sở vật chất kĩ
thuật cho công tác giáo dục tăng lên không ngừng. Ngày nay, cơ sở vật chất kĩ thuật còn mở
ra những khả năng đưa đến những thay đổi lớn trong phương pháp giáo dục.
Bên cạnh đó, chúng ta đang sống trong thế giới tràn ngập thông tin, học sinh thời nay
dễ dàng tiếp cận với những nguồn tri thức mới, phong phú, ngoài trường học nên đặc điểm
tâm sinh lý cũng có nhiều thay đổi so với thế hệ học trò ngày trước. Điều này cũng có tác
động quan trọng đến việc đổi mới và lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp. Tất cả đó
đều thể hiện rõ vai trò quyết định của nhân tố vật chất đến nhân tố ý thức trong hoạt động
dạy học.
II.1.2.1. Nhà trường phong kiến
Dưới chế độ phong kiến trì trệ hàng ngàn năm, thực tại khách quan và quy luật khách
quan không tác động nhiều đến phương pháp dạy học, hình mẫu lớp học phổ biến là thầy
13
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
đồ, cái tráp, con roi, chiếc phản (hay chiếu); học sinh nằm bò ra viết hay ngồi ê a theo nhịp
roi của thầy.
Mục tiêu của giáo dục
phong kiến là nhằm đào
tạo lớp sĩ phu theo lý
tưởng Nho học để trở
thành những người làm
chính sự phục vụ cho
giềng mối đất nước.
Văn chương thời phong
kiến lấy tư tưởng Nho
văn vần nhằm phát triển óc quan sát và khả năng phán xét của học sinh. Bên cạnh đó học
sinh còn được học về từ ngữ, ngữ pháp nhằm rèn luyện cho học sinh cách sử dụng câu, chữ
trong khi nói, viết. Khi học hai năm cuối của bậc cao đẳng tiểu học, học sinh học những bài
văn khó hơn như: những bài văn nghị luận, trữ tình, anh hùng ca,… đồng thời làm quen với
khuynh hướng văn học ở các giai đoạn.
Trung học: vẫn trên cơ sở dạy học ở bậc cao đẳng tiểu học nhưng được mở rộng về
chương trình, thể loại môn học… Công trình biên soạn lần đầu bằng tiếng Việt đề cập đến
công việc của giảng văn là cuốn “Quốc văn trích diễm” của Dương Quảng Hàm (1928). Nội
dung sách gồm những kiến thức tổng quát về văn học sử, thể loại văn học, tác phẩm văn học
được tuyển chọn trong chương trình… với cấu trúc bài giảng theo trình tự:
1. Giới thiệu tiểu sử tác giả
2. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
3. Xuất xứ, đại ý, bố cục
4. Giải nghĩa về tiếng, ý tưởng và pháp văn
5. Xác định giá trị tác phẩm
6. Kết luận.
Công việc chuẩn bị của thầy và trò trước khi lên lớp:
1. Xem xét chú thích và tra cứu chữ khó, điển tích
15
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
2. Trả lời câu hỏi sách giáo khoa về ý tưởng và lời văn của tác phẩm văn chương.
Mục tiêu cao nhất của phương pháp này là “chớ nên biện nạn đến nỗi nói sai hoặc nói
quá nguyên ý tưởng của tác giả”. Lối giảng văn này độc tôn trong nhà trường Pháp – Việt
và còn ảnh hưởng đến ngày nay.
II.1.2.3. Nhà trường thời kì sau Cách mạng tháng Tám
Nhà trường Việt Nam kể từ sau Cách mạng tháng Tám đã có những thay đổi về mục
đích, nội dung và phương pháp giáo dục.
a) Giai đoạn 1945-1975
Đến Cách mạng tháng Tám, cùng với sự đổi đời của dân tộc, một nền văn hóa mới
được xây dựng trên đất nước ta. Nền giáo dục thực dân phong kiến từng bước được thay thế
năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Cùng với sự phát triển của đất nước, cơ sở vật chất, trường lớp ở các địa phương trong
cả nước cũng có nhiều thay đổi khác trước, tuy nhiên vẫn còn tình trạng không đồng đều
giữa các địa phương nên việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới
phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng ở các địa phương cụ thể, các trường cụ thể
cũng khác nhau.
Bên cạnh đó, đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT không thể không chú
trọng đến đặc điểm trí tuệ và lối sống của lứa tuổi học sinh từ 16 đến 18 này. Họ là thế hệ
thanh niên có hoài bão, được nuôi dưỡng và phát triển khá toàn diện về thể chất và tinh
thần. Thế hệ học sinh THPT có vốn văn hóa phong phú, có đầu óc phê phán và biết gắn
cuộc sống cá nhân với tương lai và xu thế phát triển của đất nước và thời đại. Họ là những
người trẻ tuổi có ý chí và muốn hòa mình vào thử thách. Đó là những điều kiện tốt thuộc
nhân tố “vật chất” để thực hiện việc đổi mới phương pháp lên lớp của giáo viên tương thích
với cách học của học sinh THPT.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng phương pháp dạy học Văn, chúng ta mắc phải
một số khó khăn hạn chế.
Một là, thực tế cơ sở vật chất của nhiều trường phổ thông hiện nay ở nước ta còn
nghèo nàn, thiếu thốn, không thể áp dụng “phương pháp dạy học mới” với những máy vi
tính, Projector… rất hiện đại nhưng cũng rất tốn kém. Bên cạnh đó, thực tế sĩ số lớp học
bình quân ở các trường phổ thông ít gì cũng từ 35 đến 45 học sinh nên giáo viên không thể
17
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
tổ chức thuyết trình hay seminar theo yêu cầu của “phương pháp dạy học mới” được. Giáo
viên không thể nào kiểm soát nổi buổi thuyết trình hay seminar với mấy chục học sinh một
cách toàn diện và chu đáo (đó là chưa nói đến yêu cầu của giáo viên phổ thông là phải tìm
hiểu nhằm phân loại học sinh yếu, kém để từ đó có phương án bồi dưỡng kèm cặp thêm cho
các em).
Hai là, có một thực tế mà giáo viên dạy văn ở phổ thông ai cũng sợ là nếu áp dụng
“phương pháp dạy học mới” sẽ bị “cháy giáo án” do áp lực thời gian và chương trình dạy.
Để tổ chức một buổi thuyết trình hay seminar theo yêu cầu đổi mới là dạy học tương tác, lấy
nên sự thay đổi về chương trình và phương pháp cũng sẽ làm thay đổi thực tế khách quan và
quy luật khách quan. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, người viết xin chỉ tập trung vào vai
trò của quyết định của nhân tố vật chất với nhân tố ý thức trong việc định hướng đổi mới
phương pháp, lựa chọn phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT.
19
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
Chương III. ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT BÌNH
PHÚ, Q.6, TP HCM
Việc thay đổi hay triển khai, áp dụng vào thực tế dạy học một “phương pháp mới” nào
đó theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trước hết, phải nhìn thẳng vào thực tế và
hoàn cảnh mỗi trường, mỗi vùng, miền… xem có thể áp dụng “phương pháp mới” được hay
không? Như đã nói, thực tế hiện nay ở nước ta, ngoài một số trường đại học trọng điểm có
cơ sở vật chất tương đối hiện đại (có thể áp dụng “phương pháp dạy học mới” nào đó từ mô
hình của các nước có nền giáo dục tiên tiến) thì hầu hết trường và lớp học của chúng ta đều
rất khó khăn, thiếu thốn. Việc các “nhà phương pháp” cứ máy móc yêu cầu giáo viên phải
áp dụng “phương pháp mới” vào dạy học văn như hiện nay là rất không nên. Học hỏi, tiếp
thu những thành tựu, phương pháp dạy học của bạn bè thế giới là cần thiết nhưng không nên
rập khuôn theo họ. Không thể nói rằng nước ngoài họ làm vậy, chúng ta cứ áp dụng theo là
sẽ thành công. Tại sao chúng ta không nhìn thẳng vào một thực tế là đất nước ta còn nghèo,
cơ sở vật chất, trường lớp cho con em chúng ta học còn thiếu thốn mà đề ra một phương
pháp dạy học nào đó cho phù hợp? Sao chúng ta không học theo “phương pháp” của cha
ông ta ngày xưa đã dạy là “liệu cơm gắp mắm” hay “nhập gia tùy tục”?
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò quyết định của vật chất với
ý thức, nhưng để nghiên cứu đầy đủ về mối quan hệ này trên phương diện rộng cần nhiều có
sự nghiên cứu công phu và khoa học, ở đây, người viết chỉ tìm hiểu sự tác động của nhân tố
vật chất đến việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở một trường THPT (trường
THPT Bình Phú, Q.6, Tp.HCM) mà người viết đang tham gia giảng dạy.
1. NHÂN TỐ VẬT CHẤT
1. Thực tế khách quan
Phòng vi tính 2 51.8m
2
7.2m × 7.2m Dạy Tin học
Phòng nghe nhìn 2 51.8m
2
7.2m × 7.2m Thao giảng, dạy học
Hội trường 1 300m
2
17.2m × 17.2m Họp, hội thảo
Thư viện 1 181.3m
2
13.4m ×13.4m Kho sách, đọc sách
Trong đó, nhóm thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
gồm có các thiết bị nghe nhìn, máy chiếu được lắp đặt tại 2 phòng nghe nhìn của trường
THPT Bình Phú. Nếu giáo viên muốn sử dụng những thiết bị này phải đăng kí trước một
tuần, và đến giờ học phải di chuyển cả lớp đến một trong hai phòng này, nên nhìn chung,
việc đổi mới phương pháp dạy học Văn còn nhiều khó khăn khi áp dụng thiết bị dạy học…
Trình độ, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh:
Học sinh có những đặc điểm của vùng ven: mộc mạc, chân chất, sớm tiếp thu cái mới
và dễ bị tiêm nhiễm thói hư tật xấu.
Trình độ học vấn chưa thể so sánh với vùng nội thành như quận 1, quận 3… nhưng
đang có chiều hướng tiến triển nhanh về số lượng và chất lượng.
21
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
2. Quy luật khách quan
Nhóm các quy luật khách quan tác động đến hoạt động dạy học ở trường Bình Phú
cũng không nằm ngoài những quy luật khách quan chi phối hoạt động dạy học nói chung.
Bản thân các quy luật phát huy tác dụng không phụ thuộc vào ý muốn con người, không
phải vì lợi ích của con người. Nhưng con người lại có thể vận dụng các quy luật đó để phục
vụ lợi ích của mình. Vận dụng quy luật là trên cơ sở hiểu biết quy luật, hoặc không hành
Mục tiêu của dạy học Ngữ văn ngày nay không chỉ nhằm mục đích truyền thụ một
khối lượng kiến thức, rèn luyện một số kĩ năng, giáo dục một số phẩm chất bằng con đường
áp đặt từ giáo viên và học sinh chỉ là một con người thụ động. Dạy học Ngữ văn bây giờ
nhằm mục tiêu cao nhất là giúp học sinh có thể chủ động tự học dưới sự hướng dẫn của giáo
viên.
Đổi mới dạy học phải gắn liền với đổi mới nội dung. Nội dung dạy học môn Ngữ văn
là nhằm trau dồi năng lực văn kể từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường cho tới lúc ra đời phải
biết xoay xở “lúc phải nói, phải viết thì đó là trước những cảnh ngộ và sự cần thiết diễn tả
những điều xa lạ vô cùng với sách vở , nhà trường”.
2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THPT Bình
Phú
Vấn đề phương pháp dạy học nổi lên như một yêu cầu cấp thiết bởi “dạy như cũ thì
không những việc dạy Văn không hay, mà sự đào tạo cũng không hay” (Phạm Văn Đồng).
Dạy học Văn phải là một quá trình liên kết nhiều khâu: dạy cách viết cách nói, dạy đọc văn,
cảm thụ văn để cuối cùng hiểu cái kì diệu của văn học “là công cụ để dạy những cái đúng,
cái hay, cái đẹp”.
Đặc điểm của môn Ngữ văn ở trường THPT là sự kết hợp của ba phân môn: Đọc văn,
tiếng Việt và Làm văn. Với mỗi phân môn lại có nhưng phương pháp giảng dạy đặc trưng
riêng. Ở đây, người viết chỉ đề cập đến những phương pháp chung nhất của cả ba phân môn
này.
23
Tiểu luận Triết học Lê Thị Hằng Nga
Ta biết rằng phương pháp mới không phải là cái gì xa lạ, mà chính là biết phối hợp tốt
giữa phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại. Đó là phương pháp tổng hợp bởi
không có phương pháp vạn năng dù đó là phương pháp tốt nhất.
1. Phương pháp giảng dạy truyền thống và sử dụng thiết bị
Với điều kiện và tình hình học sinh của trường hiện nay, phương pháp giảng dạy
truyền thống (phương pháp thuyết giảng) trong đó người giáo viên vẫn đóng vai trò chủ đạo
truyền bá kiến thức, kết hợp với sử dụng thiết bị giảng dạy hiện đại (giáo án điện tử). Việc
sử dụng bài giảng điện tử với những hình ảnh, âm thanh sinh động làm cho người học dễ